You are hereCĐTT 008

CĐTT 008


By admin - Posted on 09 November 2008

NHỮNG NGÀY THIẾU THỐN

Tôi ở tù về ngày 23 tháng 4 năm 1980, nhờ ơn Chúa, Nhà tôi quyết định không buôn bán nữa, dành trọn thì giờ cùng tôi lo công việc Chúa. Chúng tôi đã sống những ngày đầy thiếu thốn vật chất, không ai trong lãnh đạo Giáo hội ngoài Cụ Mục sư Hội Trưởng Ông văn Huyên và Mục sư Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng quan tâm thăm hỏi. Dường như các vị lãnh đạo khác của Giáo hội đều sợ liên hệ đến một người đã bị Chánh quyền bắt giam, mà họ không biết rằng tôi đã trả giá thà ở tù để họ được bình an.

Trước khi tôi được thả về ba tháng, những người trong phòng giam phát giác sao người của tôi càng ngày càng ốm xanh đến nám đen. Nhơn một hôm Bác sĩ của Trại giam đến thăm hỏi bịnh trong Phòng giam theo lệ thường (Bác sĩ tên Hùng, nhưng các tù nhân đều gọi ông là Bác sĩ "KHÔNG SAO", vì mỗi lần ai khai bịnh gì, ông đều nói: "Không sao". Bác sĩ nầy vốn là một cán bộ Cộng sản ngoài Bắc đã ra hồi chánh trong chế độ trước. Sau năm 1975, ông bị bắt, nhưng vì vốn gốc là cán bộ Cộng sản nên được cho làm Y-sĩ trong Trại giam), anh em trong phòng giam đẩy tôi tới cửa và yêu cầu Bác-sĩ Hùng khám bịnh cho tôi: Bác sĩ coi giùm anh nầy sao càng ngày càng ốm xanh quá. Hầu như cả phòng giam đều quan tâm đến tôi, nên gây một sự chú ý cho bác sĩ Hùng. Tuy nhiên tôi từ chối được khám bịnh, lý do của tôi nói với Bác-sĩ là dù biết có bịnh cũng đâu có điều kiện chữa bịnh. Dù vậy, Bác-sĩ Hùng đã nói một câu làm tôi thật cảm động: Nhưng ít ra anh cũng cho tôi làm trọn lương tâm của một Y-sĩ chớ. Vì câu nói đó, tôi nghĩ ông ấy đâu cần quan tâm đến tôi, anh em trong phòng giam cũng đâu cần lo như vậy, nhưng tất cả đầy tình yêu thương đối với tôi. Sau khi dùng ống nghe khám phổi của tôi, Bác-sĩ Hùng nói: Tôi không có đủ dụng cụ, nên không thể quyết định chắc về bịnh của anh. Bây giờ tôi viết toa thuốc, anh đưa cho cán bộ quản giáo xin gởi về nhà để người nhà gởi thuốc vào điều trị. Thật bất ngờ hơn nữa, ngày hôm sau Bác-sĩ Hùng đã cho chuyển đến tôi một lọ thuốc bổ đa sinh tố dạng thuốc cốm, chuyện chưa từng có trong Trại giam, một tù nhân được uống thuốc bổ. Tôi biết đó là cả một cố gắng lớn lao mà vị Bác-sĩ nầy có thể làm cho tôi. Tôi thật khó quên tấm lòng của ông và của những người trong phòng giam ngày ấy. Tôi viết những lời nầy để nhớ đến họ như một lời tri ân.

Ba tháng sau, tôi về, toa thuốc đó cũng không thấy tới và không hề tới. Và cũng ba tháng sau khi về, vì cố gắng chỉnh đốn lại công việc Chúa trong Hội Thánh, nổ lực truyền giảng Tin Lành, nhất là chương trình truyền giảng tại tư gia mà Chúa cho kết quả rất tốt - trong ba tháng có trên 40 người tin Chúa, trong lúc điều kiện ăn uống không có do Hội Thánh quá nghèo, mà chúng tôi cũng không còn gì, chứng bịnh tôi bị trong tù bùng phát. Ngày 20 tháng 7 năm 1980, sau khi giảng một bài về Sự Chữa Bịnh, đang khi chúc phước kết thúc giờ thờ phượng, tôi ngã gục trên tòa giảng, sau một tuần phát động Chương trình Mời Bạn Đến.

Từ đó bịnh của tôi càng ngày càng nặng, tôi bị ho liên tục, chỉ nằm trên chiếc võng dốc dốc để dễ thở hơn. Ngay cả lúc ngồi chờ lên giảng, tôi cũng họ sặc sụa, bên cạnh  tôi, Nhà tôi luôn để dĩa chanh xắt nhỏ chấm muối để tôi ngâm dỡ khô cổ. Cảm ơn Chúa, thât lạ lùng là khi vừa bắt đầu giảng thi cơn ho chấm dứt, giảng xong lại tiếp tục ho. Thân thể tôi càng ngày càng ốm, càng xanh xám. Có lần sau giờ cầu nguyện buổi chiều thường lệ trên nhà thờ xong, các con cái Chúa vào tư thất thăm tôi, tôi hỏi: Quý ông bà, anh chị em, bị bịnh thì ai cầu nguyện cho? Tất cả đều trả lời: Mục sư cầu nguyện. Tôi nằm trên giường bịnh hỏi tiếp: Bây giờ Mục sư bịnh thì ai cầu nguyện cho? Tất cả đều im lặng. Tôi nói: Con cái Chúa cầu nguyện cho tôi chớ ai nữa.

Nhiều lúc nằm trên võng bịnh, tôi thèm ăn một tô hủ tíu hay một món gì đó, nhưng tôi biết gia đình tôi không có khả năng. Có lần cả nhà không còn gì để ăn, cũng không có tiền để mua thức ăn, Nhà tôi sực nhớ còn một hũ tương hột trước đây Nhà tôi làm để bán sinh sống, hũ tương đó bị hư, bỏ đi thì tiếc, Nhà tôi đem để ngoài hàng rào. Bây giờ đem vào ăn thử, phải nói là tương thật ngon, hột đậu thật bùi, mềm và rất thơm, vị lại vừa ăn nếu thêm vào một chút đường. Có tương rồi, bà gia tôi ra ngoài giàn đậu rồng bên mái nhà, hái những đọt đậu đem vào luộc chấm tương. Dây đậu rồng nầy bà gia của tôi trồng đã lâu, nhưng nó không có trái. Tôi chưa hề nghe hay thấy ai ăn đọt đậu rồng, thế mà bây giờ đem luộc chấm tương ăn thấy ngon làm sao ! Cả nhà chúng tôi ăn suốt năm ngày liền. Chúa đã để dành hũ tương hư đó cho những ngày thiếu thốn nầy của chúng tôi.

Sau một tuần ăn đọt đậu rồng chấm tương, đến ngày thứ bảy, trong người của tôi mệt lắm, nghĩ đến ngày mai là Chúa nhật, tôi rất thèm ăn món gì đó khác hơn đọt đậu rồng chấm tương, nghĩ rằng có chút sức để giảng. Đến khoảng hơn bốn giờ chiều, thì một con cái Chúa là Bà Bá, là người đã từ ngoài Hội Thánh Phúc Âm (Bình tuy) vào Túc Trưng đi làm cỏ mướn về ghé vào tư thất, tay vẫn còn cầm cây cuốc, quần áo còn dính bụi đất. Bà Bá - chúng tôi thường gọi là bà Ba, móc túi lấy ra một gói nylon nhỏ đưa cho tôi và nói: Thưa Mục sư, tôi đi làm cỏ mướn suốt tuần được năm mươi lăm đồng năm mươi xu, tôi dâng cho Chúa một phần mười là năm đồng năm hào. Ông Mục sư nhận cho”. Tôi nói với bà: Tiền một phần mười thì bà để sáng mai đi nhà thờ đưa cho Ban Trị Sự ghi vào sổ. Bà Bá không chịu và nói: Tôi được Chúa cảm động đưa số tiền nầy cho Mục sư. Còn tiền dâng thì tôi có tiền khác. Tôi nhận số tiền đó mà không thể ngăn dòng nước mắt, Chúa đã dùng người đàn bà nghèo làm mướn nầy ban cho tôi một tô hủ tíu chiều hôm đó đúng như ước ao của tôi, với những con cá khô cho buổi cơm chiều, lấy sức để giảng ngày mai.


MỘT CUỘC ĐẢO CHÁNH

Trong thời gian tôi ở tù hai năm, từ 30 tháng 4 năm 1978 đến ngày 23 tháng 4 năm 1980, Cụ Mục sư Hội Trưởng Ông văn Huyên đã gởi văn thư đến Hội Thánh tại Túc Trưng yêu cầu Nhà tôi tạm thời họp với Ban Trị Sự Hội Thánh để lo điều hành công việc Chúa. Nhưng vì trước đây tôi đã từng khuyên Nhà tôi đừng can thiệp vào việc điều hành Hội Thánh, chỉ lo những việc của Ban Phụ Nữ, Thiếu niên, Thiếu nhi. Tôi thường nhắc câu nói của bà Từ Hi Thái Hậu khi sắp qua đời: Ta để lời nầy cho hậu thế, đừng bao giờ cho người đàn bà cai trị, hãy nhìn xem ta thì biết. Do ý đó, nên Nhà tôi chỉ đứng ngoài, giao mọi việc cho Thầy Phụ tá là Truyền Đạo Sinh Nhu-siol cùng Ban Trị Sự Hội Thánh điều hành.

Khi tôi ở tù về được một tháng, trong một buổi họp Ban Trị Sự Hội Thánh, đột nhiên Thầy Truyền Đạo phụ tá hỏi tôi: Ông về đây mà chánh quyền có cho ông làm Mục sư nữa không ? Thầy nói gần hai năm qua Thầy là quyền chủ tọa Hội Thánh, có Mục sư Hội Trưởng cho phép, cho nên bây giờ Thầy là chủ tọa. Lập tức Ban Trị Sự Hội Thánh phản ứng, nhưng tôi yêu cầu tạm gác mọi sự để Ban Trị Sự Hội Thánh thỉnh ý của Mục sư Hội Trưởng rồi hãy giải quyết. Kết quả là Mục sư Hội Trưởng gởi văn thư xác nhận tôi là chủ tọa từ trước đến nay, Thầy phụ tá chỉ tạm thay khi tôi vắng mặt, bây giờ Thầy có ý không tốt nên không cho Thầy làm phụ tá nữa.

Sự việc xảy ra làm trong Hội Thánh gọi chức vụ Phụ tá là "Phụ phá" hay là "Đại Tá".

BỊNH NẶNG

Sau những ngày Giáng sanh 1980 vui vẻ, tôi hoàn toàn đổ gục về sức khỏe, không thể đứng hay ngồi lâu được nữa, cơn ho kéo dài liên tục không ngưng nghỉ. Tôi cố gắng tổ chức Hội Đồng Thường niên cho Hội Thánh, rồi họp Tân Ban Chấp sự, bầu Ban Trị Sự, căn dặn những lời tâm huyết. Tôi thấy buổi họp ấy sao giống giờ phút Phaolô từ giã các Chấp sự Hội Thánh tại Ê-phê-sô trong sách Công vụ đoạn 20:17-38. Tất cả Chấp sự đều an ủi tôi, hứa sẽ vâng lời hiệp một lo cho Hội Thánh trong lúc tôi về Sàigòn trị bịnh.

Ngày 19 tháng 1 năm 1981, tôi nhờ một tín đồ đưa tôi xuống tạm ở tư thất Hội Thánh tại đường Túy Lý Vương, do Mục sư Đinh Thiên Tứ làm chủ tọa, để trị bịnh. Nhà tôi và các con tôi cùng bà gia tôi vẫn còn ở Túc Trưng. Thật lòng tôi không dám nói với Hội Thánh là tôi sẽ không về Túc Trưng nữa, vì tôi biết bịnh nặng lắm, không còn ăn uống gì được, cơn ho liên tục làm tôi cũng không ngủ được, màu da của tôi trở nên xám, trơ xương, không hi vọng. Tôi cũng biết thời tiết lạnh rét tại Túc Trưng đã đồng lõa với vi trùng bịnh phổi mà tôi mang từ Trại giam B5 về đã tàn phá hai lá phổi của tôi, cộng với những giọt sương muối về sáng nhỏ xuống khi tôi thức dậy cầu nguyện với các con cái Chúa, giống như những giọt máu chảy ra khỏi thân thể tôi, trong khi cuộc sống khó khăn quá không đủ dinh dưỡng cho tôi chống lại cơn bịnh.

Sáng hôm sau, ngày 20 tháng 1 năm 1981, Mục sư Đinh Thiên Tứ đã đưa tôi vào khám bịnh tại Bịnh Viện Hồng Bàng (sau nầy đổi lại là Bịnh Viện Phạm Ngọc Thạch). Chúa dự bị có một con cái Chúa là anh Đặng văn Ru làm Trưởng phòng Quang Tuyến X trong Bịnh Viện nầy, anh đã giúp tôi làm thủ tục khám bịnh, nên mọi việc dễ dàng. Khi nhận kết quả từ phòng khám của Bác sĩ bước ra, tôi thấy anh Ru ngần ngừ muốn nói riêng với Mục sư Tứ, tôi nói với anh Ru: Anh cứ cho tôi biết, nếu Chúa thấy tôi xong việc thì Chúa sẽ cho tôi về với Ngài; còn nếu chưa xong việc thì Chúa sẽ chữa lành cho tôi. Anh cứ nói. Sau một lúc ngập ngừng, anh Ru nói với tôi: Bác sĩ nói Mục sư bị bịnh nặng lắm, hai đầu phổi đã bị lủng lỗ to bằng quả trứng gà. Nếu Mục sư có ba điều kiện: ăn uống đầy đủ, nghỉ ngơi đầy đủ, thuốc men đầy đủ, thì sáu tháng sau mới có hi vọng. Tôi hỏi: Đầy đủ là thế nào? Anh Đặng văn Ru trả lời: Ăn uống đầy đủ là Mục sư mỗi ngày phải ăn ít nhất 300 gram thịt bò; nghỉ ngơi đầy đủ là Mục sư không được làm việc gì cả; thuốc men đầy đủ là Mục sư phải có ít nhất 120 viên Rifardine hay Rimartan để uống liên tục. Tôi mỉm cười cảm ơn anh, vì ba cái đầy đủ ấy không dành cho tôi: thay vì nghỉ ngơi đầy đủ, tôi phải ngồi nướng bánh suốt ngày để Nhà tôi đem bán khắp Sàigòn; gạo còn chưa được ăn đầy đủ, nói chi đến 300 gram thịt bò; một viên thuốc Rifardine giá bằng 10 ký gạo, mà phải có 120 viên, thì quả là Truyện thần thoại. Đáng lẽ tôi phải nằm lại Bịnh viện lao nầy, nhưng anh Ru nói là tình trạng vệ sinh trong Bịnh Viện không tốt, nên xin cho tôi điều trị ngoại trú tại nhà. Tôi nhận lấy phần thuốc của Bịnh viện cấp điều trị một tháng gồm 26 chai thuốc chích Streptomycine và thuốc viên để uống, tất cả đều sản xuất tại Việt-nam và hoàn toàn miễn phí. Lòng tôi bình thản lạ !

Lúc bấy giờ vì tình trạng khan hiếm thuốc trị bịnh, nên nhiều bịnh nhân lãnh thuốc về đã đem bán, do đó Bịnh Viện rất hạn chế cho đem thuốc về, họ buộc phải điều trị tại chỗ, hoặc mỗi ngày đến Bịnh Viện chích hay uống thuốc tại Bịnh Viện rồi mới được về.

Nan đề là tiền công mướn y tá bên ngoài chích thuốc trụ sinh nầy giá tiền công chích một mũi bằng giá một ký gạo. Tôi vẫn còn giữ ống chích và kim lúc tôi còn ở Túc Trưng. Thế là tôi luộc kim, vô thuốc, nhờ Nhà tôi nhắm mắt phóng kim vào nơi tôi chỉ. Mọi việc cũng xong!

 Cảm ơn Chúa, đến tháng thứ ba, tôi trở lại Bịnh Viện tái khám thường lệ, Bác-sĩ đã cho tôi biết là tôi đã hết vi trùng. Bác-sĩ Lê văn Nhi điều trị cho tôi đã ngạc nhiên hỏi tôi ngoài số thuốc của Bịnh viện cấp, tôi có dùng thêm thuốc nào khác không? Tôi cảm ơn Chúa cho tôi trả lời mạnh dạn là KHÔNG ! Thật sự ngoài số thuốc do Bịnh Viện cấp toàn là thuốc bào chế tại Việt-nam, lâu lâu mới được một ít thuốc của Liên Xô, nhưng thuốc trụ sinh của Liên Xô chích vào, tôi hay bị sốc gây choáng, có anh THANH, một con cái Chúa thuộc Hội Thánh tại đường Lữ Gia, trong một lần nghe tôi giảng, Chúa cảm động anh ấy tự gởi thư xin mẹ của anh ở Pháp gởi cho tôi một thùng thuốc nhỏ, tôi không dám sử dụng, chỉ đem bán lấy tiền chi dụng trong gia đình. Xin gởi đến Anh THANH lòng biết ơn trong Chúa.

Thời gian trị bịnh nầy Chúa cho tôi và gia đình được tạm trú tại Nhà Vãng Lai của Tổng Liên Hội, số 30 đường Huỳnh Quang Tiên (sau nầy là đường Hồ Hảo Hớn). Việc ở cơ sở nầy cũng là một trường hợp hi hữu. Khi Mục sư Đinh Thiên Tứ là em rể của tôi, chủ tọa Hội Thánh tại đường Tuy Lý Vương, chở tôi đến gặp Mục sư Hội Trưởng Ông văn Huyên xin giúp chỗ ở cho gia đình tôi, thì Cụ Mục sư Hội Trưởng gợi ý là tôi nên đến ở cơ sở của Địa Hạt Đông Nam Bộ tại đường 3 tháng 2 (Trước đây là đường Trần Quốc Toản). Cụ Mục sư Hội Trưởng nói muốn nhờ tôi ở đó, dù chỉ ở tạm ngoài garage bên cạnh, để ép Mục sư Nguyễn văn Quan trả lại cơ sở cho Giáo hội. Mục sư Nguyễn văn Quan đã ở Trụ sở nầy khi làm Chủ Nhiệm Địa Hạt. Nhưng khi không còn làm Chủ nhiệm nữa, vịn cớ là Ban Trị Sự Địa Hạt nhiệm khóa sau nầy do Mục sư Phạm văn Thâu làm Chủ nhiệm không được Nhà Nước nhìn nhận (họ chỉ nhìn nhận Cụ Mục sư Hội Trưởng kiêm Chủ nhiệm Địa Hạt), nên Mục sư Quan không chịu bàn giao. Đến khi Mục sư Quan về làm chủ tọa Hội Thánh tại Bàn Cờ, ông cứ để cho các con mình tiếp tục ở trong Trụ Sở Địa Hạt như nhà riêng, tổ chức bán thức ăn rất phức tạp và mất thể diện của Giáo hội chung. Cụ Mục sư Hội Trưởng giải thích là vì tôi bị bịnh nặng, nên Mục sư Quan sẽ không thể để tôi ở ngoài garage. Tôi và Mục sư Tứ bàn với nhau nếu nhận đề nghị của Cụ Mục sư Hội Trưởng, thì vô tình tôi trở thành mục tiêu tranh chấp hai bên trong lúc tôi bịnh nặng, vì thế, tôi xin Cụ Mục sư Hội trưởng cho tôi ở cơ sở vãng lai của Tổng Liên Hội.

Cơ sở Vãng lai của Tổng Liên Hội do Mục sư Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng quản lý. Đây cũng là một trong ba địa điểm bị Chánh quyền chú ý đặc biệt (hai nơi kia là Nhà thờ đường Trần Cao Vân, nhà thờ đường Trần Hưng Đạo.

Khi gia đình tôi rời Túc Trưng về cơ sở vãng lai nầy thì thật là những ngày gian khổ.

1.      Vì Hội Thánh tại Túc Trưng quá nghèo, nên chỉ cho chúng tôi được một tạ gạo, Hội Thánh không có tiền bạc chi. Chúa dự bị cho một người tín đồ Công giáo Lamã dùng chiếc xe Jeep của ông ấy chở Nhà tôi và các con tôi, cùng đồ đạc có được chỉ đủ trên một chiếc Jeep nầy xuống Sàigòn. Tài sản quý nhất còn được là đôi bông tai cưới của Nhà tôi (sau đó chúng tôi đã phải đem bán lấy tiền nhờ Mục sư Võ văn Lạc là chủ tọa Hội Thánh tại đường Lữ Gia đang sống tự túc bằng nghề sử xe đạp, tìm mua giúp một chiếc xe đạp làm chân.

