You are hereCĐTT 006

CĐTT 006


By admin - Posted on 09 November 2008

 TÚC TRƯNG

Túc Trưng ở đâu ?
Tôi cũng không biết Túc Trưng ở đâu, và dường như cũng chưa nghe nói đến. Ngày tôi lên đường rời Sàigòn để đi Túc Trưng, Mục sư Phan văn Tranh - Chủ nhiệm Địa Hạt Đông Nam Bộ, đã cho tôi tiền thuê xe chở hành lý. Lòng tôi cảm kích sự yêu thương của người lãnh đạo già như người cha.

Chuyến xe chạy ngày 22 tháng 6 năm 1972, từ 10 giờ sáng đến mãi bốn giờ chiều mới tới Túc Trưng. Xe ngừng bên đường, ngay cây số 88, nghĩa là cách Sàigòn 88 cây số. Trời chiều tháng 6 u u muốn mưa, cảnh vật chung quanh có vẻ hoang vắng. Từ dưới đường nhìn vào thì nhà thờ nằm trên một mô đất hơi cao, trong một khuông viên rộng, mái tôn vách ván quét vôi trắng. Bên trái đang xây dựng một dãy hai phòng học, bên phải là một dãy phòng mái tôn vách ván cũ kỹ, góc trong là một tư thất vách gạch mái tôn đã nhuốm rêu phong.

Một người từ tư thất bước ra tiếp tôi, ông tự giới thiệu là Phó Thư Ký của Hội Thánh, ông bảo người lái xe chạy vòng ra phía sau để vào sân nhà thờ. Người lái xe không chịu với lý do sợ Việt Cộng. Người lái xe nói với tôi khi thấy tôi ngạc nhiên, "Tại Thầy mới đến không biết, ở đây ghê lắm, chiều chiều là mấy ổng (Việt cộng) hay ra lắm".

Sau một hồi thuyết phục, nhờ có mấy con cái Chúa người Thượng lên xe hướng dẫn, người lái xe bằng lòng chạy chậm chậm vòng vào phía sân nhà thờ. Lập tức tin tức về Chủ tọa mới của Hội Thánh lan ra, rất đông tín đồ người Thượng vây đặc tư thất, phút chốc tất cả đồ đạc của gia đình tôi trên xe đều được đưa vào tư thất. Người nói, người hỏi, cứ thế đến lúc trời sập tối, tôi nhận ra ở Túc Trưng không có điện, không có nước máy như nhà ở Sàigòn của chúng tôi.

Đầu tháng 7 năm 1972, Hội Thánh khánh thành hai phòng học mới, xây dựng kiên cố với sự trợ giúp của Hội Hoàn Cầu Khải Tượng (World Vision)

XÂY NHÀ THỜ

Điều làm tôi chú ý là nhà thờ bằng gỗ cất lên từ năm 1966, tức là từ sáu năm trước, lúc con cái Chúa thuộc hai Ấp Đồng Xoài và Đức Thắng, trong đó hầu hết là người Thượng dân tộc Chrau-Jro, ở trong rừng thiếu an ninh, được Chánh quyền đưa ra ven Quốc lộ 20 nầy. Hai chân vách nhà thờ đã bung ra, tôi biết rằng đã hư mục nhiều lắm. Tôi thử lấy tay ấn vào vách, khám phá ra vách gỗ đã bị mối ăn rỗng ruột rồi.

Chúa nhật ngày 21 thán 8 năm 1972, tôi họp Ban Trị Sự Hội Thánh để đề nghị xây dựng nhà thờ. Môt cuộc bàn cãi sôi nổi, đa số đồng ý, chỉ một mình ông Thư Ký Hội Thánh không đồng ý. Ông Thư ký Hội Thánh nói, "Tại Thầy mới về đây, nên không biết là Hội Thánh Túc Trưng chưa bao giờ quyên được quá mười ngàn đồng, nên không thể xây nhà thờ được đâu". Tôi nhượng bộ bằng cách giục hoãn cầu mưu, yêu cầu Ban Trị Sự Hội Thánh chấp thuận cho xây lại mặt gió nhà thờ thôi với kinh phí dự trù là một trăm ngàn đồng. Với một phiếu chống, Ban Trị Sự Hội Thánh thông qua.

Chúa nhật 28 tháng 8 năm 1972, Ban Trị Sự thông báo sáng thứ hai khởi công tháo dỡ mặt gió nhà thờ. Sau buổi cầu nguyện hằng ngày từ bốn đến năm giờ sáng, tôi thấy người đầu tiên vác cây xà-beng đến ngồi chờ làm công tác tháo dỡ, người đó là ông Thư Ký Hội Thánh. Cảm ơn Chúa, dù ông không đồng ý, nhưng vẫn sẵn sàng thuận phục theo ý kiến đa số - một tinh thần hiệp một phục vụ Chúa đáng khen như vậy kéo dài suốt chín năm chức vụ của tôi tại Túc Trưng.

Khi chúng tôi đào đất lên, tháo dỡ vách ván, bắt được một con mối chúa có chiếc bụng dài sáu đốt, nghĩa là đàn mối đã có mặt tại nhà thờ sáu năm qua. Tất cả những phần bằng gỗ của nhà thờ đều bị mối ăn rỗng ruột. Cảm ơn Chúa đã gìn giữ con cái Chúa bình an qua bao nhiêu năm, Chúa không cho nhà thờ bị sập, dù là nơi có nhiều giông to gió lớn.

Đức Chúa Trời đã làm phép lạ cho công việc xây dựng nhà thờ. Vợ chồng tôi về Sàigòn để tìm cách lạc quyên xây dựng, chúng tôi tạm ở nhà của người anh thứ chín của Nhà tôi. Buổi chiều, anh ấy đi làm về và hỏi chúng tôi: Cô Dượng đi đâu vậy ? Tôi cho anh biết chúng tôi đi lạc quyên xây mặt gió nhà thờ ở Túc Trưng. Anh hỏi dự trù bao nhiêu ? Tôi cho biết là khoảng một trăm ngàn đồng. Anh nói: Sáng mai, tám giờ theo anh ra Ngân Hàng Tín Nghĩa lấy chín mươi chín ngàn đồng, anh giữ một ngàn để giữ số tài khoản. Tôi còn biết nói gì hơn là Ha-lê-lu-gia cảm tạ Chúa !

Một phép lạ nữa. Bà Gia của tôi (Tức mẹ vợ của tôi nhũ danh Đinh thị Đức) trước đây có 100 mẫu ruộng, hiện còn trên năm mươi mẫu tại quê nhà Hồng ngư, là đất của Ba Mẹ của Nhà tôi. Năm 1970, số ruộng nầy bị truất hữu theo Luật Người Cày Có Ruộng của Chánh phủ. Nhưng suốt hai năm 1970 đến 1972, Bà Gia của tôi hiệp với Nhóm Điền Chủ kiện Chánh phủ vi hiến khi ra luật truất hữu ruộng của người dân, do đó Bà Gia tôi không chịu lãnh tiền bồi thường truất hữu. Cảm ơn Chúa, đến khi Hội Thánh tại Túc Trưng xây nhà thờ, Bà Gia tôi liền rút tiền ra, đó là một số tiền lớn do giá trị ruộng là ruộng hạng nhất, cộng với tiền lời hai năm. Sau khi chia cho các con, Bà Gia tôi đem tất cả phần tiền của bà và của vợ chồng tôi dâng hết cho việc xây dựng nhà thờ, trang trải được hai phần ba chi phí. Chúa cho nhà thờ được hoàn tất không phải chỉ mặt gió, mà xây lại toàn bộ nhà thờ rộng hơn, dài hơn, bằng vật liệu kiên cố, với một tháp chuông cao 12 mét, nhà thờ dài 21 mét, ngang 10 mét (so với nhà thờ cũ bằng gỗ là 6m x 16m). Con cái Chúa trong Hội Thánh đã tích cực góp công chở đá hộc về làm nền, tự tráng nền, đào móng, tự kiếm cây tốt trong rừng rồi cho xe bò chở về mướn cưa làm kèo, đòn tay, băng ghế… Cuối cùng một Lễ Khánh Thành và Cung Hiến Nhà Thờ cho Chúa được cử hành vào ngày 6 tháng 12 năm 1972, Hội Thánh không bị thiếu một món nợ nào cả. Ha-lê-lu-gia ! Cảm Tạ Chúa !

Lần đầu tiên Hội Thánh tại Túc Trưng có một Lễ Khánh Thành và Cung Hiến Nhà thờ thật đông quan khách của Giáo hội và Chánh quyền, cùng đại diện các Tôn Giáo bạn. Vị Linh mục Chánh xứ của Giáo hội Công Giáo Lamã tại Túc Trưng đã phát biểu khi đến dự Lễ: Tôi (vị Linh mục) đã ở Túc Trưng mười lăm năm qua. Nói thật mỗi lần đi ngang nhà thờ Tin Lành, tôi khinh dễ lắm vì nghĩ mấy người Tin Lành nầy sao để nhà thờ Chúa hư mục mà không lo. Khi thấy họ xây dựng, tôi lại nghĩ, làm sao mà mấy người Thượng nầy làm nổi. Bây giờ thấy Mục sư và anh em làm xong, tôi nghĩ rằng phúc của Chúa lớn lắm.

Nước mắt của toàn Ban Trị Sự Hội Thánh và nhất là của ông Thư Ký Hội Thánh - người có bổn phận đọc tờ cung hiến nhà thờ cho Chúa đã không kềm chế được tiếng khóc vì quá cảm động. Vinh hiển thay Danh Chúa ! Ha-lê-lu-gia !

NỔ LỰU ĐẠN

Nhà thờ được khánh thành và Cung hiến cho Chúa ngày 6 tháng 12 năm 1972 xong, thì ngày hôm sau tôi bắt đầu tập hát cho Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus giáng sanh.

Tối ngày 16 tháng 12 năm 1972, tôi đang đứng giữa nhà thờ, trước mặt tôi là Ban Thanh niên đang đứng xếp hàng trên tòa giảng tập hát bài Trường ca Ha-lê-lu-gia. Sau lưng tôi về phía cửa nhà thờ có rất đông các em Thiếu nhi đang ngồi nghe tôi tập cho các Thanh niên hát. Thình lình tôi nghe tiếng kính cửa sổ nhà thờ phía bên trái sau lưng tôi bị bể, đồng thời có vật gì lăn vào tường. Tôi nghĩ là có ai đó ném đá vào các em Thiếu nhi, nên xoay người lại và đưa tay đang dùng đánh nhịp gọi các em thiếu nhi ngồi lên phía trên. Bất ngờ một tiếng nổ chát chúa bùng lên phía các em, cánh tay phải của tôi vừa đưa ra lập tức bị co rút lại, máu tuôn ra. Tôi dùng tay trái vuốt mạnh tay phải xuống, trong lúc đó bao nhiêu là tiếng la hét đầy sợ hãi của các em thiếu nhi nổi lên, tôi nhìn thấy một đám đông các em ùa chạy lên tôi. Tôi chợt nghĩ: Pháo kích!? Tôi hô hào các em chạy vào tư thất vì nhớ rằng nơi đó có một hầm trú ẩn mà Hội Thánh đã làm lâu lắm rồi. Khi các em thiếu nhi và Thanh niên đã chạy ra khỏi nhà thờ gần hết, thì tôi cảm thấy không đứng được nữa vì máu chảy quá nhiều, và tôi loáng thoáng có ai đó đỡ tôi vào tư thất. Trong lúc mơ màng, tôi nghe nói người ném lựu đạn vào nhà thờ, một em thiếu nhi chết tại chỗ quả lựu đạn nổ; một em gái bồng đứa em chạy đến tòa giảng thì gục chết trên đó, đứa bé được chị bồng thì bình an, một số tám hay chín em thiếu nhi bị thương. Cảm ơn Chúa, nhờ những chiếc băng ghế nhà thờ đã cản bớt mảnh đạn, một số mảnh đạn bắn vọt lên nóc nhà thờ làm lủng đầy mái tôn. Tay tôi bị hai mảnh ghim vào, một ở cườm tay và một ở bắp tay. Mảnh ở cườm tay làm bàn tay của tôi bị tê không cử động được một thời gian khá lâu. Khi tôi viết những lời nầy, hai mảnh đạn đó vẫn còn trong cánh tay tôi như một chứng tích và thường làm bàn tay của tôi bị run.

(Cũng mùa Lễ Giáng sanh nầy, vào đêm 24 tháng 12 năm 1972, một quả lựu đạn đã ném vào những người dự Lễ nơi sân nhà thờ tại Song Phú (Ba Càng - Vĩnh long), làm bà Mục sư Lý văn Đáng đui một mắt).

Tiếp theo biến cố nầy, đang khi tôi phải nằm Bịnh viện điều trị, những tình huống đầy khó khăn xảy ra, vì Chánh quyền lúc ấy muốn dùng xác hai em thiếu nhi để tổ chức biểu tình chống Cộng sản trong sân nhà thờ. Qui định của Hội Thánh Tin Lành Việt-nam không chịu liên hệ chính trị, nên Nhà tôi và Ban trị Sự Hội Thánh cố hết sức tìm cách tránh né sự việc.

Trước tình thế đó, ba vị Lãnh đạo cao cấp của Giáo hội gồm Mục sư Đoàn văn Miêng - Hội Trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt-nam, Mục sư Phan văn Tranh - Chủ Nhiệm Địa Hạt Đông Nam Bộ, và Mục sư Nguyễn văn Quan - Thủ quỹ Địa Hạt Đông Nam Bộ, đã đến thăm tôi tại Bịnh viện với đề nghị cho phép tôi được thuyên chuyển về Sàigòn. Nằm trong Bịnh viện, trong lúc Nhà tôi với hai con nhỏ phải cùng Ban Trị Sự Hội Thánh lo tiếp khách Chánh quyền, báo chí, truyền thanh truyền hình, vừa phải lo cho các em thiếu nhi bị thương, lo an táng các em bị tử thương, vừa lo làm sao để không bị lôi cuốn vào vấn đề chính trị, chốc chốc Nhà tôi và Ban Trị Sự Hội Thánh lại cho người chạy xe gắn máy đến hỏi ý kiến thế nầy thế khác…

Cuối cùng biết không thể nào nằm trị thương trong Bịnh viện, tôi phải nhờ một con cái Chúa chở tôi về nhà thờ để góp ý khi cần, đỡ mất thì giờ. Chúng tôi phải tìm cách cho an táng xác hai em thiếu nhi sớm hơn giờ thông báo. Tôi phải đích thân yêu cầu đừng sử dụng sân nhà thờ tổ chức biểu tình, do đó, Chánh quyền tổ chức mít tinh trên quốc lộ trước nhà thờ. Tôi cũng phải yêu cầu thả người bị tình nghi gây tội ác (không biết có phải người nầy đã ném lựu đạn không?). Tôi phải gởi thư xin Hội Hồng Thập Tự Tỉnh Long Khánh giúp một số vật chất an ủi những gia đình bị nạn …

Cảm ơn Chúa cho mọi sự lần lần ổn định, và Hội Thánh đã có một Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus giáng sanh vui vẻ trong tuần lễ sau đó.

XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT

Cảm ơn Chúa, dù con cái Chúa trong Hội Thánh tại Túc Trưng rất nghèo - một cái nghèo có thể mượn những câu vè ngày xưa để diễn tả:

Nghèo xơ nghèo xác
Nghèo lác xương mông,
Nghèo không gạo nấu,
Nghèo thấu Ngọc Hoàng
Nghèo làng con mắt,
Nghèo thắt hầu bao,
Nghèo lao vô bụi,
Nghèo lũi vô bờ…

Cái nghèo của Thượng nói chung, hay của đa số tín đồ nói riêng (trên 80% tín đồ là người Thượng dân tộc Chrau), có nhiều nguyên nhân như:

* Do họ chỉ làm rẫy, năng suất thu hoạch rất thấp, không đủ ăn.

* Do chỉ làm rẫy, không có nghề phụ trong thời gian nông nhàn, nên không thu nhập gì ngoài vụ rẫy.

* Họ bị những người Kinh ở những nơi gần đó bóc lột qua những cách mua bán gian lận, hoặc cho vay nặng lãi.

* Đất đai tốt đã bị dụ dỗ bán cho người Kinh, đất còn lại hầu hết là xấu, thiếu phân bón.

Mỗi năm vào khoảng tháng bảy, tháng tám, là những tháng người Thượng tại đây đói nhiều nhất. Một số người phải vào rừng, vào rẫy, hái lá cây chặt chuối rừng, chuối non, đôi khi đi săn, hoặc bắt cá nơi suối, vũng trong rừng, tìm bất cứ thứ gì ăn được.

Điều đáng nói là dù nghèo quá đỗi như vậy, nhưng con cái Chúa trong Hội Thánh tại Túc Trưng mỗi năm rất trung tín dâng hiến một phần mười cho Chúa. Họ đã thực hành lời Chúa dạy dâng một phần mười từ ngày Hội Thánh được thành lập năm 1951, do Mục sư Nguyễn Hậu Lương lúc bấy giờ còn là Truyền giáo, đã dạy họ.

Cảm ơn Chúa, Chúa vẫn yêu thương tiếp trợ cho Hội Thánh xây dựng gần hoàn chỉnh cơ sở của Hội Thánh:

§         Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1972, Hội Thánh xây xong một dãy phòng học bằng vật liệu kiên cố, và một nhà thờ ngang 10 mét, dài 20 mét lọt lòng với băng ghế hoàn toàn bằng gỗ tốt.

§         Năm 1973, Chúa cho Hội Thánh tiếp tục xây dựng một dãy phòng học và một văn phòng cho Trường học của Hội Thánh bằng vật liệu kiên cố. Đồng thời Hội Thánh tái lập Hội Thánh tại khu vực chợ Túc Trưng, gọi là Hội Thánh Cây Xăng, xây được một nhà thờ vách gạch, mái tôn ngang 6 mét, dài 16 mét với một tư thất khang trang.

§         Năm 1974, Hội Thánh xây thêm hai phòng học phía sau nhà thờ, mua thêm một phần đất bên cạnh để khuôn viên nhà thờ được khoảng đất vuông trọn vẹn.

Trong chương trình dự trù cho năm 1975, Hội Thánh sẽ xây thêm ba phòng học nữa, để nâng cấp Trường của Hội Thánh lên cấp ba trở thành một Trường Bán Công, kèm theo Kế Hoạch mở Tín Dụng Nông Nghiệp để lần lần tiến tới tự túc không phụ thuộc vào Hội Hoàn Cầu Khải Tượng nữa (Kế Hoạch Tín Dụng nầy được Địa Hạt và Tổng Liên Hội chấp thuận, và cũng được Ban Giám Đốc Hội Hoàn Cầu Khải Tượng chấp thuận thí nghiệm năm 1975). Chúng tôi cũng chuẩn bị xây lại tư thất vì đã quá cũ kỹ, hư dột. Sau đó sẽ xây hàng rào chung quanh khuôn viên nhà thờ trong đó có vườn chơi cho lớp mẫu giáo. Vật liệu đã được đổ xuống gồm 24 ngàn viên gạch, sắt … , nhưng biến cố 1975 đã làm công việc ngưng lại.

Trước tình hình nghèo đói của con cái Chúa, tôi rất muốn cải thiện kinh tế gia đình cho họ, một trong những cố gắng là tôi làm đơn xin Cơ Quan Cứu Tế Tin Lành Á Châu (ACS) giúp cho Hội Thánh một máy cày để giúp cày đất cho con cái Chúa nghèo, vừa gây quỹ tự túc cho Hội Thánh. Hành trình xin chiếc máy cày nầy thật đầy gian khổ, tôi phải lên xuống Túc Trưng - Sàigòn không biết bao nhiêu lần, chi phí hoàn toàn chính tôi tự túc, với quyết tâm xin cho được.

Một ngày, tôi nhận được tin báo xuống gặp Mục sư Trưởng Ban Cưu Tế Tin Lành Việt-nam gấp để bổ túc hồ sơ. Đến nơi, tôi được Mục sư Trưởng Ban trả lại hồ sơ và yêu cầu tôi làm theo một hồ sơ mẫu của một Hội Thánh khác trên cao nguyên đã làm và đã được chấp thuận. Xem qua, tôi từ chối vì biết đó là một hồ sơ không thực tế, chỉ có trên giấy tờ. Mục sư Trưởng Ban công nhận điều tôi nói, nhưng bảo tôi rằng muốn được giúp thì nguyên tắc phải làm hồ sơ như vậy, không ai kiểm tra đâu mà sợ. Tôi cương quyết không chịu làm điều không có thật. Cảm ơn Chúa, khi thấy tôi tỏ dấu giận cầm hồ sơ đứng lên định ra về, Mục sư Trưởng Ban lại nhượng bộ và bảo tôi để cứu xét lại hồ sơ của tôi.

Một tin vui đến là Ủy Ban Cứu Tế Tin Lành Việt-nam chấp thuận đơn xin của tôi. Tôi và hai ông Chấp sự trong Hội Thánh lại xuống Sàigòn để nhận tiền mua máy cày. Lần nầy lại gặp gian nan nữa. Ông Thư Ký Ủy Ban cho tôi biết là Hội Thánh tại Túc Trưng được giúp hai triệu, trong khi đơn của chúng tôi xin giúp ba triệu. Tôi hỏi ông ấy là Cơ Quan Cứu Tế Tin lành Á Châu giúp chúng tôi bằng tiền Việt-nam hay bằng Mỹ kim. Ông ấy trả lời: "Dĩ nhiên là bằng Mỹ kim". Chúng tôi tính ra là chúng tôi phải được giúp hai triệu năm trăm ngàn đồng tiền Việt-nam lúc bấy giờ, không phải hai triệu. Thế là tranh cãi một lần nữa, và Chúa cho chúng tôi nhận hai triệu năm trăm ngàn.

Tôi cũng nhờ ơn Chúa tìm cách tạo cho con cái Chúa, nhất là các Thanh niên có một nghề phụ. Một con cái Chúa là ông Đào Thiện Soạn (Đào Thiện Loan) giới thiệu cho tôi một Cụ Già biết nghề đan ghế mây và sợi nylon. Tội nghiệp ông cụ chỉ cần có cơm ăn không cần tiền công. Còn các Thanh niên người Thượng thì chỉ thích làm rẫy mà không thích ngồi một chỗ đan ghế. Tôi học được một điều về bản tánh của người Thượng là họ không thích công việc trong nhà, dù công việc nhẹ nhàng; họ chỉ thích công việc ngoài đồng ngoài rẫy, dù đó là công việc nặng nhọc phải dãi nắng dầm mưa. Có một lần tôi vận động một ân nhân nước ngoài bằng lòng giúp một thiếu niên người Thượng tín đồ học nghề, vì em nầy không muốn học văn hóa nữa. Nếu em nầy bằng lòng đi học, thì ân nhân sẽ trả tiền học phí, cho tiền quần áo, tiền ăn, … Nhưng em thiếu niên nầy vẫn từ chối đi học chỉ muốn làm rẫy mà thôi.

Đối phó với việc bỏ học của các học sinh người Thượng trong Hội Thánh cũng như ngoài Hội Thánh cũng là một vấn đề lớn cho tôi. Thông thường vào mùa tỉa lúa hay gặt lúa, phụ huynh các em đến Trường của Hội Thánh xin cho con em mình nghỉ học hai tuần, hoặc một tháng, để đi làm lúa. Các Giáo viên không dám quyết định, mà cấm thì phụ huynh các em cũng không nghe. Cảm ơn Chúa cho những phụ huynh nầy còn sợ tôi, nên tôi phải can thiệp cấm không cho các em nghỉ học, rồi phải tìm cách giúp các em đi học.

Chúng tôi có thuê một chị tín đồ người Thượng giúp việc nhà, sáng đến làm, chiều về. Chị không biết giặt quần áo, không biết quét nhà, không biết nấu nước uống, chỉ biết nấu cơm thì chắt nước cơm bỏ đi, dạy nấu cơm không chắt nước thì chị không thể nào nấu được. Tất cả những việc đó chị chưa hề làm từ nhỏ tới lớn. Một việc mà chị làm rất tốt là chị sàng gạo rất sạch thóc, sạch sạn. Được mấy hôm thì chị xin nghỉ vì mệt quá ông bà Mục sư ơi, đi làm rẫy khỏe hơn. Môt lần, vợ chồng tôi mời vợ chồng một con cái Chúa "ăn cơm Tàu" Đây là đôi vợ chồng rất trung tín thăm viếng, chứng đạo, đặc biệt, đôi vợ chồng nầy chỉ có một con mắt: chồng thì bị đui hai mắt, còn vợ thì hư một mắt. Sau khi ăn xong, người chồng nói: "Ông bà Mục sư ơi, cơm Tàu ăn không ngon". Tôi hỏi tại sao ? Ông nói: Cơm tàu không có ớt cay, mà cũng không có bỏ muối mặn (người Thượng ăn rất nhiều ớt và rất mặn, vì cuộc sống nghèo quá nên thường chỉ ăn cá khô). Thật là những kinh nghiệm đặc biệt cho chúng tôi.

Hội Thánh có một Trường học, lúc tôi đến nhậm chức thì có 7 lớp từ mẫu giáo đến lớp năm, nhưng không có giấy phép mở Trường, vậy mà Trường dám cấp Chứng Chỉ Học Trình cho các em lớp năm. Trường do Hội Hoàn Cầu Khải Tượng bảo trợ hoàn toàn. Mỗi tháng một số các em học sinh được nhận quà của ân nhân bảo trợ gởi qua Hội, ông tín đồ Đại diện Trường phải đi mua từng chiếc cặp, từng đôi dép, bộ quần áo, cái nón … cho các em theo yêu cầu của ân nhân, thật vất vả.

Tôi đề nghị với Ban Quản Trị Trường dùng số tiền ân nhân giúp cho các em mua quà, thay vì mua lẻ từng món cần theo chỉ định của ân nhân, thì ông Đại diện Trường cùng tôi xuống Chợ-lớn mua giá sỉ quần áo, tập vở, bút viết, giày dép, … Đem về, chúng tôi tổ chức gởi giấy mời hẹn phụ huynh các em đến nhận quà cho con mình. Vào ngày phát quà, các Giáo viên được kêu gọi giúp bán hàng theo giá lẻ (dù là giá lẻ nhưng vẫn còn quá rẻ so với giá thị trường địa phương, trong khi đó lại lời gấp đôi). Hàng hóa được ghi giá rõ ràng, phụ huynh và các em tự chọn. Mỗi học sinh và phụ huynh đến phòng nhận quà sẽ nhận được một phiếu báo số tiền ân nhân giúp qua Hội Hoàn Cầu Khải Tượng, rồi vào phòng tự chọn món hàng nào mình thích cho đủ số tiền đã qui định. Mua xong, Giáo viên tính tiền, chụp hình, gởi báo cáo và hình ảnh cho Hội.

Tiền lời của việc bán hàng học sinh được dùng để thưởng các Giáo viên giúp bán hàng, thưởng Giáo viên dạy giỏi, hỗ trợ Giáo viên học thêm, dùng làm quà cho người nhà của Giáo viên khi họ được phép về quê dịp Lễ Tết, tưởng thưởng học sinh giỏi, tổ chức cho Giáo viên và học sinh đi thăm thắng cảnh vui chơi… Cũng nhờ số tiền nầy, tôi cho mời Thầy Hiệu trưởng Trường Trung Học Công Lập cấp 3 tại Xã làm Giám học Trường Tin Lành chúng tôi, để tránh va chạm học sinh giữa hai Trường trước hiện tượng học sinh bỏ Trường Công qua học Trường Tin Lành (học sinh học Trường Tin Lành được miễn học phí, được ăn 3 ngày mì gói; 3 ngày bánh ngọt). Điều quan trọng là Trường Tin Lành khỏi lệ thuộc báo cáo hằng tháng cho Sở Học Chánh Tỉnh qua Trường Công Lập, vì Giám học Trường đã báo cáo thay rồi.

Giữa năm 1974, tôi lập một Dự án tổ chức Trường Tin Lành Túc Trưng thành Trường Trung học Bán Công, lần lần sau 3 năm sẽ tự túc, không nhờ ngoại viện của Hội Hoàn Cầu Khải Tượng. Kế hoạch của tôi như sau:

1.      Thay vì Hội Hoàn Cầu Khải Tượng trợ cấp mỗi tháng, tôi đề nghị Hội trợ cấp cho Trường Tin Lành Túc Trưng một số tiền bằng MỘT NĂM TRONG MỘT LẦN.

2.      Tôi sẽ dùng số tiền đó làm một nhà máy xay lúa gia dụng, tiền còn lại sẽ cho các con cái Chúa trong Hội Thánh vay với lãi suất nhẹ và trả bằng nông sản sau vụ mùa; thay vì con cái Chúa phải vay của những người Kinh trong vùng với lãi suất cao, bị bóc lột.

3.      Số nông sản thu mua sẽ được bán cho các Cơ Quan Từ Thiện trong Hội Thánh như Hội Hoàn Cầu Khải Tượng, để Hội Từ thiện dùng giúp cho những nơi có cần. Việc bán nông phẩm cho Cơ Quan Từ thiện sẽ giúp tránh được thuế.

4.      Tiền lời từ nhà máy xay lúa và tiền lời nông sản sẽ dùng để trả phân nửa chi phí cho Trường.

5.      Các em Học sinh chỉ phải đóng phân nửa tiền học phí. Những học sinh không thể đóng tiền do hoàn cảnh gia đình nghèo, sẽ được giúp như một Học bổng theo tiêu chuẩn nghèo, chăm học, dù không phải là học sinh giỏi, để các em tự đóng tiền coi như công khó học hành của các em.

6.      Tôi xin Hội Hoàn Cầu Khải Tượng tài trợ cho xây thêm ba phòng học để Trường Tin Lành Túc Trưng có thể cho các học sinh học hết lớp 12 tại địa phương.

7.      Kế hoạch chế độ Bán Công sẽ áp dụng sau ba năm từ khi bắt đầu.

Rất vui là Lãnh đạo Giáo Hội từ cấp Hạt đến Tổng Liên Hội đều sẵn sàng giới thiệu chuyển qua Hội Hoàn Cầu Khải Tượng, do đó Hội Hoàn Cầu Khải Tượng cũng mau lẹ chấp thuận với lời hứa đầu năm 1975 sẽ trợ giúp làm thí điểm. Rất tiếc là tháng 1 năm 1975, khi tôi đến Văn Phòng của Hội Hoàn Cầu Khải Tượng theo lời hẹn thì chỉ nhận được một bức thư của ông Don Scott, Giám đốc Hội  - đã đi Bangkok, nội dung thư cho biết rằng không biết vì lý do gì Ngân sách 1975 của Hội Hoàn Cầu Khải Tượng ở Việt-nam bị cắt giảm 50%, nên Kế hoạch của Trường Túc Trưng phải hoãn lại. Sau nầy tôi mới biết việc cắt giảm đó chính là biến cố 30 tháng 4 năm 1975.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Mục sư Nguyễn văn Quan là Chủ Nhiệm Địa Hạt Đông Nam Bộ, đã gọi tôi xuống Văn Phòng Địa Hạt tại Sàigòn, cho tôi biết rằng Địa Hạt còn một số tiền cứu trợ chiến cuộc 1975 là hai triệu đồng. Mục sư Quan nói với tôi rằng: Nếu bây giờ đem số tiền đó chia cho mỗi Mục sư Truyền đạo, thì mỗi người chỉ có năm mươi ngàn đồng và sẽ không còn nữa, trong khi tình thế mới chưa biết sinh hoạt của Mục sư Truyền Đạo ra sao. Ban Trị Sự Địa Hạt nhớ đến kế hoạch mở Tín Dụng Nông Nghiệp của tôi trước đây đã trình qua để xin Hội Hoàn Cầu Khải Tượng trợ giúp, nên Ban Trị Sự Địa Hạt quyết định giao số tiền hai triệu đó cho tôi mua máy xay lúa gây quỹ Tự Túc cho Địa Hạt giúp các Mục sư Truyền Đạo trong Hạt lâu dài.