2.      Thời gian tạm trú tại đây, chúng tôi phải làm nhiều nghề để tự túc sinh sống, có lúc tôi làm bánh thuẫn cho Nhà tôi đạp xe đi bán, lần lần vì giá vật liệu làm bánh lên cao nên phải chuyển nghề khác; có lúc Nhà tôi đạp xe vào tận Phú lâm lấy chao của một con cái Chúa thường gọi là Bà Sáu Chao đem bỏ mối cho những Hợp tác Xã, nhờ đó Bà Sáu cho những hũ chao vụn đem về ăn. Một lần, Nhà tôi tìm được một mối giao chao khá nhiều, mướn xe xích lộ đạp chở, không may vừa chất xong hàng đầy xe thì chiếc xích lô bị lật làm đổ bể hết chao, tuy Bà Sáu không bồi thường, nhưng Nhà tôi không còn vốn nữa, đành phải qua nghề khác.

3.      Rồi Nhà tôi phải đi lấy nước mắm ngon của một tín đồ ở Bến Vân Đồn (Khánh Hội). Mỗi lần lấy độ 5 lít, chở đến từng nhà tín đồ nhờ mua một hoặc hai lít. Nhưng khi tôi biết mỗi lần bán như vậy, Nhà tôi phải lau nhà cho họ vì sợ nước mắm văng làm hôi nhà của họ, tôi không chịu được, nên không cho Nhà tôi đi bán như vậy nữa.

4.      Rồi Nhà tôi được giới thiệu lấy xà-bông kem của một Cơ-đốc nhân sản xuất đem bán ăn tiền huê hồng. Được ít hôm, có một Hợp tác Xã muốn mua một số lượng khá nhiều xà bông kem, sau khi giao hàng xong, Hợp tác Xã đòi hóa đơncó đóng thuế của cơ sở sản xuất, đồng thời trả lại hóa đơn đã giao vì họ cho biết là hóa đơn đó chưa đóng thuế. Bất ngờ khi Nhà tôi trình bày lại yêu cầu của Hợp Tác Xã, thì người chủ cơ sở sản xuất bảo Nhà tôi thôi bỏ số hàng đó đi, vì đó là hàng không đóng thuế. Tôi sợ Nhà tôi sẽ gặp rắc rối, nên lại nghỉ. Thật biết bao gian khổ.

Dù vậy, Chúa cũng tiếp trợ chúng tôi sống hằng ngày bằng cách nầy hay cách khác. Trong số đó, chúng tôi nhớ đến lòng yêu thương của một con cái Chúa là Bà Sáu gác gian cho nhà thờ Sàigòn. Bà là người góa bụa, ở trọ phía sau nhà thờ Sàigòn, bán lặt vặt kiếm sống từ trái cóc, trái ổi, viên kẹo. Tuy nhiên mỗi lần bà mua được gạo bán theo tiêu chuẩn trong Tổ Dân phố, bà lại gởi cho chúng tôi, vì bà biết gia đình chúng tôi không có Hộ khẩu nên không mua được gạo giá Nhà Nước.

Chúa cũng cho tôi được cơ hội đi giảng những nhà thờ quanh vùng Sàigòn, và nhờ những số tiền lộ phí cũng như thỉnh thoảng các con cái Chúa gởi riêng giúp thêm sau khi nghe giảng.

Điều kỳ diệu là khi gia đình chúng tôi về Sàigòn, một con cái Chúa ở Túc Trưng cho chúng tôi một con gà mái loại lai gà rừng, rất nhỏ con. Khi đến Sàigòn, ngay ngày đầu tiên, vừa vào nhà, con gà đó bay qua cửa sổ ra ngoài đi mất. Vì chúng tôi ở trên lầu ba, nhìn ra chung quanh là nóc nhà của xóm giềng, nên chúng tôi không hi vọng tìm được một con gà nhỏ bé giữa một thành phố rộng lớn nhà cửa san sát. Thế mà kỳ diệu thay, đến chiều, con gà lại trở về, nó bay nhảy trên nóc nhà bên cạnh, rồi tự động chui vào căn nhà mà nó chưa một phút giây nào tạm trú. Chúa lại cho con gà mái bé nhỏ đó đẻ trứng – thường một con gà lai gà rừng như vậy chỉ đẻ từ 5 đến 7 trứng, mỗi trứng lớn hơn trứng cút một chút, vậy mà nó cứ đẻ hoài hơn hai tháng, nhờ đó tôi có được một chút chất bổ dưỡng không tốn tiền trong những ngày trị bịnh.

Điều kỳ diệu nữa là trong lúc tôi không có điều kiện trị bịnh theo tiêu chuẩn, thì một vị Mục sư từ Miền Tây lên Sàigòn, ở trong khuôn viên Nhà Vãng Lai, cũng để trị bịnh phổi như tôi. Vị Mục sư nầy cũng được Bác-sĩ Lê-văn Nhi điều trị như tôi, nhưng theo tiêu chuẩn ngoài giờ, dùng thuốc ngoại quốc (mỗi tuần vị Mục sư nầy phải tốn 500 đồng tiền thuốc). Một lần tôi dắt xe đạp đi giảng, ông chào tôi và ngạc nhiên khi biết tôi đi giảng, ông nói với tôi: Mục sư đang bịnh mà?. Tôi nói với ông: Nếu Chúa thấy chức vụ của tôi chưa xong thì chắc Chúa sẽ chữa lành; còn nếu xong thì Chúa sẽ đem tôi đi. Thật sự những lúc đi giảng về, tôi mệt lắm vì đạp xe và việc giảng làm hao tốn sức rất nhiều, nhưng đó là cách tôi có thể có được chút ít tiền góp phần với Nhà tôi lo cho gia đình. Tôi nói với Nhà tôi là vị Mục sư đó chắc chắn sẽ chết. Nhà tôi thắc mắc, tôi cho biết vì ông ấy bi quan quá, không có một chút vui mừng. Quả thật vậy, độ hai tháng sau thì ông qua đời.

Điều kỳ diệu phải nói lên để tạ ơn Chúa, lúc gia đình tôi vừa xuống Sàigòn, thì các Trường học còn cho học sinh tạm trú vào học, nên các con tôi đều được đi học Từ niên khóa kế tiếp họ không bao giờ cho người tạm trú đi học nữa. Nhờ đó các con tôi cứ từng năm từng năm lên lớp mà không ai quan tâm hỏi đến vấn đề Hộ khẩu cho đến ngày các con tôi tốt nghiệp lớp 12, bấy giờ mới phải dừng lại vì không có hộ khẩu nên cả bốn con tôi không thể thi vào Đại học.

Và Chúa lại làm phép lạ tiếp tục…

Con trai lớn của tôi là Trần Thái Nhiệm học xong lớp 12, không được thi Đại học vì chúng tôi không có Hộ khẩu, tôi phải gởi con tôi vào một người tín đồ người Hoa ở Chợ-lớn để học nghề in vải. Vì là học nghề, nên con tôi phải chịu rất nhiều cực khổ, mỗi ngày phải vác từng bành vải đã in lên sân thượng để phơi, khô rồi lại phải vác xuống.

Ngay tháng đầu tiên, vừa lãnh tiền công, người hàng xóm của nơi Nhiệm làm công học nghề bán một máy cassette với giá bằng tiền lương, Nhiệm rất thích nên mua liền. Chúa dự bị nhờ chiếc máy khá tốt nầy giúp Nhiệm học tiếng Anh về sau.

Sau hai tháng, Nhiệm được bạn học rũ đi học Anh văn trên Trường Đại học Nông Lâm tại Thủ Đức. Tôi không biết cách nào mà Chúa cho Nhiệm đi học được, vì đó là Khóa Anh ngữ luyện thi Toefl đầu tiên ở Việt-nam, trong lúc đó hầu như chưa ai biết gì về hai chữ Toefl. Khi Nhiệm theo bạn lên dự thi để xếp lớp, Chúa lại cho kết quả là Nhiệm chỉ cần học một năm, trong khi rất nhiều người khá tiếng Anh phải học 3 hoặc 4 năm. Nhiệm nhờ tiền công học nghề in vải, nên đóng được nửa Khóa. Học được nửa năm, đến lúc phải đóng tiền học phí nửa năm cuối, tôi chưa biết cách nào có tiền, vì số tiền quá nhiều đối với gia cảnh chúng tôi, thì Nhiệm đi thờ phượng Chúa ở nhà thờ Sàigòn gặp được một tín đồ người New Zealand là một Giáo sư vừa rời Bắc Kinh sau biến cố Thiên An Môn, biết Nhiệm là con Mục sư lại biết tôi là người gốc Hoa (ba tôi là người Hoa từ Trung quốc sang), vị Giáo sư nầy gởi một thư cho tôi bằng tiếng Hoa. Khi tôi mở thư ra, ngoài bức thư thăm hỏi, ông còn gởi cho tôi 100 đô-la. Thật tôi không biết lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về sự ban cho kỳ diệu nầy, một món quà mơ cũng không dám nghĩ tới. Tôi đổi ra được 120 ngàn đồng tiền Việt-nam, đóng tiền học phí cho Nhiệm hết 100 ngàn, còn lại đúng 20 ngàn cho Nhiệm đóng tiền xe bus mỗi ngày đi từ Sàigòn lên Thủ Đức và về.

Một năm sau, Nhiệm ra Trường với số điểm Toefl là 490 điểm. Vị Hiệu Trưởng Trường dạy luyện thi Toefl là Giáo sư Kim bảo Nhiệm lên Trường Hàng Không xin học làm Tiếp viên Hàng Không. Tôi can ngăn con tôi vì kinh nghiệm từ trước đến nay, ngành Hàng Không chỉ dành cho con ông cháu cha, vả lại, điều quan trọng là chúng tôi không có Hộ khẩu, là điều kiện bắt buộc không thể thiếu. Tuy nhiên, Nhiệm cứ xin tôi cho đi mua đơn với lý do là Thầy Hiệu trưởng Kim bảo. Bộ đơn bằng 10 ký gạo (tức 15 ngàn đồng lúc ấy), thật quá sức chúng tôi. Khi nhìn vào Phiếu Báo Danh, tôi thấy số báo danh của Nhiệm trên hai ngàn (sau nầy tôi biết là trên ba ngàn thí sinh dự thi) trong khi chỉ tiêu tuyển là 60 người. Tôi không có một hi vọng nào cả, dù là một phép lạ từ Chúa.

Cảm ơn Chúa cho Nhiệm vượt qua vấn đề Hộ khẩu nhờ vào chiều cao trên 1.7 mét, và kết quả là Nhiệm đậu hạng 6 trên tổng số hơn 3 ngàn thí sinh dự thi. Ngày 2 tháng 5 năm 1990, Nhiệm nhập học Trường Hàng Không. Đến khoảng 9 giờ hơn, Nhiệm trở về và nói với tôi rằng: Thua rồi Ba. Bên Công An họ không cho con Mục sư học ngành Hàng Không, lại là con của Mục sư Sơn. Ban Giám Đốc Trường nói với con là họ đã đích thân lên Sở Công An để can thiệp vì nhu cần chất lượng sinh viên, nhưng vẫn bị bác đơn.

Mặc dù đã chuẩn bị tinh thần chấp nhận con mình không được đi học, nhưng tôi thấy lòng buồn tủi làm sao, buồn cho con, buồn cho chính cái Đất Nước Việt-nam nầy với chế độ "thù ông rồi lại thù cha, thù hết cả nhà rồi đến thù con", họ không cần chất lượng, họ chỉ cần chế độ.

Cảm ơn Chúa, Chúa luôn luôn vẫn là Đấng có Chương trình tốt nhất cho kẻ tin cậy Ngài. Ngay sau đó, Nhiêm xin tôi đi xem triển lãm ngoài trung tâm Sàigòn. Đến khoảng 12 giờ trưa thì Nhiệm về và nói với tôi: “Ngày mai con đi làm”. Tôi hết sức ngạc nhiên vừa nhìn con với số tuổi 19, 20, vừa chưa hết đau buồn vì con bị từ chối không cho đi học, tôi hỏi: Con đi làm ở đâu ? Nhiệm cho biết: Con đi làm ở Công ty Du lịch Vido Tour. Lúc nãy đi xem Triển lãm, con thấy trong khu Triển lãm có bảng tuyển nhân viên hướng dẫn du lịch của Công ty Vido Tour ở đường Lê Thánh Tôn. Con đến xin đơn, họ lại phỏng vấn ngay tại chỗ. Kết quả họ bảo con 8 giờ sáng mai ra nhận công việc. Tôi không thể nào diễn tả được những ý nghĩ trong đầu, trong lòng tôi. Lý trí tôi không tin được, nhưng lòng tôi cảm tạ Chúa đã an ủi con tôi. Chánh quyền thù nghịch vì là con Mục sư, còn Chúa binh vực nó vì nó là con của người hầu việc Chúa.

Sáng mai, Nhiệm đi làm đến chiều tối mới về. Khi Nhiệm về, vẻ mặt vừa vui vừa sợ, tay ôm một túi xách đầy tiền, trong đó gồm mấy ngàn đô-la và hai chục triệu tiền Việt-nam. Tôi và Nhà tôi hỏi ngay: Tiền gì vậy? Nhiệm nói: Tiền Công ty giao cho con đem theo ngày mai dẫn khách ngoại quốc du lịch ra Hànội 10 ngày, rồi lo máy bay ngoài đó cho họ về Mỹ luôn. Vì từ nhỏ đến giờ, Nhiệm chưa bao giờ thấy số tiền lớn như vậy, nên ngồi đếm hoài cũng không đếm xong. Vợ chồng lại càng lo vì không biết tại sao Công ty nầy lại dám giao một số tiền to như vậy cho một nhân viên còn quá trẻ mới vào nhận việc ngày đầu tiên; càng lo hơn nữa là Nhiệm chưa hề đi đâu xa ngoài Túc Trưng và Sàigòn, lại thêm phải giao dịch với Công An lo giấy tờ cho người ngoại quốc trong lúc chế độ rất nghi ngờ người ngoại quốc.

Cảm ơn Chúa, từ đó Chúa dẫn dắt Nhiệm làm cho các Công ty Du Lịch, rồi lập gia đình, rồi có cơ hội đi Thái-lan, đi Camphuchia, đi Trung quốc. Trong dịp đi Thái-lan, Nhiệm làm quen được với các Giáo sĩ Hoa kỳ, làm quen với vị Mục sư người Thái tại Bangkok. Đến một ngày của năm 1994, Nhiệm về nhà với một băng Video và một Catalogue của Hội Teen Mission tại Hoa Kỳ. Theo lời Nhiệm thì hôm ấy có một Mục sư người New Zealand ở Hoa Kỳ quá cảnh Việt-nam ba ngày. Không biết tại sao Công ty Du Lịch giao cho Nhiệm tiếp người khách nầy, dù chức năng của Nhiệm lúc đó là Trưởng Phòng du lịch khách nước ngoài, không có nhiệm vụ hướng dẫn khách. Khi Mục sư nầy biết Nhiệm là con của Mục sư, ông ấy hỏi Nhiệm có muốn đi Mỹ học không và đưa cho Nhiệm một băng Video và một Catalogue của Hội Teen Mission Hoa Kỳ bảo đem về cho tôi xem, nếu đồng ý thì Nhiệm đưa giấy khai sanh cho ông vào lúc 10 giờ tối mai, để sáng ngày kế ông lên đường về Mỹ.

Tôi và con tôi xem qua băng Video và Catalogue, tôi thấy đây là một Hội chuyên hoạt động giữa các Thanh Thiếu niên. Họ dùng những ngày nghỉ hè để đưa các Sinh viên, học sinh ra sinh hoạt ngoài trời làm công tác vệ sinh, dọn dẹp một khu vực nào đó, hoặc xây dựng một lớp học nho nhỏ, … Rồi những giờ nghỉ giải lao, họ dùng để tiếp xúc nhau và tiếp xúc với các Thanh Thiếu niên địa phương qua những cách như cùng hát những bài ca cộng đồng, và làm chứng về Chúa. Tôi đồng ý.

Sau khi Nhiệm nộp giấy khai sanh cho vị Mục sư ấy rồi, tôi nghĩ ít nhất một hoặc hai năm sau mới hi vọng. Thật là lạ lùng, hai tuần sau Nhiệm đã nhận được giấy giới thiệu đến Tòa Đại Sứ Mỹ để phỏng vấn xin Visa. Vì lúc bấy giờ Việt-nam chưa có bang giao với Mỹ, nên mọi giao dịch liên quan đến Mỹ đều phải qua Bangkok (Thái-lan). Chúng tôi chỉ có hai tuần để chuẩn bị cho Nhiệm. Ngày tiễn con tôi tại phi trường Tân Sơn Nhất, tôi nói với con tôi Nếu con đi học hầu việc Chúa như Chúa dạy trong Kinh Thánh thì đi; nếu con đi học để làm một Mục sư như con thấy thì đừng đi, vì thế giới đã thặng dư rồi.

Cảm ơn Chúa, sau một tháng bặt tin, chúng tôi nhận được một thư của Nhiệm gởi về từ Mỹ tường thuật lại chi tiết việc đến Mỹ: Khi đến Thái-lan, Nhiệm đã được vị Mục sư người Thái tại Bangkok là người mà Nhiệm đã làm quen trong những lần đi công tác cho Công ty Du lịch, ông giúp đỡ cho Nhiệm ăn, ở trong nhà nên không phải mất tiền cho việc nầy, lại có dịp cộng tác với Thanh niên trong Hội Thánh Thái. Vì biết nếu kéo dài việc ở Thái-lan sẽ không có đủ tiền, trong khi Nhiệm chỉ có đủ tiền vé máy bay đi Mỹ, nên ngày nào Nhiệm cũng lên Tòa Đại Sứ Mỹ để xin được phỏng vấn. Do người đến xin phỏng vấn quá đông, nên cứ phải chờ đợi. Trong khi đó, Nhiệm nhìn số người bị rớt phỏng vấn quá nhiều, tinh thần Nhiệm lại thêm lo. Một hôm nhân viên trong Tòa Đại Sứ để ý thấy Nhiệm cứ xin được phỏng vấn sớm hoài, họ nghi ngờ nên gọi vào. Mười phút đầu, nhân viên phỏng vấn rất gay gắt, nhưng khi hỏi tên cha và biết Nhiệm có cha là Mục sư, nhân viên nầy hỏi Ba ở Việt-nam có gặp khó khăn gì không? Nhiệm đã tường thuật lại những khó khăn của chúng tôi như bị Chánh quyền Việt-nam bắt giam hai lần, không được đi giảng, không được bổ chức, … Nhân viên đó vào trong, một lát sau trở ra (Nhiệm nghĩ rằng người ấy vào để kiểm tra lời Nhiệm nói về tôi qua máy Vi tính), lần nầy nhân viên ấy hỏi Nhiệm có hình ảnh gì của tôi không, Nhiệm chợt nhớ là sáng nay không biết tại sao lại đem theo hình của gia đình tiễn Nhiệm tại phi trường Tân Sơn Nhất, khi đưa hình ra thì nhân viên đó chỉ vào tôi và hỏi có phải là Ba của Nhiệm không? Một cái gật đầu xác nhận và người đó đổi thái độ trở nên vui vẻ và bảo Nhiệm chờ ông phỏng vấn những người khác xong, sẽ gặp lại Nhiệm.

Thêm một tiếng đồng hồ phỏng vấn nữa, nhân viên ấy bắt tay khen Nhiệm về khả năng Anh ngữ đồng thời cho biết ngày mai Nhiệm có thể lên đường đi Mỹ. Khi đến phi trường ở California, Nhiệm chỉ còn 60 đô-la, trong khi còn phải tiếp tục bay đến Florida. Nhờ ông bà Mục sư Võ Thạnh Thời là ông bà ngoại vợ của Nhiệm giúp đỡ, Chúa cho Nhiệm đến Florida dù với cái túi không còn một đồng. Nhiệm đã ở Florida học hai năm. Thật là một phép lạ! Không thể nói gì hơn đó là một phép lạ! Không phải phép lạ làm sao được, chúng tôi không có Hộ khẩu là căn bản quan trọng nhất trong chế độ Cộng sản tại Việt-nam, không ai trong gia đình chúng tôi có được tờ Chứng Minh Nhân Dân (ID Card), một Thanh niên không được vào Đại học, không được vào Trường Hàng Không vì lý lịch là con của Mục sư phải bị trù dập, không có tiền, nhưng lại là người đầu tiên được du học Thần học tại Mỹ – một nước Mỹ lúc bấy giờ còn ở vị thế thù nghịch với Chánh quyền Việt-nam, chưa có bang giao với Việt-nam. Gia đình chúng tôi thật không biết lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành Chúa đã làm cho con tôi và cho chúng tôi.