Thế là ngay buổi chiều ngày hôm đó, Mục sư Nguyễn văn Quan dẫn tôi đi mua máy xay lúa và tôi mướn xe chở về Túc Trưng. Nhớ lại ngày đi mua máy nầy, thật biết bao khó khăn và nguy hiểm, nhưng vì lúc bấy giờ hai chúng tôi chỉ nghĩ đến công việc Chúa mà không hề nghĩ đến nguy hiểm hay trở ngại:

1.      Mục sư Nguyễn văn Quan và tôi chưa hề biết máy xay lúa, máy kéo Yanmar F10 như thế nào.

2.      Trong lúc Chánh quyền mới chưa ổn định, tôi và Mục sư Quan ăn mặc chỉnh tề, sơ-mi thắt cà-vạt vừa đi vừa kéo theo một bao tiền đựng trong một bao nylon đựng gạo loại 50 ký, đi dọc theo đường Trần Hưng Đạo - Cống Quỳnh, trở đi trở lại nhiều lần.

3.      Không có một tiệm buôn nào dám mở cửa công khai. Mỗi lần chúng tôi gõ cửa tiệm buôn để hỏi mua, thì chủ tiệm buôn luôn nhìn chúng tôi cách dè dặt, rồi lại nhìn chung quanh ngoài đường.

4.      Có tiệm bán thứ máy nầy nhưng không bán máy kia; cuối cùng nhờ có tiệm dám bán thứ nầy, nên tiệm kia dám bán máy khác.

5.      Thêm một việc rắc rối là các tiệm buôn không chịu ghi hóa đơn. Chúng tôi lại ra sức thuyết phục, trình bày đây là mua cho Giáo hội, cần có hóa đơn chứng minh. Khi họ chịu ghi hóa đơn lại không chịu ghi đúng giá bán vì sợ bị đánh thuế, bị gạt báo cáo chánh quyền… Cảm ơn Chúa rồi chúng tôi cũng mua được đầy đủ.

6.      Vấn đề còn lại là chuyện chở máy về Túc Trưng. Người chủ xe chở hàng cho biết là về đến Túc Trưng sẽ bị đánh thuế trạm rất cao, trong khi tiền mua máy còn lại chỉ đủ trả tiền xe chở, dư ra một chút ít để đặt máy xuống hoạt động. Người chủ xe còn sợ bị vạ lây nếu Trạm kiểm soát chận xe đánh thuế. Tôi phải cam kết chịu trách nhiệm. Cảm ơn Chúa, một phép lạ kỳ diệu xảy ra, khi gần đến Trạm kiểm soát Túc Trưng thì trời mua rất to, gió thật lớn, xe chạy đến Trạm thì mưa mịt mù, cái bảng để hai chữ kiểm soát bị thổi ngã lăn vô lề, xe chạy qua cách bình an, không ai chận lại gì cả.

Chúa cho chương trình Quỹ Tự Túc Địa Hạt hoạt động rất tốt, dù cá nhân tôi biết bao vất vả, nhưng cũng đã đem lại sự an ủi phần nào cho một số Mục sư Truyền Đạo trong cơn túng ngặt, giúp Hội Đồng Địa Hạt Đông Nam Bộ năm 1976, 1977, mọi chi phí, kể cả giúp lộ phí cho tất cả Mục sư Truyền Đạo trong Hạt về dự Hội Đồng; Địa Hạt cũng tổ chức buổi Liên Hoan Giáng sanh cho gia đình Mục sư Truyền Đạo trong Hạt, ngoài tiệc ăn uống còn có quà cho con em nữa. Một số Mục sư Truyền Đạo nhận được từ Quỹ Tự Túc những số tiền nho nhỏ để nuôi heo, để mua đất làm vườn, để sinh hoạt mua bán tạm sống.

Khi điều hành Quỹ Tự Túc nầy, tôi cũng lắm phen vất vả với những khó khăn từ Chánh quyền địa phương, nhất là việc đóng thuế. Đầu năm 1976, họ kêu tôi lên Huyện để khai thuế, tôi trình bày chi thu xong, họ tính một con số thuế làm tôi giật mình, tôi nói thẳng với họ là tính thuế như vậy thì tôi giao máy luôn. Tôi trình sổ sách chi thu hằng ngày mà tôi phải khai trình cho Địa hạt của Giáo hội, không gian lận gì cả, làm sao có dư tiền đóng thuế cao. Họ lại đưa cho tôi bảng khai thuế của những nhà máy xay lúa trong Huyện, hóa ra người nào cũng khai lỗ, chỉ nhà máy Tin Lành là có lời dù rất ít. Cảm ơn Chúa, họ vào trong thảo luận với nhau khá lâu, sau đó họ bảo tôi cứ về, họ sẽ trả lời sau. Kỳ diệu thay, ít hôm sau họ báo cho tôi đóng thuế với một con số giống như các nhà máy khai lỗ, trong khi tôi khai lời.

Một vấn đề nữa là một Cán bộ Phòng Lương Thực Huyện gặp tôi yêu cầu nhà máy Tin Lành xay 30 tấn lúa cho Phòng. Chánh quyền không trả tiền công, nhưng bù lại nhà máy sẽ được mua xăng dầu, mua các phụ tùng giá chánh thức khi chà lúa cho Nhà Nước. Sau khi chà mẫu 100 ký lúa, từ đó tính tỷ lệ gạo, cám thu được để ký hợp đồng. Sau khi chà xong, tôi có dư trên 300 ký gạo ngoài chỉ tiêu. Tôi báo tin cho anh Cán Bộ phụ trách hợp đồng biết số gạo dư. Anh bảo tôi để số gạo đó riêng ra mà không nói gì thêm. Đến khi xe đến chở gạo, những nhân viên cân gạo xong lại còn dư thêm một số gạo nữa, họ hỏi tôi gạo dư làm sao. Tôi trả lời Cán bộ phụ trách bảo để riêng ra và chỉ nói như vậy. Các nhân viên bàn qua tính lại, họ bảo thôi thì cứ để lại, họ chở đủ gạo về. Hôm sau, anh Cán bộ phụ trách chạy đến phàn nàn tôi: Tôi nói với anh để riêng ra là để chỗ khác, rồi tôi tính với anh. Anh lại để chung, bây giờ kẹt quá. Tôi trả lời với anh là tại anh không nói rõ. Một lần khác, họ lại đổ xuống 45 tấn lúa, trên Xã lấy cớ xuống muốn làm khó tôi đòi đóng thuế của Xã. Tôi giải thích là tôi đang chà lúa cho Huyện, nên làm sao có tiền đóng thuế Xã. Họ không chịu. Tôi cũng không chịu vì tôi đang làm công tác giúp Chánh quyền. Cuộc bàn cãi không thành, tôi cho đóng cửa nhà máy nghỉ chờ Huyện giải quyết. Báo xong, hai ba ngày sau Phòng Lương Thực Huyện vội vàng xuống yêu cầu tôi mở cửa nhà máy tiếp tục vì nếu trễ hạn hợp đồng thì Huyện sẽ bị Tỉnh khiển trách, tôi không chịu, đòi giải quyết thuế Xã để khỏi bị mang tiếng trốn thuế. Thế là sau đó với ý kiến Huyện, Xã đến xin lỗi tôi để tôi mở cửa nhà máy.

Biết bao tranh đấu gay go, nhất là giai đoạn những năm đầu sau 1975, mà cơ sở Tôn giáo luôn bị dòm ngó. Dù nhà máy mướn nhân viên, nhưng phải tiết kiệm chi phí để có lời giúp công việc Chúa, tôi cũng phải dành thì giờ lui tới để coi sóc, phụ tiếp, nhất là khi khách hàng đông do vào mùa thu hoạch. Thường khi tôi phải phụ khiêng những bao lúa bao gạo nặng cả 100 ký; điều đáng sợ là phòng chà lúa là nơi đầy bụi và tiếng ồn. Một lần vì khách chà bắp quá đông, tôi đứng điều khiển máy chà cho nhân viên đổ bắp vào, bất ngờ tay tôi lọt xuống chỗ trục nghiền bắp, ép ngón tay cái của tôi dập nát, máu tôi đổ để anh em tôi được an ủi.

Tôi cũng lập kế hoạch mở rộng Chương trình từ nhà máy xay lúa, tôi cho nuôi bò, nuôi heo, và chuẩn bị lập vườn tiêu nên đã đổ xuống 70 nọc tiêu bằng cây căm-xe. Rất tiếc, tất cả chương trình phải kết thúc sau khi tôi bị bắt giam ngày 30 tháng 4 năm 1978.

PHÁT TRIỂN THUỘC LINH

Tình trạng Hội Thánh tại Túc Trưng khi tôi về nhậm chức rất cá biệt. Có nhiều điều không có:

1.      Hội Thánh có một ngân quỹ quá kém, giải quyết hằng tháng, ít khi nào có dư.

2.      Hội Thánh không có ai biết đàn, cũng không ai biết nhạc. Hội Thánh có một cây đàn phong cầm (Harmonium) loại nhỏ, đạp bằng chân, nhưng không ai biết sử dụng.

3.      Người có văn hóa cao nhất trong Hội Thánh là một cô giáo dạy Trường Tin lành của Hội Thánh, trình độ lớp 9.

4.      Chỉ có một vài tín đồ người Kinh trong Hội Thánh, một người tín đồ là người Mường, còn lại đều là người Thượng sắc tộc Chrau, đa số không biết chữ Việt, còn chữ Chrau thì lại càng ít người biết, vì lúc bấy giờ Hội Ngôn Ngữ mới cho ông bà Giáo sư David Thomas đến Long Khánh tìm cách đặt chữ và dạy ngôn ngữ Chrau.

5.      Vùng Túc Trưng hoàn toàn không có điện, một vài nơi có điện từ máy phát điện của gia đình riêng. Ban đêm việc đi lại rất nguy hiểm vì lý do an ninh, nhất là khu chợ Túc Trưng, cách nhà thờ hơn một cây số.

6.      Hai Ấp Đồng Xoài và Đức Thắng là hai Ấp thuộc người Chrau, có 80% người tin Chúa. Nhưng lại nằm trong vòng vây của nhà thờ Công giáo Lamã: trước mặt có một nhà thờ, phía sau là một nhà thờ, phía trên và phía dưới cách một cây số cũng là những nhà thờ Công giáo, số giáo dân Công giáo Lamã rất đông, thế lực đời nầy lại rất mạnh ảnh hưởng rất lớn đối với Chánh quyền địa phương, kể cả họ được trang bị súng ống, tài chánh dồi dào.

Trước hết, tôi cứ duy trì buổi nhóm cầu nguyện những buổi chiều thứ hai, thứ tư, thứ sáu, đồng thời tăng thêm buổi cầu nguyện mỗi sáng từ 4 đến 5 giờ. Dù số người nhóm cầu nguyện rất ít, đôi khi chỉ có 4 hoặc 5 người, nhưng cảm ơn Chúa, dù mưa hay nắng, số người đó vẫn trung tín đến nhà thờ cầu nguyện, ngay cả những lúc chúng tôi đi vắng.

Tôi tổ chức thêm các Tổ Cầu Nguyện với tiêu chuẩn:

1.      Cứ 5 gia đình thì lập một Tổ, khi nào tăng thêm một gia đình thì chia ra làm 2 Tổ, mỗi Tổ 3 gia đình.

2.      Tổ Trưởng có nhiệm vụ chính là lo mời gọi các con cái Chúa trong Tổ nhóm lại theo ngày giờ trong Tổ qui định, ít nhất mỗi tuần một lần.

3.      Mỗi Tổ có một Sổ Báo Cáo hằng tuần ghi lại mọi sinh hoạt trong Tổ như: Nhóm nhà ai ? Bao nhiêu người nhóm ? Ai vắng mặt ? Ai bịnh và nói rõ bịnh gì ? Ai mới tin hay muốn tin Chúa ?  Gia đình nào cần Mục sư chủ tọa thăm viếng ? Ai yếu đuối ? Cứ đến chiều thứ bảy sẽ có một Thanh niên đạp xe đến thu tất cả Sổ Báo Cáo đem về tư thất, ghi vào Sổ Tình Hình Hội Thánh trong tuần của Hội Thánh. Nhờ đó, đến sáng Chúa nhật, tôi có thể biết được tình hình con cái Chúa trong Hội Thánh trong tuần qua.

4.      Nếu Tổ không nhóm lại, lập tức tôi sẽ nhờ người phụ trách khu vực (một khu vực gồm nhiều Tổ, thường là một dãy nhà tín đồ) tuần sau đến đôn đốc nhóm lại.

5.      Nếu có tín đồ bịnh nặng, tôi tìm cách đến thăm và giúp đỡ cụ thể.

6.      Nếu có người mới sinh con, tôi sẽ nhờ Nhà tôi cùng Ban Phụ Nữ đến thăm tặng quà (thường là một cục xà-bông hay cái khăn cho bé)

7.      Nếu có người mới tin Chúa, tôi thông báo và hoan nghinh giữa Hội Thánh.

8.      Nếu cần Mục sư chủ tọa đến thăm thì tôi thông báo ngày giờ tôi thăm và Tổ trưởng Tổ Cầu nguyện hay Khu vực Trưởng sẽ sắp xếp thì giờ để nhơn đó có buổi cầu nguyện trong Tổ, các con cái Chúa trong khu vực tập trung đến đầy đủ.

9.      Nếu có ai yếu đuối, tôi sẽ tìm hiểu, khuyên hoặc quở trách.

Hội Thánh có tất cả 28 Tổ Cầu nguyện, rồi tăng lên 32 Tổ. Một dãy nhà tín đồ trong đó có nhiều Tổ Cầu nguyện là một Khu vực, có một anh em trình độ khá một chút, có lòng hầu việc Chúa phụ trách làm Khu vực Trưởng. Khu vực Trưởng có trách nhiệm thăm viếng các Tổ trong Khu vực, làm sao để không có Tổ nào bỏ qua sự cầu nguyện trong tuần, nếu Tổ không nhóm được thì Khu vực Trưởng sẽ đến ngay để gây dựng lại.

Trước 1975, một số Tráng niên hiệp lại tổ chức Nhóm Tình Thương, mỗi chiều Chúa nhật đến thăm một khu vực, chủ yếu thăm một nhà có cần nhất. Anh em trong Nhóm Tình Thương sẽ giúp gia đình tín đồ được thăm những công việc như: sửa chữa bàn ghế hay những vật dụng trong nhà bị hư, lợp lại nóc nhà dột, phụ nữ thì lo nấu ăn tạm để ăn chung với gia đình, có người lo hớt tóc cho người già và trẻ em trong khu vực bất luận là tín đồ hay không, cũng có anh em phụ trách y tế cho những loại thuốc đơn giản. Tất cả vật liệu như đinh, dây kẽm, búa, kềm, cưa… ; thức ăn và gạo, … đều do anh em trong Nhóm tự đem theo.

Đối với tình trạng đa số người Thượng không biết chữ, tôi phải tổ chức dạy lớp bình dân ban đêm, dù không có điện chỉ có đèn dầu. Nhờ các Cô Giáo dạy Trường Tin Lành cùng với các Thanh niên trong Hội Thánh có lòng giúp tình nguyện dạy, đồng thời dạy hát Thánh ca, tạo sinh hoạt vui cho lớp học.

Để phát triển việc truyền giảng Tin Lành trong Hội Thánh, vì đa số không biết chữ, tôi khuyến khích các con cái Chúa áp dụng Phương Pháp MỜI BẠN ĐẾN, yêu cầu con cái Chúa dắt những người bạn chưa tin Chúa đến tư thất để tôi làm chứng về Chúa.

Tôi nhớ kỷ niệm ngày 13 tháng 7 năm 1980, tôi kêu gọi con cái Chúa qua bài giảng Phương Pháp chứng đạo MỜI BẠN ĐẾN trong sách Tin Lành Giăng 1:35-51, đưa bạn đến. Sáng thứ năm ngày 17 tháng 7 năm 1980, sau giờ cầu nguyện buổi sáng sớm của Hội Thánh, một con cái Chúa trên đường đi rẫy đã dắt người bạn cùng làm trong rẫy đến cho tôi làm chứng về Chúa. Tôi rất vui vì con cái Chúa đã biết áp dụng điều tôi đã giảng dạy. Tôi nhờ ơn Chúa làm chứng về Chúa cho thân hữu nầy, lại có một thân hữu khác được dắt đến, tôi phải giao người đã nghe cho Thầy Truyền đạo phụ tá để tiếp người thứ hai, rồi người thứ ba, rồi người thứ tư…. Cứ thế đến độ 6 giờ chiều tối, chúng tôi phải ngưng vì không có điện, và tôi thì quá mệt do suốt ngày không ăn gì cả trong khi thân thể đang mang bịnh từ nhà tù về. Tôi chỉ còn húp được một vài muỗng canh nóng do Nhà tôi dọn ra.

Ngày mai thứ sáu 18 tháng 7 năm 1980, rồi ngày thứ bảy 19 tháng 7, con cái Chúa tiếp tục Mời Bạn Đến. Chúa nhật 20 tháng 7 năm 1980, sau khi giảng xong bài giảng đề tài CHÚA CHỮA BỊNH, trong khi đưa tay chúc phước cho Hội Thánh, tôi ngã gục và xỉu trên Tòa Giảng.

Tôi cũng lập ban Truyền giảng Tư Gia với ba thành viên, và xin Ban Trị Sự Hội Thánh cho lấy tiền dâng tuần đầu tháng để làm Ngân Quỹ Truyền giảng Tư Gia. Tôi khuyến khích con cái Chúa tìm cơ hội nào đó để tổ chức Truyền giảng tại nhà riêng của họ như: Sinh nhật, Tân gia, được Chúa chữa lành … với các qui định:

1.      Chủ nhà không được mời Tín hữu, chỉ được mời Thân hữu.

2.      Không được mời quá 5 Thân hữu, và phải báo cho Ban Truyền giảng Tư Gia biết chi tiết về 5 Thân hữu như: tuổi, giới tính, nghề nghiệp … để Ban Truyền giảng Tư Gia tìm mời 5 tín hữu tương đương làm Chứng Đạo Viên.

3.      Nếu chủ nhà mời được 2 Thân hữu trở lên, thì chi phí ăn uống trong buổi Truyền giảng Tư Gia sẽ do Ban đài thọ; nếu dưới 2 Thân hữu thì chủ nhà phải tự lo chi phí.

4.      Ban Truyền giảng Tư Gia đã căn dặn các tín hữu được mời làm Chứng đạo viên những việc cần: Họ phải biết mục đích là truyền giảng, nên tín hữu phải đến trước khi Thân hữu đến; một tín hữu phải tiếp một Thân hữu tương đương; phải ăn để Thân hữu ăn, không nên chỉ làm chứng mà quên ăn hoặc chỉ ăn mà quên làm chứng về Chúa.

5.      Mục tiêu yêu cầu là mời Thân hữu đến nhà thờ vào Chúa nhật kế tiếp. Nếu có người muốn tin Chúa trong buổi Truyền giảng thì báo ngay cho Mục sư hay Chấp sự có mặt.

Nội dung Chương trình truyền giảng Tư Gia chủ yếu là phải thân mật, tự nhiên, không đặt nặng vấn đề tôn giáo. Các bài giảng thường ở dưới hình thức là Lời Chúc Mừng Tân gia, hay Lời Chúc Mừng Sinh Nhật và chỉ độ 10 phút để làm tiền đề cho tín hữu làm chứng đạo tiếp tục sau khi cầu nguyện tạ ơn Chúa về bữa ăn. Đặc biệt lời làm chứng của chủ nhà bao giờ cũng quan trọng với 5 đến 7 phút.

Thí dụ:

* Trong một cơ hội Mừng Tân Gia. Thật ra ngôi nhà chỉ là mái tranh, vách phên tre, nhưng con cái Chúa biết lợi dụng để truyền giảng Tin Lành. Trước hết, chủ nhà đứng ra tỏ lời cảm ơn Chúa, cảm ơn Hội Thánh, cảm ơn Chánh quyền địa phương, cảm ơn láng giềng, đã giúp đỡ gia đình làm xong căn nhà. Rồi trước khi cầu nguyện tạ ơn Chúa dâng ngôi nhà cho Chúa và tạ ơn Chúa về bữa ăn, tôi đứng lên mời cả nhà ra đầy đủ, tôi thay mặt khách mời chúc mừng chủ nhà bằng Lời Chúa trong Khải huyền 3:20, khuyên chủ nhà đã có nhà mới thì đừng quên mời Chúa ngự vào làm chủ, áp dụng đời sống là ngôi nhà cần có Chúa làm chủ.

* Một con cái Chúa sắp chịu báp-têm vào sáng Chúa nhật, ông đã mời bạn hữu đến nhà tối thứ bảy với lý do "Ăn Mừng Được Báp-têm". Chủ nhà đã đứng lên tỏ lòng cảm ơn Chúa bằng cách lược qua lý do ông tin Chúa và lý do có bữa ăn mừng ngày mai ông được chịu báp-têm. Làm chứng xong, chủ nhà dùng khẩu cầm thổi một bài Thánh ca cảm ơn Chúa đồng thời cho biết là lần đầu tiên ông biết ngợi khen Chúa. Sau đó trước khi cầu nguyện cho bữa ăn, tôi xin được giải thích hai chữ BÁP-TÊM cho các Thân hữu. Với 10 phút, tôi có thể bày tỏ ơn cứu rỗi của Chúa Jêsus Christ cho 5 thân hữu.

Cảm ơn Chúa, chương trình rất vui và đạt kết quả rất tốt, có nhiều người tin Chúa, dù thân hữu không thích đến nhà thờ, nhưng khi thấy đến nhà của con cái Chúa, thấy gia đình với Hội Thánh vui vẻ, thân mật, là điều họ không tìm thấy trong các Tôn giáo và tổ chức ngoài đời, Chúa đã cho thân hữu khao khát tìm kiếm Chúa và họ đã gặp được.

Có một Thanh niên từ Mỹ-tho lên thăm người chị đang dạy học trong Trường Tin Lành Túc Trưng, đã được người nhà căn dặn là đừng chơi với người Tin Lành, vì nếu chơi với người Tin Lành, trước sau gì cũng sẽ tin Chúa theo Tin Lành. Với lời dặn dò đó, người Thanh niên nầy cố tránh khi các thanh niên trong Hội Thánh đến thăm. Nhơn một buổi Truyền giảng Tư gia do Thanh niên tổ chức dịp Tết Trung Thu, các Thanh niên trong Hội Thánh cố mời anh nầy với lý do là đến dự Trung Thu. Cuối cùng anh thanh niên nầy nễ tình đến dự, vì nghĩ rằng ở nhà riêng không phải nhà thờ, và lời mời chỉ là ăn Tết Trung Thu mà thôi. Trong dịp đó, các Thanh niên trong Hội Thánh hát những bài Thánh ca vui, chơi trò chơi, và tôi giới thiệu những ánh trăng trong Thi Văn Việt-nam, ánh trăng trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời đã làm việc kỳ diệu, anh Thanh niên đó đã quyết định tin Chúa ngay đêm Trung Thu, và anh trở nên một Thanh niên trung tín mỗi sáng lúc 4 giờ đến nhà thờ giựt chuông báo con cái Chúa nhóm cầu nguyện.

Trung Thu 1980, lúc bấy giờ hoàn cảnh khó khăn, vật liệu rất khan hiếm, nhưng các anh chị em phụ trách Thiếu nhi quyết tâm tổ chức Truyền giảng Trung Thu cho các em. Các Thanh niên trong Hội Thánh đã chịu khó vào rừng chặt cây xống lá, một loại cây tròn như chiếc đũa ăn cơm, đem về chẻ ra làm thành những chiếc đèn đồng tiền đơn giản với ba vòng tròn ghép lại. Tôi lấy những văn thư cũ không còn giá trị cho các thanh niên cắt làm giấy dán. Đến phần trang trí thì các Thanh niên dùng thuốc đỏ làm màu đỏ, lấy nghệ làm màu vàng, lấy mực xanh mực tímcủa các em học sinh làm màu xanh màu tím. Thanh niên đua nhau trổ tài họa sĩ vẽ đủ hình bông hoa. Chúa cho các em Thiếu nhi đã có được trên 100 lồng đèn Trung Thu.

Đêm Trung Thu, chúng tôi cho bắt loa phóng thanh giữa sân nhà thờ mà không xin phép ai cả, tập hợp trên 500 thiếu nhi, trong đó trên 300 là Thiếu nhi trong Hội Thánh và hơn 200 Thiếu nhi ngoại đạo. Ấy là chưa kể biết bao nhiêu người lớn đến dự không cần mời. Chương trình gồm hát những bài đoản ca, kể truyện tích Kinh Thánh cho các em, trò chơi, và một cuộc rước đèn Trung Thu chung quanh nhà thờ rất vui và rất đẹp.

Cảm ơn Chúa cho Ban Trị Sự Hội Thánh đồng lòng hiệp ý với chức vụ của chúng tôi, cùng nổ lực giảng Tin Lành, dù Hội Thánh rất nghèo, trong khi mỗi lần mời Mục sư khách đến giảng tại Túc Trưng thì chúng tôi phải tự túc hoàn toàn. Hội Thánh đã mời xe Truyền giảng lưu hành của Mục sư Phạm văn Thâu, xe Truyền giảng lưu hành của Chương trình Truyền Tin Lành Cho Mỗi Gia Đình (CTG), xe Truyền giảng lưu hành của Mục sư Lương Bảo Thai thuộc Hội Thánh người Hoa…

Đặc biệt năm 1973, Hội Thánh đã nhờ ơn Chúa tổ chức một tuần lễ giảng Tin Lành lộ thiên tại sân nhà thờ với cái Trại Tin Lành to lớn của Giáo sĩ Thomas Stebbins. Cái Trại to lớn đã gây sự tò mò cho thân hữu rồi. Tuy nhiên, để thu hút người chưa tin Chúa đến dự, tôi cho mỗi đêm có lời làm chứng của một người đặc biệt (như Bà Mục sư Phạm văn Năm làm chứng về việc bà từ nhỏ thấy những thầy bùa thầy pháp, rồi cơ hội bà tin Chúa; đêm khác mời một Giáo sĩ Mỹ đang phụ trách truyền giáo cho người Mường làm chứng bằng tiếng Mường, việc nầy hấp dẫn rất đông đồng bào dân tộc Mường trong Ấp đối diện nhà thờ đến nghe khi họ thấy một người Mỹ nói được tiếng Mường; có đêm tôi mời Mục sư Lương văn Sấm độc tấu Tây Ban Cầm (Guitar); có đêm mời Thầy Nguyễn văn Thắng độc tấu kèn Trompet… Xen vào mỗi đêm là những giờ chiếu phim lộ thiên Truyền giảng với những phim truyện Tin Lành, phim khoa học, phim hài hước Charlot… Điều kỳ diệu là Chúa cho suốt các đêm truyền giảng đều bình an, không xảy ra một đáng tiếc nào, dù chúng tôi rất lo về vấn đề an ninh buổi tối.

Để không làm cho con cái Chúa nhàm chán thì giờ thờ phượng Chúa, tôi cho mỗi tuần trong giờ thờ phượng dành 15 phút để các Thanh niên hát những bài ca mới theo âm điệu mạnh hơn. Ngoài ra mỗi ba tháng thì các Ban Ngành thay nhau tổ chức cho Ban một buổi nhóm đặc biệt trong giờ sáng Chúa nhật. Thí dụ: Vì tín đồ đông, lúc đầu hầu như tuần nào cũng có dâng con. Do đó, tôi cho tổ chức ba tháng làm Lễ Dâng Con một lần, đồng thời lấy ngày Lễ Dâng Con làm ngày Thiếu nhi. Trong ngày nầy, những gia đình dâng con sẽ được chụp hình kỷ niệm, được tặng quà (xà bông thơm hay khăn cho bé), các Thiếu nhi trong Hội Thánh sẽ chịu trách nhiệm hát thờ phượng Chúa, các em sẽ lấy tiền dâng, Ban Hướng Dẫn Thiếu nhi sẽ hướng dẫn buổi nhóm, rồi các em được Hội Thánh giúp gạo, thức ăn, để ở lại cùng ăn với nhau và cùng vui chơi trong ngày. Hầu như cách một tuần, Hội Thánh lại có một buổi nhóm đặc biệt của Ban Ngành nào đó, sau giờ thờ phượng thì dành thì giờ Hội thảo hoặc sinh hoạt vui (Ban Cầu nguyện, Ban Thăm Viếng, Ban Thanh niên, Ban Thiếu Niên, Ban Tráng Niên, Ban Phụ Nữ, Ban Nghiên cứu Kinh Thánh…)

Đặc điểm của con cái Chúa người Thượng là họ có đức tin rất đơn sơ, nhất là khi bị bịnh, dù là bịnh nặng hay bịnh nhẹ như sổ mũi, nhức đầu, họ đều nêu ra xin Hội Thánh cầu nguyện.

Về phương diện thuộc linh, hầu như ngày nào chúng tôi cũng cầu nguyện cho con cái Chúa bịnh tại nhà thờ, hoặc tại nhà riêng. Lý do con cái Chúa bị bịnh nhiều là vì:

1.      Con cái Chúa rất đông (ngày tôi đến nhậm chức thì độ 500 tín đồ; ngày tôi rời Hội Thánh thì Chúa cho lên đến hơn 2,500 tín đồ).

2.      Đa số 90% quá nghèo, ăn uống kham khổ, làm rẫy làm ruộng cực nhọc, chủ yếu là dùng tay cày cuốc. Nhiều lần tôi nhờ ơn Chúa tìm cách giúp họ cải thiện cuộc sống như: Khuyến khích trồng cây ăn trái chung quanh bìa rẫy để phòng những tháng không có lúa thì dùng trái của các cây đó mua gạo ở ngoài; khuyến khích chăn nuôi heo là loại họ dễ nuôi, do có rau và chuối cây cho heo ăn độn ,tôi yêu cầu con cái Chúa tự làm chuồng bằng cách chặt cây làm chuồng, tôi giúp tiền tráng nền, cho họ mua cám từ nhà máy xay lúa của Cơ Sở Tự Túc Địa Hạt, khi nào họ bán heo sẽ trả lại tiền cám với điều kiện tiền cám tính vào thời điểm mua cám.

3.      Các Y tá địa phương trị bịnh theo thị hiếu của bịnh nhân người Thượng, họ sử dụng thuốc mạnh, liều cao, để khống chế bịnh ngay tức thì, nhất là họ thích dùng thuốc tiêm hơn là thuốc uống. Hậu quả là người bịnh lần lần bị lờn thuốc, về sau rất khó trị.