Cảm ơn Chúa cho Nhiệm tiếp tục học Thần học và trở nên người hầu việc Chúa. Rồi Chúa lại ban thưởng cho vợ con của Nhiệm qua Mỹ đoàn tụ trong khi Nhiệm chưa có Quốc Tịch mà cũng chưa phải là Thường Trú nhân.

Thật là một phép lạ !

Đáng buồn là lại có người từ Việt-nam gởi thư qua Mỹ vu cáo tôi đã vận động tiền từ Mỹ để lo cho con tôi được đi học ở Mỹ. Cũng có Mục sư đến nhà của tôi hỏi tôi: Làm sao lo cho con đi Mỹ được vậy? Tôi bảo họ là Chúa cho. Họ không tin. Tôi thật buồn vì họ là người hầu việc Chúa nhưng họ không tin rằng Chúa toàn năng, có thể làm phép lạ rẻ biển Thái Bình Dương cho con tôi đi qua Mỹ.

Chúa chẳng những làm phép lạ cho Nhiệm tôi, mà Ngài còn làm phép lạ cho con trai thứ nhì của tôi là Trần Thái Nghiêm. Sau khi Nghiêm tốt nghiệp lớp 12, tôi phải cho Nghiêm theo học nghề thợ mộc với chú Thiên Dân ở trong nhà của Mục sư Phó Hội trưởng Đoàn văn Miêng. Mỗi lần nhìn con tôi ngồi bào gỗ, đục, đẽo, tôi xót xa vì thấy tương lai con mù mịt.

Nhưng có một nhà Thần học nào đó đã nói: Cuối cùng của loài người là khởi đầu của Đức Chúa Trời. Khi Nghiêm tôi có thể đóng được những chiếc ghế đẩu đầu tiên, thì một Công ty gọi đi làm nuôi gia đình cha mẹ. Rồi lại chuyển sang làm cho Công ty IKEA của Thụy Điển, Nghiêm được đi công tác tại Thượng Hải (Trung quốc), được đi Thụy Điển, và có được Visa đi Mỹ công tác.

Sau 20 ngày công tác tại Mỹ, Nghiêm trở về và nói với tôi: Ba ơi, nếu Chúa cho con đi Mỹ học, con không học Thần Học đâu. Tôi hỏi tại sao? Nghiêm nói rằng khi qua Mỹ, có dịp vào Trường Thần Học, thấy những người học Thần học không có tinh thần học để hầu việc Chúa, chỉ muốn ở lại Mỹ sinh sống mà thôi.

Thời gian trôi qua, và năm 1998, Chúa cho Nghiêm đi Mỹ học và Nghiêm học Vi Tính. Sau hai năm, vào một ngày gần Lễ Kỷ Niệm Chúa giáng sanh, Nghiêm gởi Email về hỏi tôi: Ba ơi, Hội Thánh Mỹ ở đây biết con là con của Mục sư, họ khuyến khích con vừa học vừa hầu việc Chúa, phụ trách một mission cho người Việt-nam tại địa phương. Ba nghĩ thế nào? Tôi đã nói với con tôi rằng: Việc hầu việc Chúa là việc cá nhân con với Chúa: Chúa có kêu gọi con vào chức vụ không và con có bằng lòng vâng theo tiếng gọi ấy không? Tuy nhiên, Ba biết một điều như người Việt-nam thường nói "chạy trời không khỏi nắng." Tôi nói với Nghiêm như vậy, vì khi còn ở Việt-nam, Nghiêm rất yêu mến Chúa và hết lòng tham gia công việc Chúa. Dù nản lòng khi nhìn người khác, nhưng rồi Chúa cũng đưa Nghiêm vào chức vụ. Thế là Chúa cho Nghiêm vừa đi học vừa giữ chức vụ Minister cho một mission giữa người Việt-nam tại thành phố Winston-Salem thuộc Nhà thờ Calvary Baptist Church, Bang North Carolina. Ý Chúa được nên. Bởi đó Chúa thưởng cho Nghiêm bằng cách cho vợ và hai con trai của Nghiêm qua Mỹ đoàn tụ vào tháng 3 năm 2003. Chúng tôi không biết lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành mà Chúa đã làm cho các con tôi và gia đình tôi. Dù đầy hoạn nạn, nghèo thiếu, nhưng thật có đủ mọi sự, như Phaolô nói trong II Côrintô 6:8-10, có con du học mà lại học dâng mình phục vụ Chúa. Cảm ơn Chúa vô cùng! Thật là những phép lạ!

Rồi con gái tôi tốt nghiệp lớp 12, được đi làm và nhờ đó Chúa cho có cơ hội học thêm Đại học tư. Ngày con trai út của tôi báo tin đã tốt nghiệp lớp 12, tôi thật đã trào nước mắt biết ơn Chúa dường nào. Tôi thật không thể hiểu được cách Chúa dẫn dắt gia đình tôi vượt qua bao khó khăn, thiếu thốn, không có một tờ giấy tùy thân, vậy mà Chúa nuôi các con chúng tôi đạt được nền học vấn tối thiểu phải có.
 

CỐ VẤN HỘI THÁNH BÌNH TÂY

Theo lời Má của tôi kể lại…

Ba tôi là người Trung quốc, sanh ra bên Trung quốc, theo ông bà nội của tôi qua Việt-nam với một người chú bị tật ở chân. Ông bà nội tôi mở tiệm tạp hóa ở chợ Hỏa Lựu (Vị thanh). Một ngày kia, hơn 70 năm trước, chiếc tàu Tin Lành của Mục sư Huỳnh văn Ngà đã ghé bên chợ Hỏa Lựu giảng Tin Lành, và ba tôi đã tin Chúa.

Sau khi tin Chúa, nơi Hỏa lựu không có Hội Thánh, không có ai chăm sóc thăm viếng, chiếc tàu Tin Lành đã rời bến đi nơi khác sau một vài ngày lưu lại giảng Tin Lành. Bà nội tôi đã bắt bớ đức tin của Ba tôi dữ dội, vì bà chủ trương: Người Trung quốc không tin Bạch Quỷ. Lúc bấy giờ ba tôi đã có hai anh lớn của tôi (nghĩa là cách nay 70 năm), Bà nội của tôi vốn là một người giỏi võ, đã dùng những cây nhựa chai thường để nhúm lửa để đánh Ba tôi. Những bữa cơm sau khi Ba tôi nhắm mắt cầu nguyện cảm ơn Chúa, mở mắt ra thì Bà nội tôi đã cắm nhang trên các món ăn và tuyên bố đã cúng rồi, khiến ba tôi phải nhịn đói. Sau cùng, Bà nội đã đuổi Ba tôi khỏi nhà, không cho Má tôi và hai anh tôi theo, cũng không cho Ba tôi đem theo tiền bạc, quần áo gì cả.

Với một thân một mình, Ba tôi ra Cần-thơ gặp được một gia đình con cái Chúa là ông bà Lâm Châu Chi, làm nghề đóng sửa giày. Ông bà Chi đã giúp Ba tôi có chỗ ở và giúp ít vốn để Ba tôi mua quạt lá buông hằng ngày gánh đi bán. Lòng trung tín của Ba tôi đã được Chúa thưởng bằng sự giàu có càng ngày càng thêm. Cảm ơn Chúa cho sau đó Bà nội tôi bằng lòng ra ở với Ba Má tôi, và vào những ngày cuối đời của bà nội tôi, bà nằm trên giường bịnh kêu Ba tôi mời Mục sư bên nhà thờ qua cầu nguyện cho bà tin Chúa trước khi qua đời.

Có lẽ vì có dòng máu người Hoa, nên Chúa cho tôi có dịp cộng tác với Hội Thánh Chúa tại Bình Tây là một Hội Thánh của người Hoa, đa số nói tiếng Phúc Kiến và tiếng Triều Châu.

Đặc điểm của các Hội Thánh người Hoa tại Sàigòn là: Các Hội Thánh bảo lưu tiếng nói của xứ mình, như

*  Hội Thánh tại Bình Tây thì chú trọng tiếng Phúc Kiến. Nếu diễn giả là người Việt-nam, thì sẽ được dịch sang tiếng Quảng Đông. Nếu diễn giả nói tiếng Quảng Đông, thì sẽ dịch sang tiếng Phúc Kiến hay tiếng Triều Châu.

* Hội Thánh tại đường Nguyễn Trải, gọi theo tín đồ người Hoa là Quang Trung Đường. Hội Thánh ở đuờng Lương Nhữ Học gọi theo người Hoa là Truyền Giáo Hội; Hội Thánh tại đường Nguyễn văn Sâm (sau đổi tên đường Nguyễn Thái Bình) có tên là Cứu Ân Đường, và Hội Thánh ở đường Phú Thọ và đường Nguyễn Chí Thanh, đều nói tiếng Quảng Đông.

 Hội Thánh tại cầu Chà-Và, có tên là Sanh Mạng Đường thì nói tiếng Triều Châu.

Tuy nhiên, khi hát ngợi khen Chúa, thì Hội Thánh hoặc Ban hát đều dùng tiếng Quan Thoại (còn gọi là tiếng Bắc Kinh, hay tiếng Phổ Thông).

Cơ hội tôi được làm quen Hội Thánh tại Bình Tây là do Cô Truyền Đạo Tăng Nguyên Tiên bận việc không đến giảng cho buổi nhóm cầu nguyện tối thứ tư thường lệ theo lịch đã hẹn, nên Cô nhờ tôi đến giảng thay. Đêm hôm đó, tôi và Nhà tôi phải đi hơi sớm để tìm nhà thờ vì chưa biết, và tôi giảng qua sự thông dịch của Thầy Truyền Đạo Khưu Hoa, chủ tọa Hội Thánh.

Đến sáng thứ sáu, thì đại diện của Hội Thánh tại Bình Tây là anh Trần Ngũ Lục đến nhà gặp tôi với bức thư của Ban Trị Sự Hội Thánh mời tôi làm Cố Vấn cho Trường Chúa nhật của Hội Thánh. Tôi xin được quan sát Trường Chúa nhật của Hội Thánh một lần trước khi trả lời.

Chúa nhật kế đó, tôi đến giảng và có dịp quan sát Trường Chúa nhật của Hội Thánh. Tôi thấy anh em lòng thì có, mà tổ chức thì rõ ràng là một mớ hỗn độn. Các lớp Trường Chúa nhật học bất cứ chỗ nào có thể ngồi được như: nhà bếp, nhà thờ, cầu thang, nhà để xe, phòng ăn của chủ tọa Hội Thánh… Tất cả đều dùng phương pháp ‘giảng’ hay ‘thuyết trình’ bằng miệng.

Giữ lời hứa, tôi thảo ra 15 đề nghị cần cải sửa lại gồm chủ yếu chia làm 18 lớp hiện có thành hai tiết học để có đủ chỗ tổ chức lớp học đúng nghĩa, đồng thời tập trung các em tiết đầu sau khi hết giờ học cho các em vào nhà thờ lập thành Hội Thánh Thiếu nhi để dạy các em hát thờ phượng (có Ban hát đàng hoàng với áo lễ), dâng tiền, nghe giảng Kinh Thánh do các anh chị Giáo viên thay nhau phụ trách. Trường Chúa nhật sẽ lo cho Giáo viên dạy suất đầu ăn sáng (chỉ là gói xôi, khúc bánh mì ngắn). Ngoài ra tập trung huấn luyện phương pháp dạy cho các Giáo viên vào mỗi tối thứ tư … Nếu Hội Thánh nhận lời đề nghị cải sửa nầy, thì tôi nhận lời mời của Hội Thánh làm Cố Vấn Trường Chúa nhật, và đề nghị thứ 15 của tôi là tôi chỉ nhận lời trong 6 tháng.

Sau khi đề nghị được gởi đi, tuần sau Đại diện của Hội Thánh trở lại cho tôi biết Ban Trị Sự Hội Thánh và chủ tọa Hội Thánh đồng ý tất cả đề nghị của tôi về việc cải sửa, trừ điều thứ 15, nghĩa là yêu cầu tôi vẫn tiếp tục chức vụ Cố Vấn. Tôi giải thích với Hội Thánh là sau 6 tháng, nếu Trường Chúa nhật không thành công thì Hội Thánh còn giữ tôi làm gì; ngược lại nếu sau 6 tháng Trường Chúa nhật có kết quả thì đâu cần tôi nữa. Cuộc thương thảo đi đến quyết định để sau sáu tháng sẽ thảo luận lại điều thứ 15.

Cảm ơn Chúa từ chủ tọa Hội Thánh đến các con cái Chúa trong Ban Trị Sự Hội Thánh đến Trường Chúa nhật đều tích cực cộng tác, Chúa cho Hội Thánh có một Trường Chúa nhật đạt được kết quả tốt, và Hội Thánh đã không cho tôi thi hành điều thứ 15 bằng cách mời tôi làm Cố Vấn cho Thanh Niên, Cố Vấn cho Truyền giảng, nói chung là Cố Vấn toàn bộ.

Những năm tháng đó, Chúa dùng anh chị em trong Hội Thánh Bình Tây giúp đỡ chúng tôi mọi mặt, yêu thương chúng tôi vô vàn, lo cho gia đình chúng tôi những nhu cần, tổ chức sinh nhật, tổ chức kỷ niệm ngày cưới cho chúng tôi. Những ngày Tết Trung Thu, Tết Âm lịch, Lễ Giáng Sinh, trong nhà chúng tôi đầy bánh và thịt. Vợ chồng tôi đi xe bus đến nhà thờ Bình tây, những buổi tối về trễ hết xe bus, anh em chở tôi về bằng xe đạp là phương tiện thông dụng thời đó.

Một lần sau buổi nhóm thờ phượng Chúa sáng Chúa nhật, một con cái Chúa sắp đi ngoại quốc đã tặng tôi một bao thư tiền trong đó có 500 đồng. Vì xe bus hôm ấy trễ giờ, nên số người thường ngày đã đông, nay lại đông hơn. Nhà tôi nói: Hôm nay Chúa cho có tiền mình đi xích lô về. Tôi không chịu, vì đi xe bus chỉ tốn mỗi người một đồng, còn đi xe xích lô thì tốn đến 15 đồng. Nhà tôi lại đề nghị đi xe lam, tôi cũng không chịu vì đi xe lam hai người phải tốn 5 đồng. Tôi muốn tiết kiệm vì nhu cần trong gia đình.

Khi lên xe bus, người đứng chật như nêm, người bán vé xe liên tục nhắc nhở coi chừng móc túi. Chúng tôi đã biết tệ nạn đó, nên cả hai luôn đứng đối diện nhau khi đi xe bus để dễ quan sát cho nhau, nhất là hôm nay có số tiền 500 đồng tôi đang để sâu trong túi quần bên hông. Thật bất ngờ, khi tôi vừa đặt chân xuống trạm dừng của xe bus để đi bộ về nhà thì khám phá túi quần của tôi đã nhẹ rỗng. Tôi buột miệng nói với Nhà tôi: Bị móc túi rồi ! trong khi đó chiếc xe bus từ từ lăn bánh. Nhà tôi nói: Bảo đi xích lộ 15 đồng, không chịu; đi xe lam 5 đồng cũng không chịu. Bây giờ đi xe bus tốn 502 đồng!

Về đến nhà, tôi yên lặng vào phòng quỳ xuống cầu nguyện với Chúa: "Chúa ơi, tiền của con cái Chúa cho con, bây giờ người ta móc túi lấy hết rồi. Xin Chúa bồi thường cho con. Nhơn Danh Chúa Jêsus Christ – Amen". Và tôi đứng lên chờ Chúa bồi thường.

Chiều Chúa nhật không thấy Chúa bồi thường. Ngày thứ hai, thứ ba, đến sáng thư tư, vào lúc hơn chín giờ, thì hai Chấp sự của Hội Thánh tại Bình tây là ông Lương Vĩnh Hy và Cô Hứa Bội Xuân, đến nhà thăm tôi. Sau khi thăm hỏi, ông Lương Vĩnh Hy cho tôi biết là anh chị em Tráng niên trong Hội Thánh nghe tin tôi đi xe bus bị móc túi, nên đã quyên góp mua cho tôi chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki (đã qua sử dụng), ông Hy hỏi tôi có vui lòng nhận không ? Dĩ nhiên là vui lòng nhận. Rồi ông phải bỏ công hướng dẫn tôi cách sử dụng xe Suzuki. Sau đó tôi làm chứng cho Ban Thanh niên về phép lạ Chúa bồi thường cho tôi, các Thanh niên nói: Mục sư dở quá, Mục sư mất 500 đồng, Chúa bồi thường chiếc xe Suzuki; nếu Mục sư để mất 1,000 thì Chúa bồi thường cho Mục sư chiếc xe Cub rồi(thời đó xe Cub là loại xe gắn máy mới nhập, giá cao). Cảm ơn Chúa, chiếc xe Suzuki đó đã giúp tôi bao dặm đường đi giảng khắp trong thành phố Sàigòn cho đến ngày không còn có thể chạy được nữa. Tôi nổi tiếng với chiếc xe Suzuki 100 (câu nói đùa của con cái Chúa trong các Hội Thánh gọi Suzuki 100 năm thay vì 100 phân khối là xe đời mới lúc bấy giờ).

Đặc điểm của Hội Thánh tại Bình Tây là rất chú trọng việc huấn luyện, và anh chị em nhân sự rất chịu nghe ý kiến của tôi. Chúa cho Hội Thánh đã giao tôi huấn luyện tất cả Giáo viên Trường Chúa nhật, các nhân sự Ban Truyền giảng, nhân sự Thanh niên, ngoài ra có một nhóm Chấp sự được Hội Thánh yêu cầu học với tôi về Thần Học, học Phương Pháp Làm Bài Giảng. Cảm ơn Chúa, ngày nay những người nầy đã trở nên những người hầu việc Chúa tại Mỹ, tại Canada, cũng như tại quê nhà, họ vẫn còn áp dụng cách giảng dạy đã học với tôi.

Cũng có những lần tôi phải đối đầu với những nhân vật quan trọng trong Hội Thánh như:

1.      Có một Chấp sự kỳ cựu và rất có thế lực trong Hội Thánh, nhất là đã từng phụ trách nhiều năm việc điều hành Trường Chúa nhật, đó là ông Trịnh Trọng Kinh. Khi tôi cho cải sửa tổ chức Trường Chúa Nhật của Hội Thánh, hai tuần sau, ông mời tôi đi ăn sáng với ông. Ông hẹn tôi tại nhà của ông kế bên chợ An Đông, và từ nhà của ông chúng tôi vừa đi bộ vừa trò chuyện. Ông hỏi tôi tại sao lại thay đổi toàn bộ cơ cấu tổ chức Trường Chúa Nhật do chính ông với hai mươi lăm năm gây dựng.

Tôi và ông đi từ chợ An Đông đến Bến Hàm Tử, ăn xong tô mì, lượt về ông đi bộ tiễn tôi đến ngã tư Trần Hưng Đạo - Cống Quỳnh, để tiếp tục câu chuyện. Cảm ơn Chúa, ông đã nghe, đã tranh luận, và cuối cùng đã quyết định ủng hộ tôi.

2.      Một ông tín đồ trên 50 tuổi bị ảnh hưởng của các Nhóm Hội Thánh Tư Gia lúc bấy giờ ai cũng được giảng, việc trở nên người giảng rất dễ dàng, nên lúc nào cũng đòi Thầy Truyền Đạo chủ tọa Hội Thánh cho ông giảng. Thầy Truyền Đạo chủ tọa than phiền với tôi về việc nầy và không biết giải quyết cách nào. Tôi đề nghị Thầy cho ông ấy gặp tôi, tôi nói với ông vui lòng dự học lớp Phương Pháp giảng với tôi một Khóa độ ba tháng, tôi sẽ nói với Thầy Truyền Đạo chủ tọa cho ông giảng dịp tối thứ tư như các anh em nhân sự khác (Lúc bấy giờ Hội Thánh dành buổi nhóm cầu nguyện tối thứ tư cho các anh chị em nhân sự sau khi học Phương Pháp giảng với tôi được giảng thực tập. Những bài giảng nầy đã được tôi nghe anh em trình bày qua và được Thầy Truyền Đạo chủ tọa duyệt trong tiếng Hoa). Ông đồng ý và đến học được hai lần trong hai tuần, sau đó ông nói học giảng khó quá, nên thôi không học và cũng không đòi giảng nữa.

3.      Vào một dịp Lễ Giáng sanh, một nhóm tín đồ thuộc giới mại bản trong Hội Thánh mời tôi và Thầy Truyền Đạo chủ tọa Hội Thánh đến Nhà Hàng ăn liên hoan Mừng Chúa Giáng Sanh. Thời đó (1984), việc ăn Nhà Hàng rất hiếm khi vì quá đắt tiền. Bước vào phòng tiệc có máy lạnh, tôi thấy có hai bàn tròn loại lớn mười sáu hay mười tám người ngồi. Tôi thầm nghĩ trong căn phòng kín đáo nầy, anh em vui vẻ cầu nguyện, hát Thánh ca ngợi khen Chúa Giáng sanh thì tuyệt vời.

Khi vào tiệc, người đại diện tổ chức tiệc đứng lên tuyên bố bằng tiếng Hoa. Tôi không hiểu hết, nên hỏi lại Thầy Truyền Đạo: “Có phải ông ấy nói ai uống nước ngọt thì ngồi bàn của tôi với Thầy; còn ai uống bia thì ngồi bàn bên kia, phải không Thầy? Thầy Truyền Đạo xác nhận là đúng. Tôi đề nghị Thầy nói với anh em vui lòng uống nước ngọt, đừng uống bia, vì hôm nay là ngày liên hoan Mừng Chúa giáng sanh. Thầy Truyền Đạo không dám nói, tôi phải vỗ tay làm hiệu và đứng lên khuyên anh em vui lòng uống nước ngọt vì mục đích Mừng Chúa giáng sanh, và vấn đề là có tôi là Mục sư và Thầy Truyền Đạo chủ tọa ngồi đây, có thể khiến nhiều người vấp phạm.

Mọi người đang ồn ào đột nhiên im lặng. Sau vài phút, người đại diện tổ chức tiệc lại hô hào tiếp tục và ra hiệu cho người phục vụ rót nước ngọt bên bàn chúng tôi, và cứ rót bia bàn bên kia.

Lần thứ hai tôi phải đứng dậy nói lời xin lỗi vì tôi không muốn con cái Chúa vấp phạm, nên xin phép ra về, không thể dự tiệc có bia.

Phản ứng của tôi tạo nên cái thắng trong Hội Thánh, vì từ trước tới nay không ai ra mặt ngăn trở việc uống rượu, uống bia trong những buổi tiệc. Có người biện luận với tôi rằng: Kinh Thánh đâu có cấm uống rượu, mà điều gì Kinh Thánh không cấm thì mình có quyền làm. Tôi nói với anh em rằng: Đúng là Kinh Thánh không trực tiếp cấm uống rượu, vì Chúa tôn trọng tự do của chúng ta. Nhưng Chúa đã ghi vào Kinh Thánh rất nhiều lần tai hại do rượu gây ra để chúng ta nhờ ơn Chúa khôn ngoan sử dụng sự tự do của mình mà tránh nó đi. Nếu nói điều gì Kinh Thánh không cấm thì chúng ta có quyền làm, thế thì Kinh Thánh không cấm hút thuốc, không cấm cờ bạc, nói mạnh hơn, Kinh Thánh không cấm chúng ta "ăn cứt", tại sao anh em không làm đi?

4.      Một Nhân sự rất tốt của Hội Thánh có người yêu hai năm rồi, nhưng vì gia cảnh và ở thời kỳ khó khăn (1983), nên chưa có điều kiện tổ chức Lễ Cưới. Tôi khuyên hai người nên tiến tới Hôn nhân, thì anh em đó trả lời tôi: Mục sư ơi, em còn chưa có được một cái giường để ngủ, làm sao có tiền cưới vợ? Tôi hỏi anh em nầy cần những điều kiện gì để tổ chức Lễ Cưới? Có lẽ anh em nầy muốn thách thức tôi nên nêu ra điều kiện: Thưa Mục sư, em chỉ có 10 ngàn đồng (1983) cho Lễ Cưới, nhưng em dự dịnh mời 400 người, muốn có một Bánh Cưới ba tầng. Cảm ơn Chúa, Ban Trường Chúa nhật ủng hộ và nhờ chị Đào Việt Tiến giúp phần công làm cũng như khéo tính, nên một ổ Bánh Cưới, không phải cao 3 tầng mà cao 6 tầng, và có 450 phần ăn với số tiền 10 ngàn đồng. Điều kỳ diệu nầy khiến cô dâu chú rể đã xin ghi lên trên phông nhà thờ trong ngày cưới câu Kinh Thánh: ‘ÌNH YÊU THƯƠNG TRÔNG CẬY MỌI SỰ (I Côrintô 13:7). Một Lễ Cưới linh đình với 10 ngàn đồng, có cắt băng khai mạc giờ Lễ, đã làm ngạc nhiên biết bao nhiêu người lúc ấy.

Tình yêu thương của con cái Chúa trong Hội Thánh tại Bình Tây khiến tôi phải thốt lên lời trong sách Nhã ca 7:5c, "Lọn tóc nàng làm vấn vít ái tình tôi". Chúa cho tôi cộng tác với Hội Thánh tại Bình Tây đến năm 1987. Khi Thầy Truyền Đạo Khưu Hoa xuất cảnh đi Canada, Hội Thánh đã xin tôi làm chủ tọa, Tổng Liên Hội đã bổ nhiệm, nhưng bị Công An Thành phố bác đơn. Dù lúc bấy giờ phía Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố chấp thuận. Và công việc Chúa giao cho tôi giữa Hội Thánh tại Bình Tây đã xong, tôi rời Hội Thánh.


Ở TÙ LẦN THỨ HAI

Buổi chiều Chúa nhật ngày 3 tháng 11 năm 1982, Công An đã bao vây nhà thờ tại An Đông bắt một số người đang họp mặt chương trình Gia Đình Hàm Thụ, do Truyền Đạo Đoàn Trung Tín triệu tập và tổ chức. Tiếp theo cuộc bắt bớ nầy, Mục sư Nguyễn Hữu Cương là chủ tọa Hội Thánh tại An Đông đã liên đới chịu trách nhiệm, vì buổi họp mặt đó tổ chức trong phạm vi nhà thờ do ông phụ trách, dù theo lời Mục sư Cương là ông không biết, mà hoàn toàn do Truyền Đạo Tín tự tổ chức.

Biến cố nầy khiến Công An buộc Mục sư phải đăng ký tất cả các giờ sinh hoạt của Hội Thánh tại An Đông trong tuần, và họ bắt đầu chú ý truy hỏi về buổi nhóm tối thứ bảy dành cho các Sinh viên. Từ trước tới nay, Mục sư Cương không đăng ký buổi nhóm nầy, nhưng bây giờ bắt buộc đăng ký với tên gọi là: Buổi nhóm dành cho những người đi học Đại học.

Mùa Giáng sanh năm 1982 ấy, không một diễn giả nào được đến giảng tại nhà thờ An Đông, chỉ Mục sư Cương được giảng. Ngày 1 tháng 1 năm 1983, các Sinh viên tổ chức đi Trại ngoài trời, không nhóm ở nhà thờ. Thứ bảy tuần sau, ngày 8 tháng 1 năm 1983, Sinh viên nhóm buổi đầu tiên năm mới theo chương trình đăng ký mới, và tôi được mời giảng cho buổi nhóm nầy.

Sau phần thờ phượng Chúa, tôi lên giảng được độ năm phút thì một đoàn Công An bước vào và ngồi ở phòng phía ngoài cửa ra vào phòng nhóm. Mục sư Cương vào trấn an buổi nhóm là Công An chỉ đến để kiểm tra an ninh, anh em cứ nhóm bình thường, tuy nhiên ai nấy đều quá kinh nghiệm với những lời trấn an như vậy. Họ chờ chúng tôi kết thúc buổi nhóm, bắt đầu kêu tôi và Mục sư Cương riêng ra, rồi kiểm tra giấy tờ các anh chị em trong buổi nhóm, ai có giấy tờ tùy thân thì họ ghi tên, địa chỉ cho về, còn lại trên mười cô và năm người Sinh viên nam không đem theo giấy tờ tùy thân nên họ tuyên bố giữ lại sáng hôm sau làm việc. Tôi phản đối việc giữ các cô ở lại, yêu cầu cho các cô về, tôi và năm Sinh viên nam ở lại là quá đủ (họ cho Mục sư Cương về nhà thờ vì gần bên, yêu cầu sáng trở lại). Cuối cùng họ cho tất cả các cô về. Buổi sáng họ bắt đầu xét hỏi chúng tôi. Riêng tôi và Mục sư Cương thì họ ép chúng tôi vào tội "tổ chức Sinh Viên", vì họ rất sợ việc tổ chức tập hợp thành phần trí thức, họ còn viện dẫn biểu quyết của Tổng Liên Hội đã ra lịnh giải tán Đoàn Sinh Viên Tin Lành sau 30-4-1975, như vậy chúng tôi bị gán tội chống cả Chánh quyền và Giáo hội. Mục sư Cương và tôi quyết liệt bác bỏ việc kết tội tổ chức sinh viên, mà đây chỉ là buổi nhóm giáo lý cho những người đi học Đại học và sau Đại học. Sự tranh cãi cứ thế kéo dài. Sau cùng, tôi đề nghị định nghĩa lại ý nghĩa chữ Sinh viên:

1.      Nếu bảo "Sinh Viên" là một "Tổ Chức Sinh Viên" thì chúng tôi không có tổ chức đó.

2.      Nếu bảo "Sinh Viên" là "Những người đang đi học Đại học" thì chúng tôi có buổi nhóm giảng giáo lý Kinh Thánh dành cho những người có trình độ Đại học.

Họ thấy không làm gì hơn được, nên đành tạm cho tôi và Mục sư Cương ra về trưa ngày Chúa nhật đó. Nhưng lần lượt họ theo địa chỉ của các Sinh viên đã bị ghi lại, gọi lên để hỏi điều nầy điều khác. Đến sáng thứ bảy ngày 25 tháng 6 năm 1983, Công An Thành phố đã chia nhau đi bắt Mục sư Cương, Truyền Đạo Châu văn Sáng là Phụ tá của Mục sư Cương, Truyền Đạo Đoàn Trung Tín, và tôi, với lịnh bắt tôi là: "Gây Rối An Ninh Chính Trị". Tất cả chúng tôi bị giam tại Trại giam số 4 đường Phan Đăng Lưu, ngang chợ Bà Chiểu)

Tại Trại giam nầy, họ tống tôi vào loại phòng giam gọi là biệt giam, một loại phòng giam tối, tôi phải làm mấy câu thơ để mô tả nó:

Hai thước rưởi dài, thước rưởi ngang,
Nhà gì mà tối như cái hang.
Nhà tù, chớ phải đâu nhà tớ,
Can đảm vào, đừng có thở than!


Loại phòng biệt giam nầy chỉ chừa một lỗ gió nơi cửa sắt phía trước, bề ngang một tấc, bề cao độ 2 tấc, ban ngày họ đóng lại, chỉ mở cửa để đưa cơm vào và buổi tối thì mở để thỉnh thoảng họ rọi đèn vào kiểm soát. Mọi tiếng động chung quanh người trong phòng giam đều nghe được, nhưng người ở trong phòng nói gì thì không ai ở ngoài nghe được.

Những ngày tù ở đây, họ hỏi đủ thứ chuyện, từ chuyện cá nhân, chuyện Hội Thánh, chuyện giáo lý,..

Có lần họ kêu tôi ra hỏi cung, người Công An nói: Nói ra không phải để thù nghịch, nhưng chúng tôi là người Cộng sản theo Duy Vật; còn các anh làm Tôn giáo là Duy Tâm. Hai điều đó không thể nào hiệp nhau.

Tôi trả lời: Đúng như anh nói, giữa Duy Vật và Duy Tâm không thể hiệp nhau. Nhưng Tin Lành của chúng tôi thì không phải Duy Vật cũng không phải Duy Tâm.

Người Công An đó lập tức hỏi: Thế thì Tin Lành các anh "duy" gì?

Tôi đáp: Người Tin Lành chúng tôi DUY CHÚA.

Duy Chúa là thế nào ?

Tôi giải thích: Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng khi Đức Chúa Trời dựng nên loài người thì Chúa lấy bụi đất - bụi đất là một khối vật chất, nắn nên hình người. Tuy nhiên đó mới là hình người, là một khối vật chất, là tượng người không phải con người. Kinh Thánh cho biết rằng Đức Chúa Trời còn hà sự sống của Ngài vào lỗ mũi của tượng đất đó, đó là tâm linh, là sự sống từ Đức Chúa Trời, thì tượng người đó trở thành Người. Chính Chúa Jêsus Christ phán: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng nhờ mọi lời phán ra từ Đức Chúa Trời. Không có người nào dại dột nói chỉ cần ĂN để sống, ngay như người Cộng sản các anh mặc dầu nói Duy Vật, nhưng các anh vẫn chú trọng tư tưởng. Ngược lại, cũng không ai điên khùng nói rằng không cần ăn mà sống được. Như vậy, khi nào tổng hợp được giữa cái Vật và cái Tâm, thì đó là Tin Lành.

Người Công An  đó chỉ còn cách là đuổi tôi vào phòng giam.

Một lần khác, một Công An nói với tôi rằng xã hội không thể chấp nhận Tôn Giáo, vì Tôn giáo là thuốc phiện của xã hội.

Tôi nói người ấy rằng: Hiểu như vậy thì tội nghiệp người nói câu "Tôn giáo là thuốc phiện của xã hội" quá.

Người Công An đó có vẻ giận hỏi ngay: Anh biết ai nói câu đó không?

Tôi đáp: Biết chớ, chính Karl Marx nói. Marx là một triết gia. Khi một triết gia nói một từ thì chúng ta phải hiểu từ đó theo ý nghĩa triết lý.

- Anh hiểu thế nào? Người Công An nầy hỏi tiếp.

- Khi nói đến THUỐC PHIỆN thì chúng ta phải hiểu hai phương diện: Thuốc phiện vừa là dược chất và cũng là độc chất. Trong Y khoa người ta sử dụng thuốc phiện là dược chất để giúp những bịnh nhân bớt đau nhức, an thần. Nếu không biết dùng mà lạm dụng nó, thì thuốc phiện sẽ trở nên độc chất. Tôi tin rằng Chủ Tịch Hồ Chí Minh biết Tôn giáo là Dược chất.

- Anh chứng minh đi. Người Công An có vẻ nôn nóng.

- Bằng cớ là Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đưa Tôn giáo vào Cơ Quan Mặt Trận Tổ Quốc. Nếu Tôn giáo là độc chất thì đưa nó vào sẽ làm hư tinh thần đoàn kết của Cơ quan nầy, vì một con sâu làm sầu nồi canh. Nhưng Chủ Tịch Hồ Chí Minh biết Tôn giáo là Dược chất, đưa nó vào sẽ làm tăng thêm sự đoàn kết Quốc gia.

 - Thôi, anh vào phòng (giam) đi. Đó là lời kết thúc buổi tranh luận mà người Công An ấy dành cho tôi.

Một lần, khi tôi được kêu ra chất cung, tôi nhìn thấy nơi góc phòng giam một hũ đựng đầy tàn thuốc lá, nhìn vẻ mặt cau có của người Công An chất cung, nhìn trên bàn là một đống sách vỡ không thứ tự, tôi nghĩ rằng buổi chất cung hôm nay sẽ căng thẳng, gay go.

Đề tài người Công An chất cung đưa ra cho tôi là: Mấy anh là người Tin Lành cho rằng muôn vật do Đức Chúa Trời dựng nên phải không ? Người Cộng sản chúng tôi thì quyết chắc muôn vật tự nhiên mà có. Suốt buổi sáng nay, tôi đã làm việc với anh Cương (Mục sư Nguyễn Hữu Cương), anh Hạ (Mục sư Hồ Hiếu Hạ). Bây giờ tôi muốn nghe ý kiến của anh.

Tôi nói: Đó là một cuộc tranh cãi không cùng. Giống như trong toán học, hoặc chúng ta chấp nhận tiền đề từ một điểm ngoài một đường thẳng, chúng ta có thể vẽ một đường thẳng song song với đường thẳng ấy và chỉ một đường mà thôi; hoặc là chúng ta chấp nhận tiền đề từ một điểm ngoài một đường thẳng, chúng ta có thể vẽ vô số đường thẳng song song với đường thẳng ấy. Phải chấp nhận một trong hai tiền đề ấy trước. Cũng vậy, nếu anh nói: muôn vật tự nhiên mà có, thì chứng minh cho tôi nghe. Sau đó anh cho tôi chứng minh “muôn vật bởi Đức Chúa Trời dựng nên. Tôi tin rằng với sự khôn ngoan Chúa cho chúng ta có, chúng ta biết điều nào triết lý điều nào là Chân lý. Bây giờ anh chứng minh đi.

Người Công An đó mau lẹ chuyển trái banh qua cho tôi đá trước: Anh chứng minh trước đi.

Thế là tôi đem bài học chứng minh có Đức Chúa Trời từ ngoại chứng rồi đến nội chứng như:

*   Vũ trụ làm chứng qua sự kỳ diệu của vũ trụ, sự tuần hoàn của vũ trụ, chứng minh phải có một Sự Khôn Ngoan tuyệt vời đã dựng nên, các anh gọi Sự Khôn Ngoan đó là gì tôi không cần biết, tôi gọi đó là Đức Chúa Trời, là Đấng Tạo Hóa.

*  Sự cấu tạo và vẻ đẹp của muôn vật như cây cỏ, hoa lá, làm chứng có một Bộ Óc Khôn Ngoan dựng nên.

*  Cấu tạo cơ thể con người làm chứng có Đấng Khôn Ngoan dựng nên, xếp đặt. Bàn tay của chúng ta với ngón cái xiên một góc làm chứng không phải là một độ lệch tình cờ mà từ một Đấng Tạo Hóa Khôn Ngoan làm nó lệch như vậy.

*  Ngôn ngữ loài người làm chứng có Đức Chúa Trời Tạo Hóa. Dù văn minh hay ngu dốt, dân tộc nào cũng có một danh từ để chỉ về Đức Chúa Trời.

*  Lương tri con người làm chứng có Đức Chúa Trời. Con người từ khi được sinh ra và lớn lên không cần ai dạy, đều nhận biết có một Đấng Cao Cả là Đức Chúa Trời.

*  Các Tôn giáo làm chứng có một Đấng Tối Cao là Đức Chúa Trời.

*  Kinh Thánh làm chứng có Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên trời đất.

*  Chúa Jêsus Christ làm chứng có một Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài.

*  Hội Thánh làm chứng có Đức Chúa Trời. Dù trải qua các thời đại, Hội Thánh gặp biết bao bắt bớ, khó khăn, nhưng Hội Thánh vẫn tồn tại và cứ rao giảng một Đức Chúa Trời thực hữu.

*   Cá nhân tôi làm chứng có Đức Chúa Trời.

Sau gần một tiếng rưởi đồng hồ, tôi trình bày bằng cớ Đức Chúa Trời dựng nên muôn vật, tôi nhắc tới phiên người Công An đó chứng minh muôn vật tự nhiên mà có. Người Công An ấy suy nghĩ một chút rồi bảo tôi: Anh vào đi. Thế là tôi trở vào phòng giam. Tôi vẫn nhớ lời Thầy tôi dạy tại Thần Học Viện rằng chứng minh có Đức Chúa Trời dễ hơn chứng minh không có Đức Chúa Trời.

Một lần khác tôi thật buồn khi nghe người Công An chất cung tôi tuôn ra những khuyết điểm trong nội bộ Giáo hội. Tôi biết rằng có ai đó đã lập công với Chánh quyền bằng cách nói cho họ nghe những tranh giành quyền lực giữa những người lãnh đạo Giáo hội. Ngồi nghe họ nói rất nhiều với giọng điệu chế nhạo, mỉa mai, lòng tôi xót xa khi nghĩ đến những câu: "dòi trong xương dòi ra", "vạch áo cho người xem thẹo", "gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau", … Tôi đã đứng bật dậy và nói với người Công An đó: Thật ra đó chỉ là lỗi lầm của Cơ-đốc nhân chúng tôi. Tại chúng tôi không sống đúng như Lời Chúa dạy. Nếu hai trăm năm trước, Cơ-đốc nhân chúng tôi sống như Chúa dạy, thì thế giới ngày nay làm gì có chủ nghĩa Cộng sản của các anh. Nhưng dù sao tôi cảm ơn Chúa là anh chỉ nhìn thấy lỗi lầm của chúng tôi, nhưng anh cũng đã công nhận Chúa dạy đúng.