4.      Người Thượng không thích đi Bịnh Viện, vì sợ không có tiền, trong khi Y tá địa phương lại trị bịnh cho thiếu dù với giá cao. Một lý do khác là tại Bịnh viện họ phải chờ đợi, Bịnh viện lại cho thuốc nhẹ, không công hiệu tức thời.

Tôi phải dùng nhiều cách để giúp con cái Chúa bị bịnh, ngoài việc cầu nguyện cho họ.

Tôi phải mua sách dạy dùng thuốc và Tự Điển Dược Liệu, để tự trị liệu những bịnh thông thường hoặc khẩn cấp, kể cả tập chích thuốc – tôi chỉ dám chích thịt, không dám chích gân. Trong nhà của tôi lúc nào cũng có sẵn những loại thuốc khẩn cấp, như Gardenal là loại trấn an thần kinh (loại uống lẫn loại chích). Khi nghe tín đồ báo là con của họ bị chết giấc – kinh nghiệm cho tôi biết là các em bị sốt cao nên làm kinh. Lập tức tôi đem theo thuốc Gardenal, kim tiêm; Nhà tôi thì đem chanh và một cái muỗng. Đến nơi, tôi thì tiêm thuốc cho đứa nhỏ, Nhà tôi thì cho bịnh nhân uống nước chanh. Sau đó hiệp lại cầu nguyện.

Có một cháu gái bị sốt cao, khi tôi đến nhà thì thấy bụng của cháu nổi những mụt trắng, cháu có triệu chứng sốt thương hàn. Lập tức tôi cho người dùng xe gắn máy của tôi cầm thư tay của tôi chạy đến Chi Y Tế Quận, nơi đó vị Trưởng Chi Y tế là Trung Úy Đào Hữu Thắng, ông rất tốt, lúc nào cũng sẵn lòng giúp tôi giải quyết những trường hợp con cái Chúa bịnh. Ngoài việc kể bịnh trạng, tôi phải yêu cầu Trung Úy Trưởng Chi Y Tế mặc quân phục, đeo quân hàm và súng theo. Khi đến nơi, vị Trung Úy nầy đi thẳng vào nhà khám bịnh, rồi ông tự động bồng cháu lên xe Jeep quân sự của ông chở cháu đi Bịnh Viện, chủ nhà không dám nói gì cả, chỉ biết nhìn theo. Tôi biết tâm lý của người Thượng rất sợ Chánh quyền, nên phải yêu cầu như vậy.

Tôi phải ghi ơn Trung Úy Trưởng Chi Y Tế Quận Kiệm Tân nầy. Ông tên là Đào Hữu Thắng, nguyên là một người học ngành Dược phải đi lính, nên vào làm ngành Y Tế. Khi tôi về Túc Trưng hầu việc Chúa, đến thăm xã giao ông, được ông tiếp đón rất thân tình và hứa sẵn lòng giúp tôi trong việc cải thiện vấn đề vệ sinh y tế cho những người dân tộc, trong đó đa số là tín đồ. Mỗi tuần, tôi tổ chức sáng thứ năm mướn xe chở tín đồ bịnh cần đến Bịnh Viện, ông tận tình giúp không tính tiền. Khi tôi bị thương do vụ nổ lựu đạn trong nhà thờ, ông tận tình lo cho tôi. Sau năm 1975, có một lần tình cờ ông tìm đến thăm tôi tại Sàigòn, tâm tình một chút, và từ đó đến nay không được gặp lại. Xin Chúa ban phúc lành cho ông như Chúa hứa trong Mathiơ 25:40.

Nhiều lần vợ chồng tôi đối diện với những chứng bịnh nguy hiểm của con cái Chúa, chúng tôi phải ở một bên cầu nguyện cho họ, lắng nghe tiếng thì thào của họ trối trăng. Cảm ơn Chúa đã giữ gìn chúng tôi và con cái chúng tôi bình an. Một kỷ niệm khó quên là sau năm 1975, trong thời kỳ đầy khó khăn về mọi mặt, nhất là vấn đề y tế, thế mà Bịnh Dịch Hạch hoành hành trong Xã, trong lúc đó địa phương không có một can thiệp nào, thậm chí cũng không có một báo cáo khẩn lên cấp trên. Trong vòng hai tuần lễ, trong Hội Thánh đã có 15 tín đồ qua đời vì bịnh nầy, chưa kể bao nhiêu người trong Xã và các Xã lân cận. Ngày nào, giờ nào, cũng có đôi ba đám tang ngoài nghĩa địa.Vợ chồng tôi phải liên tục đến với người bịnh nầy cầu nguyện, rồi quay qua người nhà của người chết kia để an ủi họ. Mắt chúng tôi chứng kiến một người mẹ mới sanh con oằn oại trong cơn bịnh dịch, còn đứa bé thì khóc đòi bú. Tôi buộc lòng phải bảo người cha bồng cháu bé qua nhà khác trong lúc người mẹ hấp hối. Thảm cảnh kèm theo bịnh dịch nầy là không có thuốc, cho người bịnh; còn người chết thì không có hòm để chôn. Lúc đầu trong Hội Thánh có một số ván đã cưa sẵn trước 1975, bây giờ đem cho con cái Chúa, rồi kế đó phải tháo ván đóng vách nhà của người chết làm hòm, rồi kế tiếp phải tháo tôn lợp nhà cuộn lại đem chôn ngay. Với tất cả những kiến thức vệ sinh phòng bịnh mà chúng tôi có được như nấu nước thật chín, thức ăn nấu chín, trừ chuột, bọ, ruồi …, tôi phải huy động con cái Chúa trong Hội Thánh tiếp lo cho nhau. Chúa thương xót khiến cho bịnh dịch dừng lại, sau khi Hội Thánh thiệt mất 15 người lớn nhỏ.

Mộät ông tín đồ già bịnh nặng gần qua đòi, ông cứ muốn gặp Mục sư. Tôi đến nhà thì thấy cả nhà vợ con của ông đều đứng ngoài sân, từ trong nhà mùi hôi nồng nặc bay ra, không ai dám vào nhà. Vợ chồng tôi bước vào, thấy bên cạnh giường của ông là một đống dơ máu mủ khạc nhổ của ông được phủ một lớp tro bếp, nhưng không đủ che lấp. Tôi nghĩ ông bị ung thư phổi do trước khi tin Chúa ông đã hút thuốc quá nhiều. Tôi phải quỳ xuống bên cạnh ông để lắng nghe ông thều thào trăng trối, xin tôi cầu nguyện cho ông. Tôi không thể làm gì khác hơn, và Chúa đã gìn giữ vợ chồng tôi khỏi mọi tai họa, khỏi dịch lệ độc hại (Thi thiên 91:3, 6).

TỔ CHỨC HỌC LỜI CHÚA

Tôi không tổ chức Ban Trường Chúa nhật, vì tôi nhận xét Ban Trường Chúa nhật chỉ lo việc học Kinh Thánh ngày Chúa nhật mà thôi, tôi muốn Ban phải lo học Kinh Thánh trong tuần nữa. Vì lý do đó, tôi lập Ban NGHIÊN CỨU KINH THÁNH. Ban nầy có trách nhiệm lo tất cả giờ học Kinh Thánh có được trong Hội Thánh như: Trường Chúa nhật, học Kinh Thánh tối thứ tư, học Kinh Thánh Hàm Thụ, học Kinh Thánh ở các Tổ Cầu nguyện. Vì chỉ có các con cái Chúa trẻ tuổi như Tráng niên, Thanh niên, Thiếu niên, Thiếu nhi, là biết chữ, còn đa số người lớn tuổi không biết cả chữ Việt lẫn chữ Chrau. Dù vậy, cảm ơn Chúa, mỗi sáng Chúa nhật, hầu như toàn thể tín đồ lớn nhỏ đều tham gia học Kinh Thánh qua trường Chúa nhật. Chúa cho Hội Thánh có được những phòng học khang trang, đầy đủ bàn ghế, bảng viết, nên việc chia lớp rất dễ, chỉ trừ lớp Quý Bà và lớp Quý Ông, thì vì quá đông và vì trình độ, nên Giáo viên phải dạy theo phương pháp thuyết trình. Ngay sau ngày Hội Thánh ở trong chế độ mới, có một vài Cán bộ râm ran len lỏi giữa tín đồ tuyên truyền cho rằng Trường học Tin Lành là của Mỹ cất. Mục đích của họ là âm mưu lấy Trường, nhưng Chúa khiến họ nói câu: "của Mỹ cất", nên con cái Chúa (trong đó có những tín đồ đang làm việc trong Chánh quyền Xã, Ấp)  thật thà trả lời: "Chúng tôi đâu thấy người Mỹ nào đến cất, chỉ thấy ông Mục sư và Ban Trị Sự Hội Thánh cùng tín đồ, lo xây cất". Thêm vào đó, các Cán bộ nằm vùng địa phương trước đây có con em học trong Trường Tin Lành của Hội Thánh cũng đã từng được hưởng sự giúp đỡ của Hội Thánh, họ làm chứng rằng Trường Tin Lành dạy rất tốt. Sau nầy chính các em đó ra làm Cán bộ địa phương trong Xã, Huyện, đã giúp tôi rất nhiều, ngay cả lúc tôi đã rời Túc Trưng. Cuối cùng họ phải làm đơn tạm mượn Trường của Hội Thánh với những cam kết: chỉ sử dụng ngày thường, còn Chúa nhật và các ngày Lễ của Hội Thánh thì Hội Thánh vẫn sử dụng; họ không chào cờ trong sân nhà thờ. Đặc biệt dịp Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus giáng sanh, Ban Giám Hiệu luôn cho học sinh nghỉ học ba hoặc bốn ngày để Hội Thánh tiện chuẩn bị.

GIÁO DỤC HÔN NHÂN

Hầu việc Chúa là làm một cuộc Cách Mạng không đổ máu, nhưng bằng tình yêu thương, như Sứ đồ Phaolô đã nói với Hội Thánh tại Ga-la-ti (Galati 4:19). Một trong những vấn đề phải cải sửa trong đó có vấn đề Cưới gả.

Một tuần sau khi đến Túc Trưng, tôi xem lại tất cả sổ sách, văn thư của Hội Thánh. Điều làm tôi ngạc nhiên là những Biên bản dứt phép thông công các tín hữu trong Hội Thánh được ghi là “vi phạm Điều răn thứ 7” rất đông, nhưng không ghi chi tiết. Tôi hỏi Ban Trị Sự Hội Thánh, thì được biết là các Thanh niên nam nữ trong Hội Thánh vẫn còn theo phong tục "ĐI NGỦ" của người dân tộc Chrau ngày xưa – tiếng Chrau gọi là "Han Viq".

Theo phong tục xưa của người dân tộc Chrau, thì nam nữ Thanh niên hẹn hò cách nào đó, đến đêm khuya, người con trai được người con gái mở cửa cho vào nhà. Hai người ngủ chung với nhau, và người con trai phải ra về trước khi người nhà của cô gái thức dậy. Họ đi ngủ như vậy gọi là để tìm hiểu, một thời gian nếu hai bên nam nữ đồng ý thì sẽ cưới nhau. Thời gian tìm hiểu nầy có khi kéo dài đến một hoặc hai năm. Tuy nhiên trong thời gian "Đi Ngủ", nếu xảy ra sự ăn ở với nhau, thì người con trai sẽ bị làng phạt rất nặng. Theo những người già nói lại, thì vì sợ phạt nặng, nên họ giữ mình được. Với Thanh niên ngày nay, không nghe ai bị phạt, nên hầu như tất cả đều ăn ở với nhau trước khi cưới gả, thậm chí mang thai. Đó là lý do Hội Thánh phải dứt phép thông công những thanh niên "Đi Ngủ".

Một lần vào khoảng 11 giờ khuya hơn, một Chấp Sự Tráng niên đến nhà tôi báo tin là một thanh niên trong Hội Thánh tên T. đã vào nhà của một cô gái tên C. đã tin Chúa nhưng cha mẹ cô gái chưa tin Chúa. Tôi phải cùng Chấp sự đó đến nhà của cô gái, gõ cửa, cha mẹ của cô gái ra mở cửa và cho tôi biết là đôi thanh niên nam nữ đó đang ở phòng phía trong. Tôi nói lớn tiếng kêu anh thanh niên đó ra về và yêu cầu cha mẹ hai bên hai tuần sau phải lo cưới gả cho hai đứa con. Tôi cần hai tuần để lo Hôn Thú cho họ.

Điều khó khăn là hầu như không người Thượng nào có giấy Khai Sanh, mà luật pháp qui định làm Hôn thú phải có giấy Khai Sanh. Tôi phải đến Tòa án Tỉnh Biên hòa trình bày nhu cần, cảm ơn Chúa cho vị Chánh án Tòa đồng ý cử một Tòa Án Lưu Động đến ngay Quận địa phương lo thủ tục khai sanh cho tất cả người Thượng.

Lúc bấy giờ tôi để 5 tuần giảng dạy liên tiếp về vấn đề Hôn nhân trong Chúa trong giờ Thờ phượng Chúa sáng Chúa nhật. Buổi chiều Chúa nhật, trong giờ sinh hoạt Thanh niên, tôi cho các Thanh niên học về Tình yêu và Hôn nhân. Tôi cũng mời vị Trưởng Chi Y Tế Quận đến nói chuyện với các Thanh niên về giới tính; mời phụ huynh các em nói ý kiến của cha mẹ muốn con mình đi trong đường lối của Chúa; mời một cặp vợ chồng mới cưới nói chuyện với các Thanh niên về cách họ chuẩn bị Lễ Cưới trong hoàn cảnh ít tiền; Sau cùng dành thì giờ giải đáp thắc mắc. Tổng cộng năm tuần tôi tập trung lo việc nầy. Sau 5 tuần, tôi họp Ban Trị Sự Hội Thánh yêu cầu biểu quyết hai điều:

1.      Kể từ ngày sau khi các Thanh niên đã được hướng dẫn về Tình yêu và Hôn nhân, con cái Chúa phải lập gia đình theo đường lối của Chúa, không được ăn ở nhau trước khi có Lễ Cưới. Người vi phạm sẽ bị dứt phép thông công và con cái Chúa không ai được đến dự tiệc cưới của họ.

2.      Nếu Thanh niên nào không có tiền tổ chức Lễ Cưới, Ban Chấp Sự gồm 12 người sẽ góp tiền (mỗi người 500 đồng lúc bấy giờ), để giúp. Ban Thanh niên lo trang trí, làm bánh cho tiệc cưới, vợ chồng tôi lo cho cô dâu chú rể phần áo cưới (lúc đầu chúng tôi mượn, về sau chúng tôi xin những cặp vợ chồng ở Sàigòn những bộ áo cưới của họ không còn mặc nữa), lo nhẫn cưới (sau 1975, chúng tôi chỉ có thể lo cho các cặp nầy nhẫn cưới bằng Inox).

Cảm ơn Chúa, những biểu quyết trên được cả Hội Thánh đồng lòng ủng hộ và thanh niên nam nữ tuân giữ.

Môt rắc rối khác trong phong tục Cưới Gả giữa người Kinh và người Thượng mâu thuẫn nhau. Hội Thánh tại Túc Trưng đa số là người Thượng, mà phong tục của người Thượng theo chế độ mẫu hệ, nên trong Lễ Cưới, nhà gái phải đến rước chú rể. Trong một buổi họp bàn lo Hôn nhân cho Thanh niên trong Hội Thánh, ông Thư Ký Hội Thánh là người Thượng đòi theo phong tục của người Thượng; ông Phó Thư Ký Hội Thánh là người Kinh thì đòi theo phong tục người Kinh, ông còn thêm một câu"Trâu tìm cột, chớ ai đời cột tìm trâu". Một cuộc tranh cãi gay gắt giữa hai người có uy thế nhất trong Hội Thánh. Tôi lập tức yêu cầu tạm ngưng cuộc họp để vấn đề đó bàn sau.

Hai tuần sau, tôi cho họp Ban Trị Sự Hội Thánh trở lại và tuyên bố: ‘Bây giờ chúng ta là con cái Chúa, không nên theo phong tục người Thượng hay người Kinh nữa, mà phải theo Lời Chúa dạy. Chúa dạy thế nào, chúng ta làm theo thể ấy. Tất cả đồng ý. Tôi đọc Sáng thế ký đoạn 24, Áp-ra-ham cho người đi rước cô dâu Rê-be-ca về. Cảm ơn Chúa không ai tranh cãi nữa.

Sau những ngày đó, cũng có một vài lần Ban Trị Sự Hội Thánh đã phải áp dụng kỷ luật dứt phép thông công, nhưng đa phần Thanh niên đã giữ được theo sự dạy dỗ của Lời Chúa trong phương diện tình yêu và Hôn nhân. Những ngày sau 1975 là những ngày thiếu thốn vật chất, dù vậy, các Thanh niên đã biết dùng khoai mi luộc, rồi đem giã cho nhuyễn, ép khuôn nướng thành ổ bánh Cưới nhiều tầng, trên bánh lại có bắt bông kem rất đẹp.

TANG LỄ

Lần đầu tiên tôi được báo tin có tín hữu qua đời là một em thiếu nhi. Thật bất ngờ cho tôi khi biết gia đình sẽ để HAI TUẦN LỄ mới chôn. Tôi hỏi tại sao không chôn sớm hơn ? Các con cái Chúa trả lời là theo phong tục của người Chrau, khi có người chết thì họ sẽ vào rừng đốn một loại cây có gỗ mềm, đem về đẽo thành quan tài hình con cá (giống như quan tài mà các nhà khảo cổ tìm thấy trong hầm mộ tại Ai Cập). Làm xong một quan tài như vậy cũng phải mất hai tuần. Trong khi chờ đợi quan tài làm xong, thì họ sẽ tổ chức uống rượu để bớt mùi hôi, còn gà vịt, heo, bò, dê, của người qua đời phải đem ra làm thịt ăn hết và chia cho cả dòng họ.

Tôi cương quyết không chấp nhận việc làm mất vệ sinh như vậy. Tôi yêu cầu chỉ quàn xác hai ngày và một đêm, vì quan tài chỉ bằng những miếng ván mỏng manh, thời tiết địa phương Túc Trưng lại nóng khiến thi hài người chết rất mau hôi, nếu không chôn sớm thì tôi không làm Lễ An Táng.

Còn việc phải nói đến là tục lệ ăn uống trong lúc quàn xác. Đây là cơ hội để con cái Chúa dễ bị cám dỗ uống rượu say sưa, gây tốn kém một cách vô lý. Tôi yêu cầu không được tổ chức ăn gì cả, chỉ uống nước nhiều nhất là nước trà. Cá nhân tôi nói trước là không ăn không uống gì từ trong Lễ Tang. Một lần tôi thấy gia đình nghèo cũng cố chạy ra tiệm mua thiếu cho tôi một chai Coca Cola như họ thấy gia đình khá giả đã làm. Do đó, tôi phải thông báo giữa Hội Thánh nhiều lần là tôi chỉ đến làm lễ rồi ra về, không ăn không uống gì trong Lễ, một hoặc hai ngày sau khi an táng, tôi và Ban Cầu nguyện sẽ trở lại cầu nguyện với gia đình.

Cũng có con cái Chúa khiếu nại với tôi là những người chưa tin Chúa đến phụ giúp tang gia, họ đòi được uống rượu. Thế là tôi phải lập Ban Tương Trợ trong Hội Thánh để chịu trách nhiệm giúp con cái Chúa lo mọi việc từ lúc biết tin có người qua đời đến khi hoàn tất Tang Lễ, không để người chưa tin Chúa lo.

Một nan đề nữa là thói quen của con cái Chúa trong Hội Thánh chỉ đi dự Lễ tang gia đình nào là họ hàng, bà con, thậm chí người kế bên nhà không bà con họ cũng không đến dự buổi cầu nguyện hay đưa tang. Đôi lúc trong giờ an táng, chỉ có vợ chồng tôi, với vài người tín đồ (những người nầy là hai người mù trong Hội Thánh nhưng rất trung tín nhóm lại, thăm viếng, cầu nguyện). Vì quá ít người dự, lại không biết chữ, nên chúng tôi chỉ hát những bài Thánh ca thuộc lòng, mà những bài Thánh ca nầy lại không liên quan gì đến Tang Lễ, như bài "Mến Yêu Jêsus", "Đừng Sợ Chi", điệp khúc Thánh ca "Tin Cậy Vâng Lời". Tang Lễ thật buồn ! Tôi giảng vài bài về tinh thần trong Thân Thể Đấng Christ, kêu gọi con cái Chúa hứa nguyện sẵn sàng tham dự tang lễ, nhất là kêu gọi Thanh niên để có Ban Hát. Cảm ơn Chúa cho có rất nhiều người hứa nguyện, họ ký tên vào Bảng Hứa Nguyện tôi cho treo trong Văn Phòng.

Một lần có một con cái Chúa đi lính bị tử thương ngoài chiến trường, hai tuần sau đơn vị mới tìm được xác. Bốn giờ chiều, xe của đơn vị quân đội mà anh phục vụ chở quan tài của anh về đến nhà của thân nhân. Từ xa, tôi đã ngửi mùi hôi xông đến. Ngay lúc đó, tôi có mặt thay cho gia đình thân nhân cảm ơn đơn vị của anh. Tôi nhờ con cái Chúa dựng một cái rạp ngoài sân để quan tài, không cho đem vào nhà vì quá hôi. Tôi cũng thông báo 8 giờ sáng mai sẽ đem chôn. Gia đình của người chết khóc đòi để hai ngày, nhưng tôi nhất định không đồng ý vì lý do vệ sinh cho gia đình và cho hàng xóm; đồng thời tôi phải nhờ Chánh quyền địa phương đến thăm và ra lịnh chôn liền, không thì sẽ "phạt" gia đình. Buộc lòng gia đình phải vâng theo, dù tôi biết rằng họ không vui, nhưng vì sự sống của bao nhiêu người chung quanh.

Nan đề phải giải quyết nữa là những gia súc trong nhà của gia đình mà người vợ qua đời theo phong tục của người Chrau là phải đem làm thịt hết hoặc chia cho bà con bên vợ, họ không quan tâm gì đến những người còn lại trong gia đình. Tôi cương quyết không cho làm thịt một con thú nào cả, và không cho chia tài sản cho người
bà con nào, tất cả phải để lại cho những người sống trong gia đình hưởng, lo nuôi con cái của người chết.

Thật sự, tôi biết đó là ơn Chúa ở cùng tôi, Chúa cho con cái Chúa yêu mến chức vụ chúng tôi, nên thảy đều vâng lời. Ngoài ra còn nhiều tập tục hư xấu khác phải trừ bỏ, như:

* Tệ Hút Thuốc.

Người Thượng nhiễm tật hút thuốc rất nặng. Nhưng cảm ơn Chúa, Chúa đã cứu nhiều người ra khỏi tật ghiền thuốc. Một vài con cái Chúa chưa bỏ được cũng chỉ dám hút một cách lén lút. Sự thay đổi nầy cũng đã tác động trên một số con cái Chúa là những người Kinh từ Miền Trung vào sinh sống tại Túc Trưng. Lúc đầu số người Kinh nầy còn dám trồng cả cây thuốc lá tại sân nhà. Cảm ơn Chúa, đời sống thuộc linh của tín đồ người Thượng đã cảm động họ nhổ bỏ.

* Tệ Uống Rượu.

Người Thượng rất thích uống rượu, nhất là vào những dịp như cấy tỉa lúa, ngày Tết Việt-nam, ngày Tết của người Thượng (vào khoảng tháng 3 dương lịch). Người Việt-nam nào cũng nghe nói đến người Thượng với Rượu Cần. Cảm ơn Chúa cho con cái Chúa biết nghe lời tôi khuyên có, răn đe có, mà nhờ ơn Chúa cầu nguyện từ bỏ. Vào những ngày cấy tỉa lúa, tôi phải thường cùng vài con cái Chúa đi tuần tra vào khoảng 5, 6 giờ chiều, đó là giờ mọi người đi cấy tỉa lúa về thường họp chung ăn uống đãi những người giúp cấy tỉa dần công. Trong những dịp như vậy, con cái Chúa thường bị cám dỗ uống rượu, nhất là có người chưa tin Chúa tham gia. Có lúc tôi phải vào ngay bàn ăn tịch thu những chai rượu đem vứt bỏ.

Chúa cũng cho Hội Thánh có những ngày thật vui như:

Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Giáng Sanh

Dù số lượng tín đồ rất đông, nhờ ơn Chúa những năm tôi ở Túc Trưng đều cố gắng lo cho con cái Chúa trong Hội Thánh có được bữa ăn liên hoan Mừng Chúa Giáng sanh chung với nhau vào sáng ngày 25 tháng 12. Năm đầu tiên, Hội Thánh mua nửa con heo để làm bữa ăn chung. Những năm về sau, chúng tôi cho nuôi heo từ đầu năm. Lần lần số tín đồ gia tăng, cảm ơn Chúa cho nam phụ lão ấu đều chung dự. Các Thiếu nhi bao giờ cũng được cho ăn trước, sau đó toàn Ban Trị Sự, Chấp sự cùng các Thanh niên lo tiếp đãi các con cái Chúa, đợt thứ ba mới đến Ban Trị Sự và Chấp sự, Thanh niên và chúng tôi.

Năm 1980, vì tôi mới ở tù về  sau hai năm bị giam, ngân quỹ Hội Thánh không có, các con cái Chúa phải trải qua hai năm đói chung cả nước (1978-1979). Tôi nhận thấy tình hình tài chánh eo hẹp quá, nên đề nghị Ban Trị Sự Hội Thánh cho ăn tiệc ngọt Giáng sanh. Nhưng Ban Trị Sự Hội Thánh lại có ý kiến rằng vì hai năm tôi đi vắng, Hội Thánh không được ăn chung với nhau, năm nay có tôi, Hội Thánh phải ăn chung tiệc mặn, dù chưa biết giải quyết vấn đề tài chánh cách nào. Tôi thấy khó thông qua ý kiến tiệc ngọt, nên đề nghị lấy ý kiến chung trong Hội Thánh. Sáng Chúa nhật kế tiếp, tôi trình bày giữa Hội Thánh về tình hình tài chánh của Hội Thánh quá khó khăn, nên xin lấy ý kiến của tất cả con cái Chúa bằng cách biểu quyết giữa "tiệc ngọt" hay "tiệc mặn" ? Tôi có ý cho lấy biểu quyết tiệc ngọt trước, vì theo thường lệ lần đầu biểu quyết bao giờ cũng nhiều phiếu hơn. Bất ngờ là Hội Thánh đưa tay biểu quyết rất ít, đến tiệc mặn thì hầu như mọi người đều đưa tay. Ai cũng cười vui, tôi cũng cười mà lo trong lòng.

Sau giờ thờ phượng Chúa, các bà là những con cái Chúa gốc từ Miền Trung Quảng Nam, Quảng Ngãi (đây là các con cái Chúa từ Miền Trung di cư vào Căn Cứ 6, Căn Cứ 7, thuộc Hội Thánh Phúc Âm trước 1975. Thời gian sau 1975, Hội Thánh bị đóng cửa gần 10 năm, một số bỏ chạy vào Túc Trưng sinh sống) đến gặp tôi và Ban Trị Sự đề nghị Tiệc Giáng sanh cho ăn Mì Quảng, vì Hội Thánh có sẵn lúa gạo, chỉ cần bỏ công làm là được. Cảm ơn Chúa, Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Giáng sanh năm ấy, tất cả con cái Chúa đều góp phần vui vẻ. Hội Thánh cho ngâm một thùng phuy gạo (200 ký gạo); các Thanh niên thì đi tìm mượn cối đá về xay gạo bằng tay và thay nhau xay bột suốt ngày suốt đêm thành hai phuy bột. Các ông thì lo đắp lò tráng bánh, chặt củi. Các bà lo tráng bánh, xắt mì ngày đêm. Có người còn bày thêm Mì Quảng phải có bánh đa, thế là lại đi kiếm lá dừa về đan vỉ phơi bánh, thanh niên ra những lò than xin than vụn về rồi lấy gạch thả dài ra bỏ than vào, nam một bên, nữ một bên, ngồi nướng bánh đa suốt đêm 24 để sáng 25 có bánh đa nóng dòn ăn Mì Quảng. Tất cả tiền có được trong ngân quỹ xuất mua nửa con heo nấu nước nhưn. Thật như Chúa phán: "Thà một miếng bánh khô mà hòa thuận…" (Châm ngôn 17:1).

 Tết

Những ngày Tết, theo thông lệ, ngoài việc nhóm lại thờ phượng Chúa, làm chứng ơn Chúa sáng Mùng Một, rồi hiệp nhau đi thăm viếng chúc Tết, tôi tổ chức cho Hội Thánh có bữa ăn chung với bánh tét, thịt kho, dưa chua, sau giờ nhóm sáng Mùng Một. Các con cái Chúa có nếp thì mỗi nhà sẽ gói bánh đem đến một cặp khi đi nhóm sáng Mùng Một. Trong Hội Thánh cũng xuất nếp nhờ con cái Chúa trong Hội Thánh hẹn nhau chiều 30 tại nhà thờ gói và nấu thêm một số bánh, phòng khi có một số gia đình không có điều kiện gói bánh. Thật là vui không thể tả hết được!

Việc thăm viếng ngày Tết là một công việc rất đáng ngại cho tôi, vì yêu cầu của con cái Chúa là phải thăm chúc Tết trong vòng ba ngày Tết, ai cũng muốn Tết phải có Mục sư đến nhà. Có năm chúng tôi đã chia hai đoàn đi thăm, nhưng các con cái Chúa cứ chờ tôi, dù đã được đoàn kia thăm viếng rồi. Chúng tôi cũng phải tính toán  làm sao để dừng chân đúng chỗ vừa nghỉ vừa ăn tiệc với những gia đình con cái Chúa đã ghi tên mời trước "ăn nặng" vào những giờ qui định: 9 giờ sáng dừng một nhà, 12 giờ, 2 giờ, 4 giờ và 6 giờ. Do dó, cả đoàn thăm viếng Tết phân công khi đến nhà của một con cái Chúa, lập tức một người trong Ban Trị Sự thay lời cho đoàn chúc Tết chủ nhà một câu Kinh Thánh, rồi tôi cầu nguyện cho gia đình, các Thanh niên hát một bài đoản ca vui chúc mừng Xuân mới. Trong lúc đó có người được phân công phụ trách rót nước mỗi ly chỉ một chút nước mà thôi, không để chủ nhà rót, vì chủ nhà rót thì một ly nhiều quá uống không hết, vả lại còn phải đi nhiều nhà khác. Nếu chủ nhà mời ăn bánh, mứt, thì cũng có người được phân công phụ trách cầm lấy đứng bên cửa, mỗi người bước ra nhận một miếng tiếp tục đi nhà kế. Đoàn thăm viếng thì đông, thường không dưới 40 người, trong khi nhà con cái Chúa thì đa số là nghèo, nhỏ, chật hẹp, không có đủ chỗ ngồi, nên mọi người đều được căn dặn trước tự động tìm chỗ ngồi, nhưng chủ yếu là đứng. Dù rất mệt nhọc, nhưng Tết năm nào, mọi người đều thích được tham gia. Việc thăm viếng nầy cũng là một đặc sắc của Hội Thánh Tin Lành, vì chỉ có người Tin Lành mới đi thăm chúc Tết như vậy, trong khi các Tôn giáo khác không hề có, cho nên cũng gây tiếng tốt cho Danh Chúa.