Khi trở vào phòng giam, tôi đã khóc với Chúa và cầu nguyện: Xin Chúa tha tội cho chúng con, vì chúng con đã không sống như Chúa dạy, nên người đời chế nhạo Hội Thánh của Chúa. Sau một giấc ngủ, tôi chợt thức dậy và trong trí tôi vang lên một bài hát tự đáy lòng tôi:

Xin ban cho con một tình yêu,
Một tình yêu giống Chúa yêu con.
Xin ban cho con một tình yêu,
Một tình yêu giống như Ngài.
Xin ban cho con một tình yêu,
Một tình yêu giống Chúa khi xưa,
Yêu kẻ thù và chết thay cho người.
Lạy Cha, xin thứ tha,
Dù rằng họ đã đóng đinh Ngài.
Xin ban cho con một tình yêu,
Một tình yêu giống Chúa khi xưa,
Yêu kẻ thù và chết thay cho người.


Tôi thấy lòng mình lắng xuống và mơ ước một ngày tươi sáng hơn cho Hội Thánh của Chúa.

Những ngày trong tù tại trại giam số 4 Phan Đăng Lưu nầy, tôi gặp được những người mà tôi muốn ghi lại đây:

** Tôi gặp một người tên Triệu Bỉnh Thiệt, ông là người Hoa ở Chợ lớn, rất giàu có và nổi tiếng ăn chơi. Ông Triệu nói với tôi chuyện làm ăn không cần vốn của ông, một lần nhờ một người trong một Công ty ở Hong Kong bán cho ông một số lượng lớn bóng đèn neon dài 1.2 mét. Khi giấy báo hàng đang chuyển về, ông đem giấy đó bán sang tay cho một Công ty Điện máy Quốc doanh ở Thành phố với giá rẻ (lúc bấy giờ là thời bao cấp, hàng ngoại rất có giá), với điều kiện là cho ông nhận tiền mặt, ngược lại ông chi hoa hồng cho tất cả nhân viện trong Công ty Điện máy Thành phố, từ Giám đốc đến nhân viên thấp nhất, người chức vụ nhỏ nhất cũng được một cái máy thu thanh (radio). Khi đến hạn giao hàng, ông không giao, đợi cho Công ty phàn nàn vài lần, ông tình nguyện trả lại toàn bộ số tiền mà ông đã nhận, còn bồi thường một số thiệt hại. Ngay sau đó ông dùng giấy tờ bán hàng cho Cửa Hàng Quốc doanh lấy hàng ra không có thuế, rồi bán với giá cao cho tư nhân. Thế là ông vừa mượn vốn vừa biến hàng tư nhân sang quốc doanh, từ quốc doanh sang tư nhân, hưởng mức lời thật cao.

Ông kể rằng ông từng bảo trợ những đội bóng đá trong Thành phố, các chương trình thể thao để lấy tiếng, tổ chức những buổi ăn nhậu với các nhân vật lãnh đạo Thành phố, nhờ đó thế lực của ông rất lớn. Khi lên đến một đỉnh điểm thì ông bị họ đánh ngã, ông nói với tôi là ông bị buộc phải khai hết người nầy đến người khác đã nhận hối lộ của ông. Một hôm, ông trở về phòng giam sau một buổi bị hỏi cung, ông vui lắm cho biết là người Công An hỏi cung đã cho phép ông viết thư gởi về người vợ bé của ông bảo gởi tiền cho ông để ông có thể sống thoải mái trong tù, vì từ ngày bị bắt đến nay qua mấy tháng, họ không cho ai thăm nuôi ông, mục đích làm áp lực buộc ông phải khai. Ông còn nói là trong thư ông căn dặn về những phần tài sản ông còn cất giấu. Dĩ nhiên ông đã hứa chi cho người Công An xét cung đem thư về cho vợ bé của ông một số tiền lớn. Ai trong phòng giam nghe xong cũng đoán rằng ông bị gạt rồi, nhưng ông vẫn tin và hứa hẹn tặng quà người nầy người kia. Ngày hôm sau, ngồi trong phòng giam nhìn ra hành lang, mặt ông tái xanh lại khi thấy chiếc xe hơi của ông, rồi bàn ghế, vật dụng trong nhà của vợ bé của ông được đưa vào kho tang vật, đau hơn nữa là vợ bé của ông cũng bị bắt giam luôn.

Vài ngày sau, khi bị hỏi cung trở lại phòng giam, ông nói với tôi rằng, hôm nay họ hỏi ông rất nhiều về ông Mai Chí Thọ, đang là Giám đốc Sở Công An Thành phố. Tôi nói với ông là ông đang ở trong tình trạng rất nguy hiểm, còn ông thì tin lời họ hứa nếu ông khai thật, ông sẽ được khoan hồng về sớm. Ngày mai ông được kêu đem theo quần áo ra, ông vui mừng từ giã mọi người trong phòng giam. Sau vài hôm, chúng tôi được tin ông bị chuyển vào biệt giam trong Khám Chí Hòa, mấy lần ông tìm cách tự tử.

Điều tôi muốn nói là khi tôi nói về Chúa cho ông Triệu, ban đầu ông nghe vì ông muốn được nói tiếng Quảng Đông, nhưng sau vài lần, ông nói với tôi rằng lúc hai mươi tuổi ông đã làm giám đốc ông có một người quản gia là tín đồ Tin Lành tên Lý Trung, thuộc viên Hội Thánh Bình Tây (tôi biết ông Lý Trung, một tín đồ đã lớn tuổi), giúp việc cho ông hai mươi năm. Mỗi năm vào dịp Lễ Giáng Sanh, ông Lý Trung luôn đặt trên bàn của ông Triệu một tấm thiệp chúc mừng Giáng sanh. Ông Triệu nói rằng ông rất ghét những tấm thiệp đó vì ông Lý Trung cứ ghi lời khuyên ông chủ của ông tin Chúa. Ông Triệu vứt tấm thiệp đó vào sọt rác để sáng mai ông Trung đem đổ rác sẽ hiểu phản ứng của ông Triệu. Tuy nhiên, hai mươi năm (đến ngày ông Triệu bị bắt), là hai mươi tấm thiệp Chúc Mừng Giáng Sanh được đặt lên bàn ông Triệu. Bây giờ bị giam trong tù, nghe nói về Tin Lành, ông nhớ lại và thấy hổ thẹn, đồng thời cũng cảm phục sự nhẫn nại yêu thương của một người tin Chúa như ông Lý Trung. Ông Triệu hứa rằng ông sẽ lưu tâm đến Chúa và ngày nào ông được về, ông sẽ xây  cho tôi một nhà thờ thật to. Khi tôi ở tù về có gặp ông Lý Trung tại nhà thờ Bình Tây, và thuật lại cho ông Trung nghe công khó của ông không phải là vô ích. Rất lâu về sau, tôi được tin là ông Triệu được thả nhưng rồi bị bắt lại. Tôi không biết có ai kiên nhẫn vì Chúa như ông Lý Trung với hai mươi năm âm thầm làm chứng về Chúa không?

** Tôi gặp Nguyễn Hồng Nhuận Tâm, bút hiệu là Huy Tâm, nguyên là Chánh Án Tòa Thượng Thẩm Sàigòn. Ông Tâm bước vào nhà tù với tâm trạng đầy lo lắng, buồn, có lúc ông nói muốn tự tử. Tôi nghe nói ông là Thẩm phán, nên làm quen bằng cách muốn nghe ông nói về Luật Lamã, là Bộ Luật căn bản của các Sinh viên Trường Luật. Ông Tâm hỏi tôi tại sao muốn biết về Luật Lamã? Tôi giải thích lý do là vì trong Kinh Thánh có một thư gọi là Thư Lamã, tác giả là một luật sư nổi tiếng thời đó khoảng 60-70 SC. cho đến ngày nay. Trong thư đó nói rất nhiều về Luật, luật pháp. Ông Tâm nghe xong trở nên linh hoạt khi được nói về chuyên môn của ông, và cũng từ đó ông trở nên một người bạn tốt của tôi, ông sống lạc quan hơn. Cảm ơn Chúa, sau khi ra tù một thời gian, Chúa cho ông đi tìm tôi trước khi xuất ngoại sang Mỹ, vì ông đã tin Chúa.

** Một hôm, vào sáng Chúa nhật, một người tù tên Tôn Thất Định, người đã nghe tôi nói về Chúa, anh Định muốn gặp tôi và tâm sự với tôi hai việc: (1) Anh cho tôi biết rằng bị bắt vì tội chống chế độ Cộng sản cùng với một số người. Họ đã kết án tử hình anh. Anh cho tôi biết anh muốn tin Chúa, muốn tôi cầu nguyện cho anh; (2) Anh Định muốn nhờ tôi một việc là anh còn vợ và các con hiện ở Phan Rang, họ không biết anh bị bắt. Anh cho biết vợ anh bịnh nhiều năm qua. Anh nhờ tôi khi ra tù tìm cách đến thăm vợ và các con anh để nói với họ rằng anh muốn họ tin Chúa như anh.

Sau khi cầu nguyện cho anh, anh hỏi tôi là trước đây anh học Thiền, mỗi lần ngồi Thiền là anh tập trung tinh thần đẩy tất cả tạp niệm ra khỏi anh, bây giờ anh tin Chúa rồi, anh không muốn Thiền nữa, anh nên làm gì ? Tôi khuyên anh thay vì vận dụng ý chí sức riêng để lo đẩy những tạp niệm, thì anh nên mở lời cầu nguyện với Chúa, cầu nguyện cho vợ và cho con của anh, cho tương lai của anh. Vì ngày sau, anh bị chuyển đi, tôi không biết anh đi đâu, có người nói họ đem anh đi xử bắn.

Tôi có nhắn tin nhờ con cái Chúa tại Phan Rang tìm theo địa chỉ đến thăm vợ con của anh nói lại lời trăng trối của anh. Cảm ơn Chúa, tôi được anh Võ văn Thành là anh của Bác sĩ Võ văn Tự Hiến tại Phan Rang cho biết đã đến thăm, vợ con anh có đến nhà thờ cầu nguyện tin Chúa, Hội Thánh có tặng gia đình một quyển Kinh Thánh Tân Ước.

Tôi bị giam 18 tháng tại Trại giam số 4 Phan Đăng Lưu, được cấp cứu bốn lần vì tim mạch. Đến ngày 18 tháng 9 năm 1984, tôi nhận được giấy tạm tha vì điều kiện sức khỏe. Mấy tháng sau, tôi lại nhận được giấy gọi trở lại Trại giam số 4 Phan Đăng Lưu, không biết lý do.

Khi tôi đến Trại giam, thì gặp một người tên Vũ Đoàn Viên, là Cán Bộ Công An, tuổi trung niên, người Bắc, đã từng chất cung tôi trước đây. Trong phòng có một cái bàn dài, trên bàn có Kinh Thánh, có Tự Điển Việt-nam, có rất nhiều tập vỡ cũ (sau nầy tôi mới biết đó là những tập ghi bài giảng của các Mục sư Hồ Hiếu Hạ, Nguyễn Hữu Cương. Nhận xét đầu tiên của tôi là buổi gặp hôm nay đã được họ chuẩn bị rất chu đáo, nhưng tôi không biết mục đích của họ là gì. Sau vài câu chào hỏi xã giao, người Can Bộ nói với tôi rằng: Chúng tôi biết anh là một Mục sư chân chính, không hề làm chính trị, nên hôm nay chúng tôi mời anh đến đây để nhờ anh một việc hoàn toàn thuộc phạm vi chức năng Mục sư của anh. Chúng tôi muốn nhờ anh xác nhận xem những lời giảng của các anh Cương, và anh Hạ, có phải là từ Kinh Thánh không.

Ông ấy mở một quyển sổ lớn dò tìm một khoản rồi lục trong chồng tập bên cạnh rút ra một quyển, đọc cho tôi nghe một câu trong bài giảng của Mục sư Cương: "Chỉ có Cơ-đốc nhân mới biết ca hát, còn người vô đạo không biết ca hát là gì". Ông Viên hỏi tôi: Anh cho chúng tôi biết Kinh Thánh có nói rằng "Người vô đạo không biết ca hát không?" Tôi nhắc lại là chúng tôi không yêu cầu anh nói gì về chính trị, chúng tôi chỉ yêu cầu anh cho biết Kinh Thánh có nói như vậy không? Anh thấy rõ điều chúng tôi nhờ anh hoàn toàn thuộc chức năng Mục sư. Anh Cương mắng chúng tôi là người vô đạo, nghĩa là người không có đạo đức. Chúng tôi hỏi anh Cương ý nghĩa hai chữ "Vô Đạo" là gì, anh ấy là Phó Tiến Sĩ Thần học mà giải nghĩa "vô đạo" là người không có đạo. Anh xem trong Tự điển Việt-nam giải thích chữ "vô đạo" là gì đi (ông ấy đưa cho tôi quyển Tự Điển Việt-nam, tôi cầm lấy nhưng không mở ra). Anh Cương còn nói chúng tôi không biết ca hát, vậy thì anh đang nghe cái gì đó? Lúc ấy bên ngoài từ các loa phát thanh bài "Mùa Xuân trên Thành Phố…."

Tôi thấy họ đầy khôn ngoan và thủ đoạn muốn lừa tôi vào bẫy để buộc tội các Mục sư. Lòng tôi cầu nguyện với Chúa xin ban cho tôi sự khôn ngoan để trả lời.

Tôi nói với người Công An mưu lược nầy: Trong Hội Thánh Tin Lành chúng tôi có hai loại bài giảng: bài giảng bồi linh dành cho các tín hữu, và bài giảng truyền giảng dành cho những người chưa tin Chúa. Đây là bài giảng bồi linh, nên khi nghe Mục sư Cương nói "người vô đạo" ai cũng hiểu là nói về những người không có đạo, nghĩa là những người chưa tin Chúa. Còn nói "ca hát là nói đến sự ngợi khen Chúa, người chưa tin Chúa thì làm sao biết ngợi khen Chúa.

Người Công An ấy có vẻ bực tức vì không lừa được tôi, nên lại tra tìm một bài giảng khác. Đây nầy, anh nghe anh Cương giảng nè: "Đừng mua vé số, mua vé số là cờ bạc. Đừng đọc báo trước khi ngủ, nếu không muốn khi ngủ nhìn thấy ác mộng. Nhà Nước chủ trương phát hành vé số để xây dựng đất nước. Thế mà anh Cương lại cho rằng đó là cờ bạc. Không lẽ Nhà Nước chủ trương cờ bạc sao ? Báo chí là phương tiện tuyên truyền chánh sách của Nhà Nước, thế mà anh Cương lại cho rằng đọc báo sẽ thấy ác mộng. Anh là Mục sư, anh cho chúng tôi biết "Kinh Thánh có nói là đừng mua vé số, đừng đọc báo, vì sẽ thấy ác mộng" không?

Tôi nói với người Cán bộ đó: Người tin Chúa nào cũng biết là Mục sư đang nói về những người mua vé số vì lòng tham tiền. Kinh Thánh nói rằng "Tham tiền là cội rễ mọi điều ác". Tôi hỏi Cán Bộ có phải những người mua vé số là vì họ muốn xây dựng đất nước hay là vì họ tham tiền? Muốn xây dựng đất nước thì có bao nhiêu cách, đâu phải chỉ là mua vé số. Còn vấn đề đọc báo, bất cứ người tín đồ nào cũng biết Mục sư Cương đang khuyên tín đồ mỗi tối thay vì chỉ đọc báo, thì phải đọc Kinh Thánh cầu nguyện trước khi đi ngủ để Chúa giữ gìn bình an, khỏi phải nằm mơ nầy mộng nọ".

Người Cán bộ ấy lại quay sang một bài giảng của Mục sư Hồ Hiếu Hạ. Mục sư Hạ giảng trong sách Gióp 35:10b, "Chúa khiến cho người ta hát vui mừng trong ban đêm". Mục sư Hạ áp dụng: "Ban đêm của chúng ta là gì ? Ban đêm của chúng ta là không có Hộ khẩu, không có việc làm." … Người Công An ấy nói: Anh là Mục sư, hãy xác nhận cho chúng tôi biết Kinh Thánh có nói ban đêm là không Hộ khẩu, không việc làm không?

Tôi trả lời: Người tín đồ nào cũng biết Kinh Thánh thường áp dụng "ban đêm" là những khó khăn, những thiếu thốn, khổ cực trong cuộc sống hằng ngày. Thực tế, một người không có Hộ khẩu thì không đi học được, không xin việc làm được, nên áp dụng là "ban đêm" như vậy là đúng".

Gần ba tiếng đồng hồ, tôi phải giải thích, cuối cùng họ cho tôi về nhà. Sau đó vài tháng, họ đưa các Mục sư Nguyễn Hữu Cương, Mục sư Hồ Hiếu Hạ ra Tòa kêu án mỗi vị 8 năm tù; còn Truyền Đạo Lê Thiện Dũng với án là 5 năm tù; Truyền Đạo Đoàn Trung Tín và Châu văn Sáng, mỗi người ba năm tập trung cải tạo không xét xử. Còn tôi, một năm sau, 1985, họ kêu lên Viện Kiểm Sát Thành phố để trao cho tôi "Quyết định miễn tố" với tội danh: Cùng đồng bọn tuyên truyền phản cách mạng, giảng đạo trái phép, trả về nguyên quán Đồng nai quản lý tại chỗ.

Khi tôi nghe đọc Quyết Định Miễn Tố nầy, tôi không chịu nhận với những lý do:

1, Suốt quá trình trong Trại giam, chưa có Cán bộ Chất pháp nào đề cập với tôi tội danh "Tuyên truyền phản cách mạng". Nếu chúng tôi phạm tội phản cách mạng thì làm gì tôi được miễn tố. Nếu chúng tôi làm chính trị phản cách mạng thì Giáo hội đã cách chức chúng tôi từ lâu rồi, đợi gì đến Chánh quyền bỏ tù. Nếu tôi có làm việc gì gọi là Phản cách mạng, tôi tình nguyện trở vào tù (Tôi vẫn nhớ đến giờ phút đó, anh em tôi vẫn còn trong tù, nếu tôi nhận giấy miễn tố nầy, tôi có lợi, nhưng vô tình nhận rằng chúng tôi đã làm chuyện phản cách mạng).

2. Làm gì có chuyện giảng đạo trái phép! Là Mục sư đương nhiên chức năng là giảng đạo. Tôi chỉ giảng trong nhà thờ là nơi dùng để giảng đạo. Tôi không giảng điều gì khác hơn là giáo lý trong Kinh Thánh. Chính các anh theo dõi đã nghe tôi giảng và không buộc tội tôi giảng điều gì sai Kinh Thánh. Thế thì sao gọi là giảng đạo trái phép.

Tôi từ chối nhận giấy Quyết Định Miễn Tố, thì người Cán Bộ Viện Kiểm Sát yêu cầu tôi phải nhận, vì trách nhiệm của anh ấy, nếu tôi không nhận thì anh ấy sẽ bị khiển trách. Tôi nói với anh là tôi sẽ tạm nhận với điều kiện tôi phải ghi vào Biên nhận những ý kiến của tôi. Tôi đã ghi tất cả ý kiến của tôi và ghi thêm những chữ "tôi tạm nhận để anh Cán Bộ không bị khiển trách". Cầm tờ Biên nhận nhỏ với chi chít chữ, anh Cán Bộ đó lầu bầu, nhưng đành chịu. Tôi về đến nhà và lập tức làm một đơn khiếu nại từng khoản như trên và yêu cầu Viện Kiểm Sát điều chỉnh Quyết Định Miễn Tố. Tôi gởi đơn nầy kèm theo tờ Quyết Định Miễn Tố cho Viện Kiểm Sát Thành Phố. Cho đến nay (lúc tôi viết những lời nầy), họ chẳng trả lời. Ngược lại cũng cho đến nay, tôi và gia đình chúng tôi gồm vợ, chồng, con cái, không một người nào được cấp hộ khẩu hoặc chứng minh nhân dân, chúng tôi chỉ nhận được giấy chứng nhận tạm trú dài hạn, mỗi năm phải xin gia hạn một lần.

Năm 1987, Tổng Liên Hội theo đơn xin của Hội Thánh tại Bình Tây, gởi đơn lên Chánh quyền thành phố, xin bổ nhiệm tôi làm chủ tọa Hội Thánh tại Bình Tây, nhưng Công An bác đơn với lý do chưa có Hộ khẩu và đã vi phạm pháp luật Nhà Nước.