TINH THẦN DÂNG HIẾN

Ngày tôi về nhậm chức tại Túc Trưng, thấy quyển sổ tài chánh của Hội Thánh là một quyển sổ vuông rất lớn, mỗi cạnh là 4 tấc khi gấp lại, tôi cứ nghĩ sự dâng hiến lớn lắm. Khi mở sổ ra xem, thấy danh sách tín hữu dâng hiến mỗi tháng thật dài, nhưng khi cộng lại thì tổng số tiền dâng không nhiều, chủ yếu là tiền hộp hằng tuần. Đa số con cái Chúa quá nghèo, tiền bạc đối với họ là cái gì quá hiếm, nhưng tôi vẫn cứ khuyến khích con cái Chúa dâng một phần mười cho Chúa. Cảm ơn Chúa lần lần các con cái Chúa bắt đầu dâng một phần mười từ tiền bán gà, bán trái mít, bán rau, bán heo.

Tôi vẫn nhớ tấm lòng dâng hiến một phần mười của một tín đồ người Thượng nghèo. Ông tên là Điểu Gian, nhưng lòng ông thật không có chút chi gian ác, mà trái lại rất yêu mến Chúa. Khi những ngày của biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đến gần, một số con cái Chúa bỏ chạy lánh nạn. Khi cuộc chiến vừa tàn, ai nấy trở về với bao nhiêu mất mát, có người không còn gì để ăn, tôi phải tổ chức nấu cháo, nấu cơm, tạm cho họ đỡ lòng qua một bữa. Sáng Chúa nhật đầu tiên sau khi trở về, ông Điểu Gian đi nhà thờ và gặp ông Thủ Quỹ của Hội Thánh, ông Gian móc trong túi ra một gói nylon, trong đó có một số tiền. Ông Gian nói với chúng tôi rằng ngày ông chạy lánh nạn chiến tranh, ông có dắt theo hai con trâu, trên đường, vì không thể nuôi nữa, nên ông đã bán lấy tiền tiêu xài. Tuy nhiên ông vẫn để dành một phần mười tiền bán trâu đem về dâng cho Chúa. Còn nói được lời nào trước tấm lòng của ông Gian không ?!

Tôi cũng vẫn nhớ một con cái Chúa được kêu theo tên chồng là Bà Bá. Năm 1980 bà từ Hội Thánh Phúc Âm ngoài Bình tuy vào Túc Trưng tìm cách di chuyển gia đình vào sinh sống. Bà tạm đi làm cỏ mướn, chắt chiu từng đồng, nhất là những năm đó là những năm thiếu ăn. Thế mà bà cứ trung tín để dành tiền một phần mười dâng cho Chúa. Một chiều thứ bảy, lúc bấy giờ sau những ngày ở tù hai năm về, tôi bịnh nhiều lắm, bị ho suốt, trừ sáng Chúa nhật, còn suốt ngày tôi phải nằm trên chiếc võng cũ, nghĩ đến ngày mai là Chúa nhật, tôi thèm ăn một miếng gì đó ngoài món đọt đậu rồng chấm tương mà gia đình chúng tôi phải ăn cả tuần. Thèm ăn với ý nghĩ là hi vọng có một chút sức để có thể giảng dạy ngày mai. Nhưng đó chỉ là ý nghĩ thôi, vì gia đình tôi không còn tiền suốt tuần rồi.

Độ hơn bốn giờ chiều, bà Bá đến thăm tôi trên đường đi làm cỏ mướn về. Bà nói tuần qua bà đi làm cỏ mướn được năm mươi lăm đồng, bà dâng một phần mười cho Chúa là năm đồng năm mươi xu. Bà vừa nói vừa móc trong túi áo rách vá chằng vá đụp mặc đi làm mướn còn ướt đẫm mồ hôi, một gói nylon nhỏ và đếm tiền đưa cho tôi. Tôi nói với bà: Bà dâng tiền thì để sáng mai Chúa nhật đi nhà thờ, bà đưa cho Thủ Quỹ Hội Thánh. Nhưng bà Bá nói: Tôi biết. Nhưng Chúa thúc giục tôi đưa số tiền nầy cho ông Mục sư, còn tiền dâng ngày mai tôi có rồi. Cảm ơn Chúa, thế là buổi chiều hôm đó, tôi có được một tô hủ-tíu hai đồng, còn lại hai đồng năm mươi lăm xu để mua cá khô cho cả nhà ăn qua ngày tiếp tục hầu việc Chúa.

Nói đến dâng một phần mười, tôi cũng phải nói đến sự trung tín dâng một phần mười lúa cho Chúa của các con cái Chúa tại Túc Trưng. Sau Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus giáng sanh đầu tiên của chức vụ chúng tôi tại Túc Trưng (năm 1972), một hôm có mấy người tín đồ có người gùi lúa tới, có người chở những bao lúa tới tư thất, hỏi tôi: Thầy ơi, lúa nầy để đâu ? Tôi ngạc nhiên hỏi: Lúa gì vậy ? Con cái Chúa trả lời: Lúa dâng một phần mười cho Chúa. Tôi không hiểu gì hết, nên bảo tạm thời để tập trung một chỗ, chờ tôi hỏi Ban Trị Sự Hội Thánh. Một sự ngạc nhiên rất thích thú cho tôi, khi biết rằng từ năm 1951, nghĩa là từ lúc Hội Thánh được thành lập tại Túc Trưng, Truyền giáo Nguyễn Hậu Lương đã dạy con cái Chúa người Thượng biết dâng một phần mười ngoài tiền bạc, họ cũng dâng lúa cho Chúa.

Tôi nói với Ban Trị Sự Hội Thánh tại sao dâng tiền thì cầu nguyện nghiêm trang, còn dâng lúa lại âm thầm đem vào kho. Tôi yêu cầu cho tổ chức một Lễ Dâng Hoa Màu Cho Chúa giữa nhà thờ, mục đích cho con cái Chúa làm chứng ơn Chúa trong vụ mùa vừa qua, vừa hiệp lại cầu nguyện cho vụ mùa năm tới. Cảm ơn Chúa cho các con cái Chúa rất cảm động, khiến những người chưa biết dâng cũng đã bắt đầu dâng. Số dâng có năm lên đến gần 300 giạ (một giạ = 40 lít). Ban Trị Sự Hội Thánh sắp xếp để một bồ lúa riêng dành cho chủ tọa Hội Thánh ăn suốt năm; số còn lại chia ra từng nhu cần năm mới: Để dành ngân quỹ Hội Thánh bao nhiêu, dành cho chi phí đi dự Hội Đồng Địa Hạt, Hội Đồng Tổng Liên Hội bao nhiêu; để dành cho những ngày Lễ lớn trong Hội Thánh như Lễ Phục Sinh, Lễ Giáng Sinh, Tết, những dịp Bồi linh, dịp Truyền giảng, cũng dành phần cứu đói cho tín đồ vào những tháng 7 và 8 hằng năm. Đặc biệt cũng dành ra một số cho con cái Chúa trong Hội Thánh mượn ăn hoặc làm giống (số lúa mượn nầy khi trả thì có lời, mục đích để hạn chế và không ai phân bì).

Sau năm 1975, Chánh quyền mới ra lịnh cho dân chúng trong Xã phải đóng thuế Nông Nghiệp bằng lúa, lịnh nầy gặp phản ứng của dân các Ấp khiếu nại là mới hòa bình, mùa màng bị thất mùa, dân chúng đưa ra rất nhiều lý do để xin miễn thuế. Khi những Cán bộ thuế đến họp dân tại hai Ấp Đồng Xoài và Đức Thắng, hai Ấp đa số là người Tin Lành, họ cũng gặp phản ứng khiếu nại giống như 9 Ấp kia, mặc dù hai Ấp là của người Thượng. Họp xong, con cái Chúa ra về đến gặp tôi (tôi không đi họp những buổi như vậy, nhất là Ban Trị Sự Hội Thánh cũng không muốn tôi đi họp với lý do Mục sư đâu phải dân đâu mà đi họp, thường các con cái Chúa đi họp hoặc các con cái Chúa làm việc trong Ấp, về thuật lại cho tôi nghe) thuật lại lời những Cán bộ thuế nói: Nhà Nước bảo bà con đóng thuế Nghĩa Vụ Nông nghiệp, thì bà con nói mất mùa, mới hòa bình, đưa nhiều lý do để không đóng thuế; nếu ông Thầy ở  nhà thờ (họ ám chỉ tôi) bảo dâng cho Chúa, bà con dâng hết liền. Rồi con cái Chúa hỏi tôi: Năm nay Hội Thánh có tổ chức Dâng Lúa nữa không, Mục sư ?. Tôi trả lời bằng cách yêu cầu các con cái Chúa trả lời ba câu:

1.      Thứ nhất: Ai bảo anh chị em dâng hiến ? Chúa bảo hay Mục sư bảo ? Con cái Chúa trả lời: Chúa bảo. Tôi nói: ‘Thế thì chúng ta cứ vâng lời Chúa mà làm theo Chúa dạy.

2.      Thứ hai: Anh Chị em dâng cho AI ? Cho Mục sư hay cho Chúa? Con cái Chúa trả lời: Dâng cho Chúa. Tôi nói: Dâng cho Chúa thì cứ dâng.

3.      Thứ ba: Anh chị em dâng như vậy có phước hay vô phước? Con cái Chúa trả lời: Có phước!. Tôi nói: Có phước thì cứ dâng.

Và cảm ơn Chúa cho con cái Chúa tiếp tục trung tín dâng chẳng sợ hãi gì. Lạ lùng thay, Chánh quyền cũng không ai nói gì, dù Hội Thánh tổ chức dâng hiến công khai chất đầy lúa trong nhà thờ để cầu nguyện trước khi đem vào kho.

Ngoài sự dâng hiến tiền bạc, dâng lúa, các con cái Chúa cũng thường đem cho chúng tôi những thức ăn mà họ có được như: rau muống ruộng, đọt bí, bông bí, cải trời, bí đỏ, … Mỗi buổi chiều đi rẫy về, con cái Chúa ghé vào tư thất cho chúng tôi những bó rau thật to bằng cả người ôm. Đến mùa bắp, cứ mỗi ngày có từ năm đến mười gia đình cho ít nhất mười trái bắp, thì chúng tôi đã có trên 100 trái bắp tươi, ngọt, ngon vì là bắp mới bẻ từ rẫy về, mà lại là loại bắp nếp nữa. Với số lượng bắp nhiều như vậy, chúng tôi không thể nấu hay nướng từng trái, mà phải xát ra rồi rế cơm để ăn. Mãi nhiều năm sau đã về Sàigòn, các con tôi vẫn còn nhớ đến những trái bắp tại Túc Trưng ngon ngọt, chê bắp Sàigòn cứng và khô.

Có khi con cái Chúa cho cá hoặc bán giá rẻ, vì những con cá to quá, ngoài chợ họ lại không chịu mua. Một lần khi con cái Chúa biết chúng tôi có thể ăn thịt lươn, những người có nghề xơm lươn lại đem cho chúng tôi những con lươn vàng thật to. "Xơm lươn" là người dùng một cái chỉa hai hoặc chỉa có ngạnh, họ tìm những vũng bùn sình rồi xơm xuống. Khi con lươn bị xơm trúng, nó sẽ vặn mình, nhưng nhờ cái ngạnh của chỉa, họ sẽ bắt được lươn, đôi khi họ bắt được rất nhiều. Cũng có thịt rừng nữa, những con cheo, nai, heo rừng, chim, khỉ, kỳ đà, gà rừng, mật ong rừng (không sợ bị giả). Đặc biệt là thịt dê của tín đồ nuôi, nên chúng tôi cũng được thưởng thức món cà-ri-dê.

NHỮNG TÌNH HUỐNG ĐẶC BIỆT:

Tín Đồ Giết Người!

Chiều Chúa nhật, tôi đang dạy Kinh Thánh cho các Thanh niên, ông Ba Lam đến báo tin cho tôi: Thầy ơi, thằng Đệ tôi (Đệ là rể của ông) bắn chết người rồi! Vừa nghe, tôi bủn rủn cả người, nhưng cố giữ và nói: Ông Ba về trước, tôi đến liền. Lập tức tôi cho lớp học cầu nguyện kết thúc, rồi lấy xe Honda chạy ra tới cổng sau nhà thờ thì Trung Úy Trưởng Cuộc Cảnh Sát cũng vừa chạy vụt ngang qua hướng về nơi xảy ra vụ án. Đến hiện trường thì Trung Úy Trưởng Cuộc bắt tay tôi, còn tôi chủ động nói trước: Cái anh Thổ Đệ nầy là một tín đồ tốt, không biết tại sao xảy ra vụ việc. Viên Trung Úy Trưởng Cuộc Cảnh Sát trấn an tôi: Mục sư yên tâm, để tôi xem thế nào. Tôi đi theo viên Trung Úy Cảnh sát đo đạc tầm bắn, nghe nhân chứng, kể cả vợ của nạn nhân. Gia đình nạn nhân và ông Ba Lam (cha vợ của Thổ Đệ, người gây án) là bà con và ở kế bên nhà. Nạn nhân vốn có bịnh thần kinh lại say rượu, cầm cây xà-beng xông vào nhà của ông Ba Lam rượt các con của ông, trong đó có Thổ Đệ là người lớn trong số đó. Anh Đệ đã đứng ra cản bằng cách dụ cho nạn nhân rượt, Anh Đệ chạy về nhà bên kia đường rồi đóng cửa trốn trong nhà. Nhưng nạn nhân dùng cây xà-beng cạy cửa. Lúc ấy vợ con của Thổ Đệ ở trong nhà, quá sợ hãi, nên Anh Đệ lấy cây súng Carbin được phát cho những Nhân Dân Tự Vệ để gác ban đêm, anh đi từ cửa sau ra trước chỉa súng vào nạn nhân đang phá cửa nhà của anh, anh quát bảo bỏ xà-beng xuống, nhưng nạn nhân xông tới và anh Đệ đã nổ súng cách nhau một mét, đạn xuyên từ lồng ngực trước ra phía sau, nạn nhân ngã gục chết tại chỗ.

Thảo luận với viên Trung Úy Cảnh sát, tôi ký biên bản bảo lãnh Thổ Đệ về nhà. Tôi cũng yêu cầu gia đình hai bên (đều là tín đồ) dàn xếp nhau để gia đình Thổ Đệ lo mai táng nạn nhân, giúp đỡ những điều cần. Đến ngày giải giao Thổ Đệ xuống Tòa án tỉnh Biên hòa, tôi cùng đi và vào gặp vị Biện lý để giải thích thêm ngoài Biên Bản của Cảnh Sát Cuộc sở tại, đồng thời xin bảo lãnh cho Thổ Đệ được tại ngoại hầu tra. Cảm ơn Chúa, ba tháng sau, Tòa tuyên án phạt Thổ Đệ ba tháng tù treo. Gia đình hai bên cũng hòa thuận. Cảm ơn Chúa !

Đối Diện Cơn Giận Dữ

Trong khi đi thăm viếng, tôi được biết một chị tín đồ làm vợ bé cho một tín đồ đang đi lính Biệt Động Quân. Anh nầy đã có vợ và một con gái (cũng là tín đồ trong Hội Thánh). Tôi khuyên chị tín đồ làm vợ bé đó không được tiếp tục quan hệ với anh tín đồ kia.

Buổi tối hôm đó, tôi đang ngồi nói chuyện với hai tín đồ ngoài hành lang tư thất, lúc bấy giờ chỉ xài đèn dầu nhỏ, vì chưa có điện, chợt nghe tiếng của anh tín đồ đi lính Biệt Động Quân từ phía sau nhà thờ, vừa đi vừa la lớn với giọng đang say rượu: Ông Thầy đâu rồi? Tại sao ông không cho tôi lấy vợ bé? Tôi cũng nghe tiếng lên cò súng rốp rốp của anh ấy. Hai người tín đồ đang ngồi nói chuyện với tôi lập tức đứng dậy định đi ra ngăn anh ấy, nhưng tôi bảo cả hai bình tỉnh ngồi xuống. Anh ấy đi vào từ cổng sau nhà thờ, từ từ hướng về chỗ tôi ngồi, vừa đi vừa la lớn, trên tay bồng khẩu súng. Tôi đợi anh ấy đến gần và lên tiếng: Anh Tiên (tên của anh ấy) phải không? Đột nhiên anh dừng lại và trả lời: Dạ. Tôi nói tiếp: Bây giờ anh đi về ngủ. Sáng mai 8 giờ ra gặp tôi. Thôi, về ngủ đi ! Cảm ơn Chúa, anh ấy ngoan ngoản quay lại và đi về. 8 giờ sáng hôm sau, anh ấy đúng hẹn ra tư thất gặp tôi và khóc xin lỗi tôi. Sau khi nghe tôi giải thích, anh xin cầu nguyện ăn năn và hứa về với người vợ lớn và con của anh, không liên hệ với người vợ bé nữa. Thật, cơn giận loài người ngợi khen Chúa, còn sự giận dư lại Chúa sẽ ngăn trở (Thi thiên 76:10)

ĐƯỢC TẤN PHONG CHỰC VỤ MỤC SƯ

Hôm nay tôi qua Long Khánh giúp Mục sư Nguyễn Hữu Viễn giảng truyền giảng Tin Lành. Mục sư Viễn là chủ tọa Hội Thánh tại Long Khánh, ông đang tổ chức truyền giảng tại sân nhà thờ. Mục sư Viễn dựng bục giảng trước vòm cửa nhà thờ, lấy sân nhà thờ và sân Trường Tin Lành kế bên để đón thân hữu. Đến Long Khánh, thầy Truyền Đạo Đỗ Hữu Hoàng vừa gặp tôi đã hỏi: Ủa sao Thầy còn ở đây ? Tôi ngạc nhiên không biết việc gì. Thầy Hoàng cho tôi hay là Ban Trị Sự Địa Hạt đã trình Tổng Liên Hội xin phong chức cho 5 Truyền đạo, trong đó có tôi, còn bốn vị kia là Truyền Đạo Đặng Ngọc Thẳng, Truyền Đạo Nguyễn văn Xoàn, Truyền Đạo Nguyễn Hữu Tín, và Truyền Đạo Nguyễn Thành Tâm. Suốt hai tuần qua bốn vị đã ra Vũng tàu mướn khách sạn ở để tập trung ôn lại chuẩn bị thẩm vấn sát hạch; phần tôi không hay biết gì cả, do Túc trưng là Xã ở xa, có lẽ thư của Địa Hạt gởi tôi bị thất lạc.

Tôi nghĩ không còn cách gì khác hơn là cứ ở lại giảng cho buổi tối hôm đó. Sáng hôm sau, tôi lên đường về Sàigòn dự thẩm vấn. Nhà tôi và Hội Thánh tại Túc Trưng không hay biết gì cả.

Về tới Sàigòn, ghé ngang qua Trụ sở Địa Hạt, tôi gặp bà Mục sư Nguyễn văn Quan và được xác nhận đúng 9 giờ sẽ thi giảng, mỗi người giảng 15 phút, còn 2 giờ chiều sẽ khẩu vấn.

Khi trở lại nhà thờ Nguyễn Tri Phương, tôi thấy Bảy Vị Mục sư trong Hội Đồng Thẩm Vấn hiện diện đầy đủ với 4 Thầy Truyền Đạo cầu phong, mỗi người cầm trong tay tập bài giảng đã chuẩn bị chu đáo; còn tôi chỉ có quyển Kinh Thánh trong tay, nên tôi tự nghĩ thôi thì cứ giảng lại bài giảng đã giảng vào sáng Chúa nhật vừa rồi ở Túc Trưng với đề tài: ĐIỀU RĂN MỚI. Buổi chiều, các Thầy mỗi người đầy đủ những câu trả lời theo quyển QUI ĐIỀU THẨM VẤN CHỨC VỤ MỤC SƯ, kèm theo nào sách Thần Đạo học của Giáo sĩ John Drange Olsen, nào giải nghĩa Tiên Tri Đaniên… Tôi chỉ có quyển Kinh Thánh. Người vào thẩm vấn trước bị sát hạch đến một giờ bốn mươi lăm phút, chúng tôi ở trong phòng xốn xang, lo lắng khi nghe Ban Thẩm Vấn rầy la Thầy ấy. Tôi là người thứ hai được gọi, tôi cứ nghĩ đến giờ nầy muốn học cũng không có thì giờ, tôi tự trấn an mình: thôi thì cứ coi Bảy Vị ấy là những người chưa tin Chúa hỏi mình, nghĩ như thế lòng tôi thấy Chúa cho bình tỉnh lạ.

Vừa ngồi xuống ghế, Mục sư Phạm văn Năm đã đẩy chiếc ghế có bánh xe của ông đang ngồi đến sát tôi, choàng tay qua cổ tôi và hỏi liền: Thầy có học Kinh Thánh mỗi ngày không ? Tôi đáp: Dạ có. Mục sư Năm hỏi tiếp: Hôm qua học sách gì ? Đoạn nào? Câu nào ? Câu đó nói gì? Những câu hỏi dồn dập dễ gây bối rối. Cảm ơn Chúa cho buổi thẩm vấn cũng qua với độ 45 phút. Tôi ra về và về thẳng Túc Trưng.

Ngày 17 tháng 3 năm 1975, Chúa cho tôi được tấn phong chức vụ Mục sư. Suốt ngày hôm đó, tôi trông đến mỏi mòn Ban hát Thanh niên Hội Thánh tại Túc trưng theo dự định sẽ hát cho Hội Đồng Thanh niên Đông Nam Hạt tại nhà thờ Gia Định, nhưng không ai đến, mà tôi cũng không biết tại sao. Đến tối, sắp đến giờ cử hành Lễ Phong chức tổ chức tại nhà thờ Nguyễn Tri Phương, tôi cũng không thấy Nhà tôi, không thấy Ban Trị Sự Hội Thánh tại Túc Trưng, không thấy Ban Hát như chương trình dự định (Hội Thánh đã quyết định tổ chức mướn ba chiếc xe đò dài chở Ban Hát, cùng toàn Ban Giáo chức của Trường Tin Lành tại Túc Trưng, Ban Chấp Sự và một số con cái Chúa, xuống Sàigòn dự Lễ phong chức của tôi. Trong đó Hội Thánh sẽ tặng quà cho tôi là bộ đồ veston mới để tôi mặc trong Lễ Phong chức. Tôi đi trước để dự Lễ khai mạc Hội Đồng Thanh niên, sau đó phái đoàn sẽ xuống với Nhà tôi và các con. Vì thế tôi chỉ đem theo quần áo cho ngày hôm sau, còn tất cả chờ đoàn đem xuống). Không một tin tức nào được gởi đến, vì thời đó phương tiện truyền thông còn quá hiếm, tin tức chỉ chờ nghe từ các Đài Phát Thanh ngoại quốc). Tôi sốt ruột vì ít nhất Nhà tôi cũng phải xuống để đem quần áo cho tôi thay nhưng cũng không thấy.

Còn độ 15 phút nữa thì Lễ Phong Chức được khai mạc, Mục sư Nguyễn văn Quan, Chủ Nhiệm Địa Hạt bảo tôi: Dù sao thì ông cũng phải đi tắm và chuẩn bị. Cảm ơn Chúa, tôi vừa quay vào thì Nhà tôi với hai ông trong Ban Trị Sự Hội Thánh với một vài tín đồ vừa tới. Hối hả, tôi chuẩn bị lên nhà thờ chịu Lễ, mà cũng chưa biết việc gì xảy ra.

Vừa dứt Lễ phong chức, bước ra tới sân nhà thờ, thì Mục sư Phang Quang Thiệu (lúc đó còn là Truyền Đạo) đã kề tai tôi nói nhỏ: Mất Định Quán rồi !. Và bấy giờ tôi mới biết là vì quân đội Cộng sản đã chiếm Định Quán, các loạt đạn pháo bắn phá đường đi, mọi xe cộ đều ngưng chạy, nên Hội Thánh phải hủy bỏ chương trình du ngoạn Mừng tôi được phong chức. Đến 3 giờ chiều, Nhà tôi và mấy ông Ban trị Sự Hội Thánh với vài tín đồ liều đi bộ một quãng đường rồi lên xe xuống Sàigòn. Cảm ơn Chúa cho vừa kịp lúc.

Sáng hôm sau, trong giờ Hội Đồng Địa Hạt nghỉ giải lao, ông bà Mục sư Đoàn văn Miêng, Hội Trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt-nam khuyên tôi đừng trở lại Túc Trưng vì tình hình khẩn cấp lắm. Mục sư Hội Trưởng bảo tôi ở lại Sàigòn và sẽ sắp đặt chức vụ cho tôi. Tôi phân vân đến trưa thì vợ chồng tôi quyết định về lại Túc Trưng, vì nghĩ đến sự hoang mang của con cái Chúa, trong khi những tín đồ dự Lễ phong chức đã về ngay khuya hôm đó.

Trên đường về, chỉ có vợ chồng tôi và đứa con trai út trên xe với tài xế và một người lơ xe, trong lúc hàng đoàn xe chạy ngược chiều về hướng Sàigòn đầy ắp người. Một cuộc đón mừng đầy nước mắt của con cái Chúa, họ khóc vì nghĩ rằng chúng tôi đã bỏ họ. Một số tín đồ cũng theo dòng người chạy lánh nạn đi rồi.

Chúng tôi cứ ở Túc Trưng, cứ nhóm lại thờ phượng Chúa, cứ nhóm cầu nguyện như thường lệ hằng ngày, dù số tín đồ giảm một phần ba do chạy lánh nạn, nhưng toàn Ban Trị Sự vẫn còn đầy đủ. Cuộc chiến giằng co ngay cầu La Ngà, cách Túc Trưng độ 13 cây số. Thêm một việc là Mục sư Phạm văn Thanh, chủ tọa Hội Thánh tại Định Quán về Sàigòn dự Hội Đồng một mình, bây giờ về Định Quán không được nữa, ông phải ở lại Túc Trưng với chúng tôi để chờ tin tức của bà và 6 người con còn kẹt ở Định Quán chưa biết sống chết ra sao. Ngày ngày có những người từ Định Quán chạy thoát được xuống, cuối cùng chúng tôi cũng được tin từ một chị tín đồ: Bà Mục sư Thanh và các cháu còn sống, nhà thờ thì bị cháy hết.

Ngày thứ tư 17 tháng 4 năm 1975, một ngày lịch sử của Túc Trưng. Sau giờ cầu nguyện trên nhà thờ như thường lệ từ 4 giờ đến 5 giờ sáng, thì ông Trưởng Ấp Đồng Xoài chạy đến gặp tôi báo tin: Ông Mục sư ơi, có lịnh di tản! Ông nói xong là bỏ đi ngay. Vừa lúc ấy, tôi nghe những tiếng nổ phía đồn lính địa phương quân gần nhà thờ. Sau khi nói lại cho Nhà tôi biết, tôi liền đi đến chỗ đồn lính. Đến nơi thấy mọi người đang thu dọn và tôi được xác nhận là có lịnh di tản.

Trở lại nhà thờ, tôi không biết quyết định thế nào, có nhiều tín đồ đã hay tin và chạy ra nhà thờ hỏi ý kiến của tôi. Đang lúc ấy có một đoàn quân đi bộ về hướng Sàigòn trên quốc lộ 20, tôi đứng nhìn thì thấy có một người mặc quân phục với đầy đủ súng ống, đang đi bỏ hàng đi về phía tôi đang đứng. Người lính ấy là viên Trung Úy Trưởng Cuộc Cảnh sát, anh ấy chào tôi và cho biết có lịnh di tản, anh yêu cầu tôi với gia đình cùng đi, anh và lính của anh sẽ yểm trợ cho chúng tôi. Tôi cảm ơn anh và nói: Trung Úy có lính của Trung Úy; tôi có tín đồ của tôi. Tôi chỉ đi khi nào không còn tín đồ nào ở đây. Thôi Trung Úy đi đi, lính của Trung Úy đang chờ. Anh ấy suy nghĩ một chút, rồi đứng thẳng người chào kính tôi trước khi quay lưng tiếp tục đi.

Lúc bấy giờ tín đồ kéo đến nhà thờ quá đông, hầu hết là những người già, phụ nữ, trẻ con. Ban trị Sự Hội Thánh còn lại đầy đủ với tôi, chúng tôi quyết định tạm lánh một nơi nào đó có nước uống, vì lo rằng máy bay sẽ oanh kích hoặc có giao tranh; còn nếu đi đường quốc lộ thì chắc chắn gặp đánh nhau, rất nguy hiểm. Tôi cho chất lên xe máy cày của Hội Thánh mấy bao gạo, một phuy dầu gas-oil phía trước đầu xe máy cày, nước uống một ít. Cuối cùng sắp xếp những người già và trẻ con lên rờ-móc xe máy cày, những người còn lại thì đi bộ hoặc đi xe đạp chở người theo.

Khi chiếc xe máy cày rời cổng nhà thờ, tôi nhìn lại và nước mắt tôi tuôn chảy, lòng xót xa tự nghĩ: Ai sẽ coi sóc Nhà Chúa ? Nhìn lại đoàn người toàn là già, yếu, những người mạnh khỏe đã đi trước lâu rồi …. Bao nhiêu suy nghĩ, đoàn người di chuyển chưa đến một cây số, tôi yêu cầu hội ý với Ban Trị Sự và chúng tôi quyết định trở lại nhà thờ, vì không thể đi đâu với số người quá đông và quá yếu.

Vừa trở lại nhà thờ, một thảm cảnh đau lòng diễn ra, tất cả trẻ con khát nước òa ra, khóc đòi uống nước khi chúng thấy cái giếng nước. Một mặt tôi cho các bà lấy gạo nấu cháo ngay, một mặt tôi ra lịnh cho các thanh niên chạy về các khu vực nhà ở của tín đồ giữ an ninh, vì e rằng trong lúc giao thời chưa có Chánh quyền sẽ có người lợi dụng trộm cướp. Các thanh niên đã về kịp lúc để rượt đuổi những kẻ xấu đã vào nhà của tín đồ.

Sau khi mọi người ăn cháo lấy lại sức, tôi nhờ Ban Trị Sự Hội Thánh phát cho mỗi gia đình ít gạo, mì gói của Trường học còn lại, lần lượt các con cái Chúa trở về nhà. Độ chừng 20 phút sau, một đoàn lính quân đội Cộng sản cầm súng đi dọc hai bên theo quốc lộ từ hướng chợ xuống. Tôi đứng trước hiên tư thất nhìn, lần đầu tiên thấy người Cộng sản. Một chế độ mới bắt đầu ! Chiều nay là chiều thứ tư, một vài con cái Chúa ra nhà thờ với vẻ lo lắng hỏi tôi: Mục sư ơi, có giật chuông nhóm cầu nguyện không? Tôi trả lời: Có chớ! Đó là buổi nhóm cầu nguyện đầu tiên trong chế độ mới.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 4 guests online.

Hosting by