Tôi cầm đơn bị bác đó lên Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố khiếu nại, thì được cấp giấy giới thiệu qua Sở Công An làm thủ tục xin nhập Hộ khẩu. Một tuần sau, tôi nhận được một QUYẾT ĐỊNH TRỤC XUẤT RA KHỎI THÀNH PHỐ TRONG VÒNG 7 NGÀY.


LƯU HÀNH

Cầm lịnh trục xuất trong vòng bảy ngày, tôi không biết làm gì hơn là đến gặp vài vị lãnh đạo Giáo hội, xin được can thiệp, nhưng chỉ nhận được những câu trả lời là không thể với vẻ mặt đầy sợ sệt. Cuối cùng tôi và Nhà tôi cầu nguyện với Chúa và đi đến gặp ông Ba Dân là Phó Ban Tôn Giáo Thành phố. Ông nầy dường như biết rõ trường hợp của tôi, nên ông vào đề ngay bằng cách yêu cầu tôi xuất trình giấy chứng minh tôi và gia đình có gốc ở Thành phố. Tôi đã nộp đầy đủ theo yêu cầu. Hai tuần sau, theo hẹn của ông Ba Dân, tôi trở lại Ban Tôn Giáo Thành phố, vừa bước vào, ông Ba Dân đã đứng lên bắt tay tôi và chúc mừng tôi lý do Sở Công An đã chấp thuận, nhưng với điều kiện, ông nói: "Nó" (ông ám chỉ bên Sở Công An) đã lỡ đuổi anh rồi, bây giờ anh phải nhượng bộ 50%, nghĩa là "nó" bằng lòng cho anh ở Thành phố, nhưng phải ra khỏi 30 Hồ Hảo Hớn.

Nói thì dễ, nhưng gia đình tôi ở đâu? Suốt bao nhiêu năm hầu việc Chúa, bao nhiêu tiền bạc Chúa cho chúng tôi có qua tiền Truất Hữu Ruộng Đất theo luật Người Cày Có Ruộng năm 1972, mà bà gia tôi đã cho, thì đã cùng với bà dâng hết vào việc xây dựng nhà thờ tại Túc Trưng rồi. Những gì chúng tôi còn được thì đã tiêu tan trong những năm tháng tôi bị tù. Từ ngày tôi ở tù về (năm 1980), bị bịnh gần chết, rồi bị bắt lần thứ hai, đến nay (1987), chúng tôi sống mỗi ngày phải cầu nguyện xin Chúa tiếp trợ. Tôi có cảm tưởng nếu ngày nào chúng tôi không cầu nguyện xin Chúa tiếp trợ, thì ngày đó chúng tôi không có gì để ăn. Tôi nghe nói có một con cái Chúa rao bán căn nhà với giá 8 lượng vàng, vì đã mua căn nhà khác lớn hơn, tôi đến gặp và xin được mua trên danh nghĩa hoặc trả góp cách nào đó, mục đích là để giải quyết vấn đề Hộ khẩu; nếu giải quyết được vấn đề Hộ khẩu tức là giải quyết vấn đề bổ nhiệm chức vụ. Rất tiếc con cái Chúa không thể bán cho tôi, dù họ không cần tiền, và đã có nhà mới rồi.

Một buổi chiều ba mươi Tết, một con cái Chúa (nay là Mục sư Đoàn Hưng Linh) gặp tôi và nói: Sáng mai, em sẽ đến xông nhà của Mục sư. Tôi về nhà thấy lòng tủi tủi, tức cảnh sinh tình mấy vần thơ:

Đất tôi chúng giựt từ năm ngoái,
Nhà tôi đã bán tự thuở nào.
Bây giờ tôi sống trong thần thoại,
Chỉ còn trông đợi Chúa trên cao.


Chúng tôi cứ sống trong tình trạng không giấy tờ tùy thân, không Hộ khẩu qua từng năm tháng, có những lúc phải lấy Lời Chúa trong thư Hêbơrơ 11:38 để tự an ủi, "Thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc rày đây mai đó, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi".

Đặc biệt hơn nữa là từ năm 1982, khu nhà 30 Hồ Hảo Hớn nầy, trong đó có gia đình Cụ Mục sư Đoàn văn Miêng, Phó Hội Trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt-nam, vợ chồng cô Trang + Thiên Dân giúp việc cho gia đình Cụ Phó Hội Trưởng, ông bà Mục sư Trí sự Huỳnh Tiên, với gia đình chúng tôi, mỗi năm ít nhất bị ba lần xét nhà vào những dịp Lễ của Nhà Nước. Mỗi lần xét nhà là đầy phiền phức, họ (Công An) đến vào lúc 11 hoặc 12 giờ khuya, họ vào cả phòng ngủ riêng của Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng lục soát thật tận tình, bất chấp những nơi tế nhị cần lịch sự; họ có thể tịch thu bất cứ thứ gì mà họ cho là nghi ngờ, như quyển Thánh Kinh Lược Khảo, một cuộn băng Video, một cuộn băng Cassette. Dĩ nhiên họ làm biên bản tạm giữ nhưng chẳng bao giờ trả lại. Việc xét nhà nầy quen thuộc đến nỗi trong chúng tôi cũng đoán được gần đúng ngày họ đến.

Đôi ba tháng Công An Quận I lại kêu tôi và Mục sư Huỳnh Tiên đến để ra lịnh phải rời khỏi Cơ sở Tổng Liên Hội nầy. Có lần họ kêu cả Mục sư Phó Hội Trưởng lên, buộc Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng phải ký tên vào Biên bản cam kết không cho tôi và Mục sư Tiên ở trong Cơ sở nữa. Tôi đã xin Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng đừng ký vì việc nầy là giữa chúng tôi với Tổng Liên Hội do Cụ Mục sư Hội Trưởng cho phép chúng tôi ở. Cảm ơn Chúa, lằng nhằng mãi rồi cũng qua từng tháng.

Cảm ơn Chúa, dù không hề có một thứ giấy tờ tùy thân trong người, Chúa cho các con tôi được đi học xong lớp 12; dù không được thi vào Đại Học chính thức, nhưng lần lần rồi cũng qua được từng bước, vào Đại Học mở rộng.

Riêng phần tôi, Chúa cho các Hội Thánh dành cho sự yêu thương, nên cho tôi góp phần giảng dạy, huấn luyện nhân sự về Chứng đạo, Lời Chúa. Chúa cũng cho tôi và Mục sư Phạm An Vui (Mục sư Vui cũng ở tù nhiều năm) hiệp nhau tổ chức những khóa học gọi là Khóa Ghê-đê-ôn dành cho các con cái Chúa muốn dâng mình hầu việc Chúa.

Lần đầu tiên Khóa học tổ chức ở Dầu Giây, số học viên trên 30 người. Chúng tôi ngồi dưới đất trong vườn cây trái của một tín đồ. Buổi sáng tôi vừa dạy được khoảng hai tiết, thì có mấy người du kích an ninh tới hỏi thăm. Sau khi họ đi, chúng tôi lập tức chuyển nơi khác. Thời ấy hầu hết đều đi xe đạp cực khổ, còn chở thêm người nào không có xe. Đường sá lầy lội khi gặp mưa, ăn uống kham khổ, vì đâu có ai tài trợ, bảo trợ. Chủ yếu là làm sao có cơm ăn, còn thức ăn chủ yếu là chao, rau muống, hoặc cải trời có sẵn trong vườn, tối thì phân tán vào nhà tín đồ. Khóa học như vậy chỉ học hai hoặc nhiều lắm là ba ngày. Những ngày đó đầy ắp kỷ niệm giữa các anh em học viên, họ học với tất cả lòng khao khát, vui thỏa, trong khi lúc nào cũng sẵn sàng "di tản chiến thuật".

Có lần chúng tôi dạy trong khu vực kinh tế mới Xã Lộ 25,  buổi chiều di tản ra Dầu Giây, trên đường chúng tôi đi, chúng tôi mắc một trận mưa thật to, vừa ướt vừa bị đất sét dính xe đạp, không ai chạy xe được, khốn khổ nữa là phải vác xe lên vai còn chân phải bấm chặt từng bước đoạn đường dài 12 cây số trơn trợt, vắng vẻ.

Chúa cho Mục sư Phạm An Vui chịu khó di chuyển như con thoi qua các Hội Thánh kêu gọi các học viên, lo tổ chức, còn tôi lãnh nhiệm vụ là dạy. Được đôi ba Khóa, thì Chánh quyền gọi Mục sư Trần Bá Thành lên hạch hỏi. Thế là có lịnh từ Địa Hạt cấm tổ chức. Chúng tôi rất tiếc là phải chi Địa Hạt trả lời là không biết hay không chịu trách nhiệm, để chúng tôi tự làm tự chịu.

Dù vậy, từ những Khóa học đơn sơ như vậy, Chúa cho hình thành những lớp đào tạo các Truyền Đạo Tình nguyện sau nầy do Mục sư Lê Khắc Hóa đứng ra tổ chức, tôi được mời cộng tác dạy một số môn học.

Trong một buổi họp tại Nha-trang, chúng tôi được thông báo là Tổng Liên Hội đã yêu cầu Mục sư Phạm Xuân Thiều (lúc đó là Viện Trưởng Thần Học Viện trên danh nghĩa, vì chưa có Trường) là người trước đây được Tổng Liên Hội ủy thác lo bổ túc cho các anh em học Thần Học Viện dở dang sau năm 1975, hiện đang hầu việc Chúa. Việc đang tiến hành tốt đẹp tại các Địa Hạt (trừ Hạt Đông Nam Bộ), thì Mục sư Thiều bị Bộ Nội Vụ (Bộ Công An) gọi đến điều tra. Chánh quyền biết luôn cả ba lượng vàng mà Cụ Mục sư Hội Trưởng Ông văn Huyên giao cho Mục sư Thiều làm chi phí điều hành cho Chương trình Bổ Túc. Trước tình thế bất ổn từ bên trong, Mục sư Thiều phải gởi thư cho Tổng Liên Hội giao lại số vàng trên, đồng thời hủy bỏ Chương trình bổ túc. Chúng tôi là những người đang họp gồm Mục sư Nguyễn Lâm Hương, Mục sư Lê văn Thiện, Mục sư Nguyễn Ngọc Thuận, Mục sư Lê Khắc Hóa và tôi, nhờ ơn Chúa tiếp tục Lớp Truyền Đạo Tình Nguyện nầy với mục đích chuẩn bị người hầu việc Chúa cho những năm tới, đang khi chờ đợi Thần Học Viện được chánh thức mở cửa. Chúng tôi tính rằng, chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn từ Chánh quyền và từ những người muốn lập công với Chánh quyền, nhưng nếu cứ ngồi chờ Chánh quyền cho phép mở cửa Thần Học Viện, thì chưa biết đến khi nào; trong khi thế hệ đi trước lần lượt từ giã Hội Thánh về với Chúa hoặc đi nước ngoài. Chúng tôi quyết định cứ dạy, ngày nào Chúa cho Thần Học Viện được mở cửa, các anh em Truyền Đạo Tình Nguyện nầy sẽ được đưa về học một năm cuối, nhờ vậy sẽ đốt giai đoạn.

(Rất tiếc khi soạn Hiến Chương cho Hội Thánh chung, không biết vì lý do nào những người soạn đã bỏ qua những Truyền Đạo Tình Nguyện nầy, không ghi vào Hiến Chương, nên khi có tư cách pháp nhân, các anh em không được Chánh quyền công nhận, mà Giáo hội cũng không chịu nhận, mặc dù Địa Hạt Nam Trung Bộ đã mau lẹ hợp thức hóa cho anh em trước khi Địa Hạt giải thể theo qui định của Hiến Chương).

Thực tế, những Khóa Truyền Đạo Tình Nguyện nầy nhờ Mục sư Lê Khắc Hóa kiên trì lo liệu từ những ngày đầu tiên, sau đó được Ban Trị Sự Địa Hạt Nam Trung Bộ nhìn nhận, chánh thức cử Mục sư Lê văn Thiện đặc trách cùng Mục sư Hóa tổ chức và điều hành. Trước ngày giải thể cấp Địa Hạt theo Hiến Chương mới, Ban Trị Sự Địa Hạt Nam Trung Bộ đã cấp Chứng Chỉ cho các anh em trước khi giao lại cho Tổng Liên Hội. Nhưng đáng thương cho các anh em đã chịu cực khổ "học chui", "học chạy", rồi ra những địa phương chịu nhiều bắt bớ, có người bị đánh đập, giam cầm, có người vì ở nơi rừng sâu nước độc nên con cái sinh ra bị bịnh, bị suy dinh dưỡng èo uột. Vậy mà họ không được Giáo hội công nhận.

Tôi thật cảm động khi thấy Mục sư Lê Khắc Hóa yên lặng chịu đựng những lần bị điều tra, hạch hỏi, hăm dọa của Chánh quyền, nhất là Chánh quyền tỉnh Thuận Hải, anh em hay gọi là tỉnh "Kinh Hải". Tôi cũng không biết Mục sư Hóa tìm nguồn tài chánh ở đâu để điều hành mấy năm dài những Khóa học, có lúc thì anh em chúng tôi đến dạy có được chút ít tiền lộ phí (không phải tiền bồi dưỡng), có lúc cơm nhà áo vợ đến dạy. Đặc biệt nhất là dù Mục sư Hóa không dạy môn học nào, nhưng ông luôn có mặt những lúc đầu giờ là những giờ Học viên làm chứng để khích lệ học viên cầu nguyện, nghe các Học viên thuật lại sau những tháng về địa phương thực tập, những vui buồn, rồi cùng các Học viên quỳ gối cầu nguyện. Những bữa ăn dù tài chánh rất hạn chế (tôi không biết từ đâu, ngoài ra từ Chúa), nhưng bà Mục sư Hóa và các con trong gia đình đã đồng công với ông lo rất chu đáo. Lâu lâu do bà muốn cho anh em Học viên ăn ngon một chút, bà ra chợ mua đồ biển (vì Bình tuy là vùng biển), đem về cho anh em một bữa cuốn rau sống. Rủi cho anh em hình như quen ăn cực rồi, nên khi ăn ngon lại không ngủ được cả đêm. Những ngày học (hai hoặc ba ngày mỗi tháng hoặc hai tháng, tùy tình hình và tùy tài chánh cho anh em Học viên, nhất là phần lộ phí cho các anh em ở xa về học), là những ngày căng thẳng, vì phải giữ yên lặng tuyệt đối. Các Học viên được lịnh là vào nơi học thì không được ra ngoài, không nói lớn tiếng, … Dù vậy, Chúa cho lần lần chúng tôi cũng cứ nhóm cầu nguyện sáng hoặc tối thì hát ngợi khen Chúa vui vẻ. Cảm ơn Chúa, sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá sự hiểu biết của chúng tôi, Chúa đã giữ gìn chúng tôi trọn vẹn, chưa lần nào bị khó khăn.

Về các Học viên. Tôi thật cảm ơn Chúa khi thấy các anh em thật chịu khó chịu cực để học và hầu việc Chúa. Tôi phải công nhận rằng anh em học rất nghiêm túc, tất cả đều là những người có trình độ thuộc linh và trình độ Kinh Thánh tốt. Các anh em luôn có những câu hỏi bất ngờ, thường tranh luận sôi nổi, khi học môn Thần học với tôi. Tôi thú thật là rất sợ chấm bài thi của anh em, vì mỗi lần các anh em làm tiểu luận về Kinh Thánh hay Thần học, thì hầu như người nào cũng làm cả một quyển tập 100 trang, chữ ôi là chữ, khiến tôi đọc ngán ơi là ngán. Mà không đọc kỹ, chắc chắn các anh em sẽ không bỏ qua. Mỗi lần về học, hoặc sau khi ra Hội Thánh chánh thức (chánh thức theo diện "chui", liều mạng bám trụ), khi gặp nhau, các anh em đã kể cho tôi nghe biết bao là gian khổ trong chức vụ, tôi nghe mà thương mà ngậm ngùi, vì đâu có ai ngoài Chúa biết họ. Trong khi đó, bao nhiêu người ở Thành phố, ở Hải ngoại, sống bình an, sung sướng. Tôi ước chi những người sung sướng đó nhín ra một chút dư thừa của mình, thì các anh em nầy đâu đến nỗi và được an ủi biết bao nhiêu. Họ đưa cho tôi xem những hình ảnh các lớp học Kinh Thánh tại địa phương để tiếp tục áp dụng điều họ học phương pháp môn đồ hóa, các lớp dạy Thiếu nhi là những cách truyền giảng Tin Lành hữu hiệu, những căn nhà nhóm lại bằng vật liệu nhẹ, đơn sơ, … Họ rất vui mà kể, mà nói, mà khoe. Anh em có biết đâu từ đáy lòng của tôi, tôi cảm thấy hổ thẹn vì mình chưa xứng đáng chịu khổ như anh em, chưa trung tín như anh em, vậy mà anh em lại coi mình là "Thầy". Ngồi nghe những khó khăn trong chức vụ, cần được vài lời hướng dẫn giải quyết, hoặc được cầu nguyện cho, tôi cảm nhận Chúa yêu thương tôi nhiều lắm, vì trong cái yếu đuối của mình, cái hoạn nạn của mình, Chúa cũng còn cho tôi giúp được anh em, như Sứ đồ Phaolô nói trong thư II Côrintô 1:4, Ngài yên ủi chúng tôi trong mọi sự khốn nạn, hầu cho nhơn sự yên ủi mà Ngài đã yên ủi chúng tôi, thì chúng tôi cũng có thể yên ủi kẻ khác trong sự khốn nạn nào họ gặp.

Khi tôi đọc quyển Dám Sống Bên Bờ Vực của ai đó tặng tôi, tôi chợt nghĩ "bờ vực" mà Chúa cho tôi đứng bên còn lớn hơn và sâu hơn của tác giả quyển sách đó. Ở giữa một thành phố đông dân nhất nước, giàu có nhất nước, chúng tôi có một gia đình sáu người không có một giấy tờ hợp pháp để tùy thân, không một căn bản kinh tế nào để sống, mỗi ngày gia đình chúng tôi phải nhóm cầu nguyện Gia Đình Lễ Bái, để ngợi khen Chúa trong gia đình, để đọc một đoạn Kinh Thánh, để tập các con cầu nguyện, và để cùng nhau đọc bài cầu nguyện chung "Lạy Cha chúng con ở trên trời" nhắc Chúa nhớ câu Chúa dạy: xin cho chúng con đồ ăn đủ ngày.

Chúng tôi đã giữ những giờ cầu nguyện Gia Đình Lễ Bái nầy từ khi mới cưới nhau. Cảm ơn Chúa, mỗi đêm, vợ chồng, con cái, họp lại và chọn một bài Thánh ca (nếu ai muốn chọn) hoặc theo thứ tự từ bài số một (trừ những bài không biết hát), rồi đọc một đoạn Kinh Thánh theo từng sách, cứ hết Kinh Thánh thì đọc lại từ đầu sách Sáng Thế Ký. Về sau, khi chúng tôi không có ở nhà, các con vẫn giữ sự nhóm lại như vậy. Khi chúng tôi về, buổi tối nhóm lại đến phiên ai cầu nguyện mà không nhớ là biết các con ở nhà có nhóm Gia Đình Lễ Bái không. Chúa cho các con tôi bắt đầu biết đọc chữ cũng nhờ Gia Đình Lễ Bái, suốt ngày chúng tôi khích lệ các con tập đánh vần một câu theo phần Kinh Thánh đọc đối đáp, đến tối, đứa con nào đọc được thì được thưởng.

Tôi thấy Gia Đình Lễ Bái thật ích lợi:

1.      Vì cả nhà đều có thể đọc suốt Kinh Thánh từ Sáng Thế ký đến Khải huyền nhiều lần.

2.      Cả gia đình đều có thể biết hát nhiều bài Thánh ca.

3.      Giúp các con có thói quen giữ sự kĩnh kiền khi nhóm lại.

4.      Giúp các con biết cầu nguyện từ những lời đơn sơ, ít nhất là cầu nguyện cho những người thân trong gia đình.

5.      Giúp các con sớm biết đọc chữ.

6.      Đặc biệt Gia Đình Lễ Bái là cách đem lại sự hòa thuận trong gia đình tốt nhất sau một ngày giận hờn, vì phải cầu nguyện cho nhau. Có một lần tôi và Nhà tôi giận nhau, suốt ngày không nói chuyện với nhau. Buổi tối, chúng tôi cố ý không đề cập đến nhóm Gia Đình Lễ Bái, nhưng các con theo thói quen cứ lấy Kinh Thánh và Thánh ca ra để nhóm. Đến lúc cầu nguyện là phiên thứ của tôi, tôi yên lặng vì lòng còn giận; các con tôi chờ một chút, chúng nó nhìn nhau rồi những ngón tay chỉ tôi, quay qua chỉ Nhà tôi, cứ chỉ qua chỉ lại, cả hai chúng tôi phải phì cười và hòa bình được tái lập.

Nói chung là chúng tôi không có gì cả, tiền bạc cũng không, giấy tờ tùy thân cũng không. Vậy mà Chúa đã cho tôi đi từ Quảng Trị đến Cà-mau.

Tôi đã đến Hội Thánh tại Sịa thuộc tỉnh Quảng Trị, cách Huế 30 cây số. Từ Huế ra, các con cái Chúa lo rằng tôi sẽ gặp khó khăn khi đến đó, do lạ mặt và do giọng nói hoàn toàn khác, nên có mấy người trong đó có cả ông Cụ Kiều Thành, dù tuổi đã cao nhưng Cụ vẫn ngồi xe gắn máy do con trai của Cụ chở cùng đi theo. Nhà thờ tại Sịa nhỏ, mái nhà thấp lợp tôn, vì là buổi chiều và tôi chỉ có thì giờ ra giảng một bài rồi về Huế ngay, khí hậu rất nóng. Vậy mà con cái Chúa đa số là những người làng đánh cá quê nghèo, mộc mạc, chưa hề biết tôi, đã kéo nhau đến nhóm lại rất đông. Nhìn con cái Chúa trung tín ngồi dưới mái tôn nóng giữa trưa, ăn mặc nghiêm chỉnh (phụ nữ đều mặc áo dài) để nghe giảng, tinh thần lúc nào cũng cảnh giác có ai tới hỏi thăm không, tôi cảm nhận lòng khao khát Lời Chúa của anh em thật là lớn biết dường nào.

Không biết từ bao đời, trong Miền Nam có thành ngữ (idiom) "đi tới Huế" để chỉ một người đi xa, đi lâu. Thí dụ, một đứa con được cha mẹ sai đi mua một món cần dùng nào đó ở một tiệm gần nhà, nhưng cha mẹ chờ quá lâu, có lẽ đứa con đã la cà ghé chơi đâu đó, cha mẹ sẽ rầy con với câu: "Bộ mầy đi tới Huế hả?". Và tôi đã đi tới Huế thật.

Từ Đà-nẵng, tôi đi xe lửa đến Huế. Bước xuống sân ga Huế, tôi cảm nhận ngay nếp sống êm đềm của người ở Huế, nó khác với cái ồn ào náo nhiệt của Sàigòn, giống như giọng nói lúc nào cũng ở tone trầm (luôn có dấu nặng [.]) của người xứ Huế. Món ăn đầu tiên mà tôi được mời ở Huế là món Bún Bò Huế. Tôi đã cẩn thận dặn bà bán bún đừng bỏ ớt vào, thế mà khi húp một miếng nước lèo, tôi biết ngay là mình đang ở Huế, nó cay lắm nhưng lại khiến người ăn ớt dở như tôi cũng không thể bỏ qua tô bún, phải vừa hít hà, vừa chảy nước mắt, vừa tiếp tục cứ ăn cho đến miếng cuối cùng.

Hội Thánh tại Huế được một số đông các Sinh viên Tin lành ủng hộ cộng tác rất tốt. Các em Sinh viên rất hăng say và có tổ chức quy củ để làm công việc Chúa. Nhưng như người ta gọi Huế là đất "Thần Kinh" và tôi phải mượn hai từ đó chỉ về xứ Huế đối với Tin Lành, lòng người Huế quá cứng cỏi với Chúa đến nỗi "thần cũng phải kinh". Xứ Huế vẫn còn quá nặng về các cựu truyền, các Tôn giáo như Phật giáo, Công giáo Lamã đã ăn sâu lắm trong đời sống người Huế. Dường như các lăng tẩm, phế tích kinh thành Huế đã nói lên nét bảo thủ sâu đậm của Huế. Công việc Chúa lúc tôi đến là lúc mới phục hồi. Buổi nhóm tối cuối cùng, Mục sư Hoàng Ngọc Quang đã cho Hội Thánh hát bài Thánh ca "Từ ngày Thần Linh giáng lâm lòng tôi, … con mưa rào từ trời tuôn xối …", tôi thấy lòng mình hòa chung với Hội Thánh, mong ước Thánh Linh giáng lâm lòng tôi, Thánh Linh giáng lâm mỗi lòng người tại Huế, để quyền năng của Chúa phá được bức tường Giê-ri-cô kiên cố của Huế, hầu cho hết thảy người xứ Huế nghe được Tin Lành của Chúa.

Chúa cũng cho tôi đến Đà-nẵng - Quảng nam, nơi được gọi là "chiếc nôi của Tin lành", cũng là tiền đồn của Tin Lành. Cả tỉnh Quảng nam và thành phố Đà-nẵng có nhiều Hội Thánh phát triển mạnh, nhà thờ to. Lần đầu tiên đến Đà-nẵng, tôi đã có những ngày góp phần huấn luyện nhân sự về Chứng Đạo và Chăm sóc thăm viếng ở Hội Thánh tại An Hải. Điều tôi ngạc nhiên là trong lúc tôi đang ăn cơm trưa cùng ông bà Mục sư Ngô Thái Bình, một chị tín đồ bồng con đến xin Mục sư chủ tọa cầu nguyện cho vì con của chị mới một hay hai tuổi gì đó đang bịnh nặng. Mục sư Bình lập tức ngưng ăn và đến đặt tay cầu nguyện cho cháu bé. Nghe ông cầu nguyện, tôi nhận ra ông Mục sư có đức tin cầu nguyện chữa bịnh lạ lùng, cứ như là đứa bé đã được Chúa chữa lành rồi. Người mẹ của cháu bé cũng vậy, chị ấy tươi tỉnh hẳn sau khi được Mục sư cầu nguyện cho con của chị.

Hội Thánh tại đường Ông Ích Khiêm. Tôi không ngờ Chúa cho tôi được ở trong ngôi nhà thờ, ngay phần đất đầu tiên Chúa ban cho Hội Thánh Tin Lành Việt-nam. Các con cái Chúa trong Hội Thánh tại Đà-nẵng quả không hổ danh là "chiếc nôi của Tin Lành", đặc biệt là các Cụ, các ông bà cao niên, hầu như các vị đều rất rành rẽ Kinh Thánh. Giảng tại Đà-nẵng có một cái thích là khi trưng dẫn Kinh Thánh thì không cần chờ đợi, vì các con cái Chúa đã lật đúng phần Kinh Thánh yêu cầu.

Tôi được mời đến Đà-nẵng để dạy về cách dạy Trường Chúa nhật, Phương pháp Chứng Đạo Chăm Sóc, và cách giảng (chia sẻ Lời Chúa). Mỗi lần lên lớp, nhìn xuống các Học viên, tôi thật ái ngại, vì không phải chỉ người trẻ, mà khá đông các ông bà lớn tuổi cũng tham dự học, cũng làm bài, cũng đóng góp ý kiến, cũng tranh luận. Đáng ngại hơn nữa là trong số người dự lớp có cả ông bà Mục sư Mục sư Dương Thạnh, chủ tọa Hội Thánh tại Đà-nẵng. Ông bà Mục sư thật khiêm nhường ngồi nghe kẻ hậu sanh như tôi, không phải nghe để theo dõi, kiểm tra, nhưng ông bà Mục sư cũng ghi chép cẩn thận. Có lần cuối Khóa, người hướng dẫn mời Mục sư chủ tọa có lời khích lệ, Mục sư đã nói rằng chính Mục sư là người được khích lệ, vì hơn bốn mươi năm hầu việc Chúa, có nhiều điều đã bỏ quên, bây giờ được nhắc lại thật là ích lợi. Tôi thật cảm phục sự khiêm nhường của Đầy Tớ Chúa.

Kỷ niệm vui cho tôi ở Đà-nẵng là lần đầu tiên được ăn món "bê thui" do bà Mục sư Dương Thạnh đãi. Món "bê thui" nầy phải chấm mắm nêm là món tôi không thể chịu nổi cái mùi khó ngửi. Bà Mục sư Dương Thạnh biết ý, nên đã để riêng cho tôi chén nước chấm bằng nước mắm, nhưng bà Mục sư cứ thúc giục tôi ăn thử bê thui chấm mắm nêm. Để bà Mục sư vui, tôi liều nín thở chấm vào mắm nêm ăn thử. Ngon thật! Nước mắm nó thiếu cái đậm đà, nhưng mắm nêm giữ cái dư vị nên miếng thịt bê thui trở nên ngon lạ. Những lần sau tôi nói lời cảm ơn bà Mục sư Thạnh đã khích lệ tôi ăn được mắm nêm, và tôi cũng nói: Thưa bà Mục sư, chỉ có điều hơi lạ là tôi chỉ ăn được mắm nêm khi có bê thui. Đầy Tớ của Chúa cười và nói: Ông nầy khôn thiệt!

Mỗi lần Hội Thánh tại Đà-nẵng cho tôi đến là mỗi lần Hội Thánh thật chịu nhiều tốn kém. Bao giờ Hội Thánh cũng buộc chúng tôi đi máy bay, rồi mỗi lần lên lớp dạy thì bên cạnh bao giờ cũng có một mâm các loại nước giải lao gồm sữa tươi, nước yến (bird nest), nước khoáng. Dù tôi uống hay không uống, mỗi tiết học đều thay đổi thức uống. Lòng tôi thật ái ngại trước sự quan tâm của Đầy Tớ Chúa cùng cả Hội Thánh. Lúc nào tôi cũng cầu nguyện xin Chúa cho sự giảng dạy của tôi xứng đáng với sự quan tâm đó, để Hội Thánh không buồn vì nghĩ rằng sự dâng hiến của họ không phải là vô ích.

Mùa Hè năm 2001, tôi trở ra Đà-nẵng để dạy ba ngày về cách chia sẻ Lời Chúa. Có rất nhiều kỷ niệm trong Khóa học nầy:

1.      Bà Mục sư Dương Thạnh cứ nhắc tôi mỗi đầu giờ là cho hát Dân ca. Số là để thay đổi không khí buổi học, làm bớt căng thẳng, tôi có hướng dẫn các Học viên hát vài bài theo âm điệu Dân ca như Lý Chèo Thuyền, Lý Con Quạ, Hò Chứng Đạo, những bài hát nầy do các anh chị em tại Sàigòn đang cố gắng sử dụng âm điệu gần gũi với người Việt-nam chúng ta. Có lẽ vì thấy lạ nên các Học viên rất thích làm cho giờ học nhộn lên, khiến không ai thấy mệt hoặc chán giờ học, nên bà Mục sư Quản nhiệm cứ nhắc tôi cho hát Dân ca.

2.      Trong lớp có một ông ngồi suốt mấy ngày học cách chăm chú, đặc biệt là tôi không thấy ông cười, dù trong lớp có những tình huống rất vui. Đến ngày thứ ba là ngày học cuối, tôi mời các học viên phát biểu ý kiến và cho biết những thắc mắc về môn học. Ông tín đồ nầy đứng lên phát biểu: Tôi là người dạy trong Đại học Sư Phạm Đà-nẵng, cho nên tôi rất quan tâm phương diện dạy. Khi đến lớp học, nhìn thấy học viên đủ mọi thành phần, mọi lứa tuổi, mọi trình độ. Chưa có Khoa Sư Phạm nào dạy cách dạy một lớp học đa dạng như vậy, do đó tôi nghĩ ông Mục sư Sơn nầy chắc chắn thất bại, chỉ nói cho qua giờ thôi. Hóa ra ông là Giáo sư dạy Đại học Sư Phạm, thầy của các Thầy Cô giáo. Cảm ơn Chúa, ông bày tỏ rất nhiều điều ông học được từ cách dạy, từ môn học, từ khuynh hướng, của người dạy về nếp sống Cơ-đốc.

3.      Một Học viên là Kỹ sư Điện Toán có hai Trường dạy Vi-tính cũng bỏ Trường đến dự lớp suốt ba ngày không vắng. Giờ cuối Khóa, phần thực tập, anh là người đầu tiên tình nguyện xin được thực hành. Sau một buổi chuẩn bị ở nhà, anh đến lớp với máy vi-tính để chia sẻ Lời Chúa theo cách anh đã học ba ngày qua với sự phụ giúp của máy vi tính minh thị một số điều anh muốn chia sẻ. Cảm ơn Chúa, ông đưa ra một hình mẫu giảng dạy của thế kỷ 21. Thật sinh động!

4.      Khi tôi yêu cầu các Học viên tìm Ý MỚI trong những câu Kinh Thánh quen thuộc. Các học viên đã làm tôi vô cùng ngạc nhiên, họ đã giới thiệu những ý tưởng hấp dẫn mới khám phá trong vòng 5 phút. Một Thanh niên tên Hiếu, người nhà của em nầy nói cho tôi biết là em bị bịnh dạng tâm thần nhẹ, hay bị động kinh phá phách, gia đình rất lo, nhưng Hiếu cứ đòi được đi học. Em và gia đình đi học suốt ba ngày. Thật là kỳ diệu, qua ba ngày tôi không thấy em nầy có biểu hiện gì về tâm thần, trái lại mọi người ngạc nhiên trước tấm lòng ham học hỏi, lời phát biểu của em, nhất là khi Hiếu trình bày Ý MỚI trong sách Malachi 3:10 với ý thật mới, đặc biệt là khi tôi hỏi: Tại sao Chúa mở cửa sổ mà không mở cửa cái?

Thât là những chuỗi ngày đầy ắp kỷ niệm!

Giữa các nhà thờ to lớn, đông tín đồ như tại An Hải, Đà-nẵng, Tân An, riêng nhà thờ tại Trung Lập với ông bà Mục sư Nguyễn Hữu Dục, nép mình cách khiêm nhường bên con đường đầy cát, mùa nắng thì cát làm xe bị trơn trợt, mùa mưa thì nước ngập che giấu những cái hố nguy hiểm.

Gia đình ông bà Mục sư đông con, cuộc sống vất vả, nhưng các con của ông bà Mục sư đều hết lòng tiếp lo công việc Chúa với ông bà và các em đều cố gắng học văn hóa. Trong ông Mục sư Dục có mặc cảm là Hội Thánh ít người, nhất là ông luôn bị ám ảnh bởi ai đó đã khuyên ông đóng cửa nhà thờ sát nhập vào Hội Thánh lớn chung quanh. Mỗi lần nhắc lại lời khuyên kỳ lạ đó, ông Mục sư Dục có vẻ tức giận và nói đi nói lại câu nói: Dù chỉ còn gia đình của tôi, tôi cũng không đóng cửa nhà thờ.

Bù lại nhờ các con của ông bà Mục sư, Hội Thánh tại Trung Lập đã hết sức nhờ ơn Chúa vươn lên và đã vươn lên.

Điều tôi được an ủi là các vị Mục sư trong Ban Trị Sự Địa hạt Bắc Trung Bộ đầy lòng yêu thương chức vụ của tôi, luôn tạo cơ hội cho tôi đến các Hội Thánh trong Địa Hạt, từ Hội Thánh tại đường Trần Cao Vân, tại Chiên Đàn, tại Phước Tiên, tại Phong Thử, tại Trường An, tại Thăng Bình, tại Bà Rén (Duy Xuyên), tại Bình Sơn, tại Hội An….

Riêng tại Trường An (Đại Lộc), Chúa cho ông bà Mục sư Nguyễn văn Chờ sau bao nhiêu năm mơ ước hầu việc Chúa, cuối cùng Chúa đã ban cho ông bà Mục sư Chờ đến lo công việc Chúa tại đây. Ông bà Mục sư là sui gia của chúng tôi. Trước đây, khi ông bà Mục sư Chờ chưa đến Trường An, tôi nghe tin là Hội Thánh tại đó nhóm lại hằng tuần độ 30 người. Cảm ơn Chúa khi tôi đến giảng dạy Lời Chúa vào những Mùa Hè, tôi thấy qua chức vụ của ông bà Mục sư Chờ, Hội Thánh đã nhóm lại rất đông, chật cả nhà thờ.

Chúng tôi có những kỷ niệm với Hội Thánh Chúa tại Trường An. Nơi đó Chúa cho Mục sư Dương Thạnh đã ban Lễ Hôn Phối cho con trai chúng tôi là Trần Thái Nghiêm với con gái của ông bà Mục sư Chờ. Dù nhiều người đề nghị nên cử hành hôn Lễ tại Sàigòn, hoặc ở nhà thờ lớn tại Đà-nẵng, nhưng chúng tôi xin được tổ chức tại nhà thờ Trường An, vì nơi đó dù nhỏ, quê nghèo, nhưng là nơi ông bà Mục sư sui gia của chúng tôi hầu việc Chúa, chúng tôi muốn vừa an ủi chức vụ ông bà Mục sư vừa khích lệ con cái Chúa tại vùng quê. Đặc biệt là trong những Khóa học Kinh Thánh Mùa Hè, Mục sư Chờ tổ chức một lớp cho con cái Chúa là những người lớn là những bô lão, Tráng niên, Thanh niên). Ba ngày học liên tiếp, mỗi ngày ba buổi, vậy mà con cái Chúa không nệ hà chi, đã tham dự cả trăm người, học Lời Chúa một cách hăng hái, hết lòng, cũng thi, ngay cả những người không biết chữ cũng mạnh dạn xin tôi cho thi miệng. Những ngày Hè là những ngày rất nóng tại Trường An, các con cái Chúa lại đông ngồi chật trong nhà thờ để học luôn buổi trưa, mồ hôi nhuễ nhại, miệng lúc nào cũng vui vẻ theo dõi môn học.

Chúa cho ông bà Mục sư Chờ có lòng nhịn nhục chờ đợi chức vụ Chúa ban và được thỏa lòng với kết quả lớn lao. Chúa cũng thấy Đầy Tớ của Ngài đã xong cuộc đua, đã đánh trận tốt lành, nên ngày Mùng Năm Tết năm 2002, tức là ngày 20 tháng 2 năm 2002, Chúa đã đem ông về với Chúa qua một cơn đau tim. Trước đó, khi ông được đưa vào Viện Tim tại Sàigòn để điều trị, khi tôi đến thăm, ông đã cho tôi biết chi phí cho việc điều trị bịnh rất đắt chỉ tính bằng ngàn đô-la, tôi nói với ông là chỉ xin Chúa làm phép lạ thôi. Ông lại nhờ tôi giúp tài liệu để chuẩn bị ra Hội Đồng Thẩm Vấn phong chức Mục sư thực thụ. Tôi khuyên ông là bây giờ lo trị bịnh, còn lại để Chúa phong chức. Lúc 9 giờ tối ngày Mùng Bốn Tết, ông từ Trường An điện thoại vào Sàigòn chúc Tết tôi. Hai giờ sáng sớm hôm sau là Mùng Năm Tết, vợ chồng tôi đi xuống Đông Phú, chưa tới nơi (độ hơn sáu giờ sáng), thì được tin ông qua đời ở tuổi 70. Chúng tôi đã ra Trường An để tiễn đưa Đầy Tớ trung tín của Chúa, một người bạn thân, một sui gia đầy tình nghĩa.

Năm 1992, Chúa cho tôi lần đầu tiên đi xe lửa đến Qui Nhơn. Một con cái Chúa là anh Bùi Minh Quyền (nay là Truyền Đạo) từ Qui Nhơn vào Sàigòn lo mua vé hướng dẫn tôi đi ra Qui Nhơn. Vì anh chủ quan, mãi lo công việc, đến khi ra Ga thì không còn vé đi Qui Nhơn, anh dẫn tôi đi Nha-trang bằng ghế cứng, theo lời anh đến Nha-trang thiếu gì ghế ngồi tốt. Suốt một đêm ngồi ghế cứng - lúc ấy là thời kỳ đi xe lửa còn rất nhiều nguy hiểm do dễ bị trộm cắp, nên cả đêm không ngủ được. Đến Nha-trang lúc gần sáng, người lên kẻ xuống nườm nượp, kết quả là không có vé. Anh Quyền lại nói gì đó với nhân viên trên xe lửa, rồi kéo tôi lên, theo lời anh nói thì người trưởng toa hứa là một chút xe chạy sẽ lo chỗ ngồi cho tôi, tạm thời chúng tôi đứng ở nơi nối hai toa. Một lát sau, người trưởng toa đi qua đi lại nhìn tôi vẻ tò mò, có lẽ ông ấy không đoán được tôi là ai sao phải đứng suốt, nên ông kiếm cho tôi một mảnh chiếu nhỏ lót ngồi đỡ trên sàn xe lửa chỗ nối toa. Và thế là tôi đi xe lửa bằng 'vé đứng' đến Qui Nhơn. Đến Ga Diêu Trì của Qui Nhơn, thêm một khốn khổ nữa, vì không có vé chính thức, nên anh Quyền sau khi thì thầm với người trưởng toa, anh quay lại dặn tôi đến ga thì chờ người trưởng toa đưa ra cổng. Nói xong anh Quyền nhảy xuống trước khi xe lửa dừng hẳn, và anh đi ra bằng một ngõ rào. Tôi thật không còn biết phải làm gì hơn là đứng yên trên xe lửa. May mắn là độ mười phút, người trưởng toa còn nhớ đến tôi, đã quay lại đưa tôi ra cổng sau khi ông ấy nói nhỏ với người soát vé. Một chuyến đi thật đáng buồn mà cũng đáng nhớ! Tự nhiên tốn tiền mà như người đi lậu vé. Lâu lâu tôi cứ nhắc lại khi anh Quyền thay Hội Thánh vào Sàigòn mời tôi ra Qui Nhơn.

Năm ấy tôi đến Qui Nhơn, Mục sư Nguyễn Ngọc Thuận là chủ tọa Hội Thánh tại Trung Ái kiêm Hội Thánh tại Qui Nhơn, cho tôi biết là toàn tỉnh với 5 Hội Thánh là Qui Nhơn, Trung Ái, Phú Phong, Khu VI, và Gò Găng (Nhơn Thành), chỉ có độ 2,000 tín đồ. Cảm ơn Chúa sau những lần huấn luyện, rồi Hội Thánh mở cửa giảng Tin Lành, lần lần các Hội Thánh tăng trưởng, nhiều người tin Chúa. Mỗi lần ra Qui Nhơn, tôi lại được bà Mục sư Quả phụ Đặng Đình Phúc biếu quà đặc sản Qui Nhơn là bánh tráng đủ loại.

Đáng lẽ tôi có cơ hội đến Tuy Hòa, mọi việc chuẩn bị đã xong, vé xe lửa cũng đã mua, chỉ còn một ngày nữa là tôi lên đường. Bất ngờ Mục sư Đinh Thống gọi điện thoại vào báo tin không hiểu sao Công An Tuy Hòa biết được, nên đến gặp Mục sư Thống hạch hỏi về việc mời tôi. Thế là chuyến đi bị hủy bỏ.

Những ngày trở lại Nha-trang với những kỷ niệm nơi mái trường Thần Học. Chỉ một lần đi qua mái trường xưa, tôi không muốn nhìn lại nữa, vì đau xót khi thấy nhà thờ Thần Học Viện bị bỏ hoang, những cửa sổ đóng lại bằng những tấm ván sơ sài; nhà của các Giáo sư cỏ cây mọc um tùm. Tôi không biết họ chiếm giữ để làm gì, trong khi có biết bao nhà đẹp hơn lại khỏi mang tai tiếng.

Điều vui là Nha-trang cũng như Đà-nẵng. Nếu Đà-nẵng vẫn giữ được những bông trái của Trường Kinh Thánh ngày đầu với bao nhiêu Hội Thánh phát triển mạnh mẽ; thì Nha-trang cũng đã ghi lại dấu son cho Thần Học Viện, dù không nhiều nhà thờ, nhưng số tín đồ vững vàng. Khi tôi giảng dạy tại Vĩnh phước, tôi nhìn thấy sức trẻ của các Thầy Truyền Đạo chung quanh Mục sư Huỳnh Sĩ Hùng, đã được Chúa ban phước. Họ dám làm, dám vượt qua những cái cần vượt qua. Khi tôi đề nghị những người hát trong các buổi truyền giảng nên hát thuộc lòng, không cần đứng nơi bục hướng dẫn, làm sao để phong cách tự nhiên, thì đêm hôm đó, các anh chị em đã có một đêm ca nhạc Truyền giảng thành công. Vui hơn nữa là các anh chị em Sinh viên hoạt động công việc Chúa rất tích cực, có những giờ huấn luyện, có những giờ sinh hoạt dã ngoại, dù gặp bắt bớ nhưng ai cũng sẵn sàng trả giá, có khi giá phải trả là bị đuổi học.

Phan-rang !

Chúa cho tôi đến Phan-rang với giờ giảng Bồi linh, buổi tối là Truyền giảng. Những ngày ấy, nhà thờ đông nghẹt người, dù Phan-rang là điểm nóng, chỉ có Mục sư chủ tọa mới được giảng dạy, và hầu như chỉ còn một Hội Thánh tại thị xã. Kỷ niệm tại Phan-rang là một con cái Chúa ao ước gia đình được kết sui gia với người trong Chúa, ông nói lời ấy với tôi trong bữa ăn đãi tôi. Chúng tôi đã cầu nguyện, và những ngày sau đó, Chúa đã nhậm lời cho ông có được chẳng những một mà là hai sui gia trong Chúa, chẳng những sui gia với tín đồ mà sui gia với một gia đình Mục sư.

Sau chín năm nhà thờ bị đóng cửa, Chúa cho Hội Thánh tại Phan Rí được sinh hoạt trở lại, dù còn nhiều điều phải lo. Tuy nhiên, tại Phan Rí, tôi được nhìn thấy tận mắt những anh em Truyền Đạo Tình nguyện lo công việc Chúa hết sức tận tâm, trong lúc Chánh quyền thì không chịu nhìn nhận chức vụ của các Thầy, nhưng các Thầy vẫn kiên trì nhịn nhục hầu việc Chúa. Thấy được kết quả sự góp phần của mình đối với chức vụ của thế hệ nối tiếp, lòng tôi thật được an ủi. Các anh em đã hầu việc Chúa đúng như những điều họ đã được dạy, được khuyên. Họ ra Trường (Trường chui) không phải chỉ để giảng mà còn để yêu thương bầy chiên Chúa giao.

Nói đến Phan Rí tôi phải nói đến Chợ Lầu. Nơi Chợ Lầu có cháu Lê Khắc Trí, con của Mục sư Lê Khắc Hóa. Chúa đã ban phước cho vợ chồng cháu từ sau những ngày cưới nhau, việc làm ăn sinh sống lần lần khá lên, nhờ hết lòng hầu việc Chúa, biết trung tín nhóm lại, dù công việc làm ăn buôn bán mà nghỉ Chúa nhật thì bị thiệt hại, nhưng vợ chồng cháu cương quyết dành thì giờ góp phần với Hội Thánh tại Phan Rí, vợ chồng cháu dâng hiến rộng rãi, lại biết dâng hiến phụ tiếp cha mẹ là ông bà Mục sư Lê Khắc Hóa giúp tài chánh cho các anh em Truyền Đạo Tình nguyện. Khi tôi đến nhà của cháu, hai vợ chồng khoe với tôi những chiếc hộp để tiền dâng: hộp tiền phần mười, hộp tiền tiếp khách của Hội Thánh mời (mỗi lần Hội Thánh mời diễn giả, hai cháu sẽ chịu phần tài chánh), hộp tiền giúp cha mẹ … Dù còn trẻ, nhưng Hội Thánh tại Phan Rí cũng dành cho hai cháu sự yêu thương, nể trọng. Những ngày chúng tôi đến giảng dạy tại Phan Rí, lúc nào cũng được hai cháu thết đãi ăn đủ thứ thức ăn ngon như: ghẹ, bồ câu quay, những trái thanh long thật to và thật ngọt …

Vợ của cháu Trí là con của ông bà Đồng Khánh tại Phan Rang, người đã ao ước được kết sui với người trong Chúa. Chẳng những Chúa cho sự ước ao đó được thành, mà còn cho ông bà kết sui với một trong các Đầy Tớ Chúa tận tụy hi sinh cho công việc Chúa tại Miền Nam Trung Bộ, là Mục sư Lê Khắc Hóa.

Phan Thiết.

Nói đến Phan Thiết thì không thể quên những món hải sản rất ngon, rất tươi là cua, ghẹ, ốc hương. Chúa cho tôi có mặt khi nhà thờ đã được trả lại, dù Chánh quyền chỉ trả nhà thờ mà không trả tư thất. Con cái Chúa đã gác lại những lo sợ từ bên ngoài để có những Chúa nhật thật đông, thật phước hạnh.

Phúc Âm.

Phúc Âm là tên của một Hội Thánh nằm ven Quốc lộ 1, là một Hội Thánh rất đặc biệt, vì Hội Thánh tại đây là nơi qui tụ tín đồ trên sáu mươi Hội Thánh từ các tỉnh Quảng nam Đà-nẵng vào. Con cái Chúa nhóm rất đông, phải trên 500 người lớn, đặc biệt nhìn thấy các cụ già trên bảy mươi tuổi ngồi học Kinh Thánh trong các lớp Trường Chúa nhật cách chăm chỉ, cũng trả câu gốc, cũng bàn luận góp ý, thật là một gương mẫu cho những người đi sau. Chính vì vậy khi giảng tại Hội Thánh Phúc Âm, giống như giảng tại Hội Thánh ở Đà-nẵng, con cái Chúa rất giỏi Kinh Thánh, lật Kinh Thánh rất nhanh, ngay cả các cụ già.

Lần đầu tiên tôi đến giảng tại Hội Thánh Phúc Âm, các con cái Chúa rất hiếu khách, ai cũng muốn đãi tôi ăn. Sớm mai, tôi thức dậy được đãi món ăn đặc sản của Quảng nam là 'Mì Quảng', tự tay gia đình làm mì, nấu nước nhưn, tô mì thật ngon, lành tính. Buổi trưa, giảng xong, một gia đình khác lại đãi tôi ăn 'Mì Quảng', rồi chiều, cũng 'Mì Quảng'. Ngày mai, đến gia đình khác, chưa đến tôi biết thế nào cũng 'Mì Quảng'. Quả đúng là Mì Quảng một ngày nữa. Nói cho vui, tôi phải về sau hai ngày, nếu ở lại chắc chắn tôi phải gọi tên món đó là 'Mì Hoảng'. Thật ra vì con cái Chúa ở Hội Thánh Phúc Âm ở giữa đường đi việc mua sắm rất khó khăn và mọi người lúc nào cũng nhớ quê Quảng nam.

Tôi cũng cảm ơn Chúa những ngày ở trong nhà của ông bà Mục sư Trần Tuôi. Tinh thần yêu mến Chúa của ông bà Mục sư thật đáng học hỏi. Từ sớm tinh mơ, tôi đã nghe ông và bà Mục sư cầu nguyện, tối khuya vẫn nghe ông Mục sư cầu nguyện. Các con cũng học gương cha mẹ yêu mến Chúa góp phần với Hội Thánh.

Rồi lại đến Long Khánh.

Hội Thánh tại Long Khánh đã trải qua những ngày không phát triển. Lâu lâu lại nghe tin ông bà Mục sư chủ tọa xin đổi đi. Cảm ơn Chúa, sau một vài lần huấn luyện Chứng Đạo Thăm Viếng, Chúa dấy lên một vài con cái Chúa tham gia chứng đạo, thăm viếng, rồi thêm người và cứ thêm người, thật vui. Tôi không còn nghe tin ông bà Mục sư xin thay đổi nữa.

Dầu Giây.

Mỗi lần qua Dầu Giây, hoặc chỉ ghé ngang qua Dầu Giây, thế nào cũng được không trái sầu riêng thì trái mít tố nữ, hoặc bọc chôm chôm, do bà Mục sư Phạm An Vui mua cho. Gia đình ông bà Mục sư dành cho chức vụ tôi nhiều thương mến. Các con cái Chúa ở Hội Thánh tại Dầu Giây cũng vậy, cứ Giáng sanh, Tết, là lại cứ cử người chở xuống Sàigòn cho tôi trái cây, bánh tráng. Có những khi nhìn túi chôm chôm thật to chín đỏ gọi là cây nhà lá vườn, tôi biết anh em hi sinh nhiều công sức lắm. Những khi có việc cần trong Hội Thánh, anh em trong Ban Trị Sự Hội Thánh lại chạy đến hỏi. Tôi cảm ơn Chúa cho còn góp một chút gì với Hội Thánh.

Bên cạnh Dầu Giây là Hội Thánh tại Xã lộ 25, một vùng kinh tế mới đất đai khô cằn đầy bụi. Cả ba con đường nào đi vào cũng nắng bụi mưa sình trơn trợt. Mỗi lần đi vào nhà thờ Xã lộ 25. với khoảng cách đường dài 75 cây số thật sự là không xa lắm, nhưng cũng đủ để mệt mỏi. Có lúc tôi chạy xe gắn máy chở Nhà tôi, nhất là trên đường về vào giữa trưa nắng ở trên dội xuống, sức nóng dưới đường bốc lên, rồi bụi tung mù mịt khi có chiếc xe nào chạy ngang qua, nhiều lần tôi ngủ đang khi lái xe mà không hay, bất chợt giật mình tỉnh lại mới thấy thật nguy hiểm. Cảm ơn Chúa giữ gìn. Vợ chồng tôi cũng gặp tai nạn ngã xe trong chuyến đi vào nhà thờ tại Xã lộ 25, tôi phải mất mấy tháng mới cử động được cánh tay. Lúc gặp trời mưa thì đường lại trơn trợt, ngoài xa lộ thì bùn từ những xe bên cạnh và phía trước văng khắp mặt. Lại còn nỗi nguy hiểm hơn nữa là xe thường cán phải những cây đinh của những người cố tình rải trên đường. Vừa mất tiền vá xe, đôi khi phải thay nguyên ruột xe với giá cắt cổ, vừa mất thì giờ ngồi chờ vá xe, nguy hiểm nhất là nếu không giữ vững tay lái khi bị bất chợt xì lốp xe thì tại nạn chết người sẽ xảy ra. Anh chị em biết rồi, chạy xe gắn máy ngoài xa lộ là cả một sự liều mạng, chỉ Chúa giữ gìn suốt bao nhiêu năm, đến khi tai nạn xảy ra, vợ chồng tôi đành phải chịu tốn tiền thuê xe loại taxi hơn là mất mạng. Những lần như vậy, anh em kháo nhau là Mục sư Sơn giàu lắm, đi giảng bằng xe Taxi, họ có biết đâu tại vì tôi yếu đuối sợ chết dọc đường không ai biết, vì trong người cả hai không có giấy tờ tùy thân.

Thầy Truyền Đạo chủ tọa Hội Thánh tại Xã lộ 25 là một trong những anh em Truyền Đạo Tình nguyện, rất giỏi về Lời Chúa, rất năng nổ lo việc Chúa, lúc nào tôi cũng nghe Thầy nói về việc muốn mở mang chỗ nầy, mở mang chỗ kia. Thầy cũng hay tâm sự về nỗi buồn Giáo hội không chịu nhìn nhận chức vụ Truyền Đạo Tình nguyện của Thầy và các anh em tình nguyện khác. Thầy hay ghé nhà tôi để vấn kế. Có lần tôi phân tích cho Thầy làm thế nầy là 'Hạ sách'; làm thế kia là 'Trung sách'; làm thế nọ là 'Thượng sách'. Thầy ưng lắm và từ đó làm gì Thầy cũng ngồi lại: thượng sách, trung sách, hạ sách.

Hội Thánh tại Xã lộ 25 có những nhu cần vật chất thật lớn, vì đa số các con cái Chúa rất nghèo, nhìn cảnh vật hai bên đường đi vào đã thấy cái nghèo hiện ra rõ ràng của người dân tại đây, trong đó có con cái Chúa. Có những lúc vào giảng, tôi phải hứa nợ với anh em để giúp một hay hai con cái Chúa đang gặp cơn ngặt nghèo. Thí dụ như có hôm sau khi giảng, Thầy Truyền Đạo giới thiệu vợ chồng một con cái Chúa có ba đứa con, chỉ có một chiếc xe đạp, nên vợ chồng chở theo một đứa con đi nhà thờ, còn hai đứa phải ở nhà. Tôi hỏi: "Nếu có thêm một chiếc xe đạp thì hai đứa con kia đi nhà thờ được không? Bao nhiêu một chiếc xe đạp?" Thầy Truyền Đạo cho biết là một chiếc xe đạp độ 150 ngàn đồng. Tôi đưa cho Thầy Truyền Đạo 200 ngàn đồng nhờ Thầy mua giúp chiếc xe đạp. Hoặc các em Thiếu nhi học Kinh Thánh Mùa Hè cần tiếp viện tiền ăn 300 hoặc 400 ngàn đồng, chuyện khẩn cấp, tôi đành mắc nợ với anh em xin được góp phần, nhưng phải gởi đến sau. Nhiều hôm tôi cũng hơi lo nếu chuyến về mà xe bị cán đinh, chắc chắn dắt bộ mà về. Cảm ơn Chúa, 'Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn - Trời cao không phụ người có lòng', Chúa không để chúng tôi dắt bộ.

Năm 2002, tôi muốn khuyến khích các em cố gắng thi Đại Học, vì ở quê, các em chịu nhiều thiệt thòi hơn. Tôi bảo các em hợp đồng với tôi: "Nếu em nào đậu Đại Học, tôi sẽ thưởng 500 ngàn đồng; nếu em nào thi rớt phải trả tôi 50 ngàn đồng". Có tất cả 5 em thi Đại Học hăng hái nhận hợp đồng. Kết quả 4 em thi rớt, chỉ một em thi đậu Cao Đẳng. Nhớ mỗi lần vợ chồng tôi từ Sàigòn vào giảng, các con cái Chúa dành cho chúng tôi một sự kính trọng, yêu thương rất đặc biệt. Khi ấy được nghe con cái Chúa cầu nguyện xin Chúa ban phước cho 'tuổi già của Mục sư Sơn', anh em không nói 'tuổi già của bà Mục sư Sơn', có lẽ vì anh em thấy tóc tôi đã hoa râm.

Mùa Phục Sinh năm 1989, tôi được Hội Thánh tại Vũng tàu mời ra giảng. Vợ chồng tôi đi thật sớm, nhưng thời ấy việc đi xe thật vất vả, xe vừa chạy vừa nghỉ, mãi đến khi chúng tôi đến được nhà thờ thì con cái Chúa đã ra về, vị chi chúng tôi ngồi xe từ Sàigòn ra Vũng tàu, đoạn đường dài 125 cây số vậy mà phải mất đến 6 tiếng đồng hồ. Dù vậy, Chúa cho bắt đầu từ ngày đó, tôi được Mục sư chủ tọa và Ban Trị Sự Hội Thánh tại Vũng tàu mời phụ tá lo cho Hội Thánh. Hầu như một đôi tuần tôi lại lên xe đò ra Vũng tàu giảng sáng Chúa nhật, tối thứ tư, tối thứ sáu, cộng vào đó là những buổi hiệp nguyện trở thành giờ dạy cho anh em cách chia sẻ Lời Chúa. Cảm ơn Chúa, cả Hội Thánh đều ủng hộ chức vụ chúng tôi.

Sau vài lần huấn luyện việc Truyền giảng, các con cái Chúa trong Hội Thánh quyết định mở cửa giảng Tin Lành, không còn sợ không có thân hữu nữa. Những kết quả làm nức lòng anh chị em. Chúng tôi lại dành thêm thì giờ kéo xuống Bình giả để khích lệ và hợp tác truyền giảng. Hội Thánh tại Bình giả cũng đồng ý mở cửa truyền giảng với điều kiện tôi phải giảng. Ngày Chúa nhật theo hợp đồng truyền giảng, tôi phải giảng ở Sàigòn sáng và trưa, bốn giờ chiều tôi từ nhà thờ tại Gia định ra xe để đến Vũng tàu. Bất ngờ chuyến xe ngày hôm ấy chạy quá chậm, lòng tôi như lửa đốt vì lần đầu tiên Hội Thánh tại Bình giả tổ chức giảng Tin Lành không thể để xảy ra sơ sót. Xe đến Vũng tàu lúc gần 8 giờ tối, nghĩa là Hội Thánh đã nhóm lại được gần 30 phút, tôi mệt đừ cả người, vừa xuống xe tôi vội vào nhà của một con cái Chúa tại Chợ Cũ Vũng tàu, tắm rửa, xong nhờ người chở bằng xe đạp đến nhà thờ, miệng ngậm một miếng nhân sâm của Bà Tư Ngọc Anh kịp đưa cho tôi. Đến nhà thờ, tôi có 5 phút chuẩn bị cà-vạt, và lên tòa giảng. Cảm ơn Chúa, sự mệt mỏi tan biến đâu mất cho đến lúc giảng xong, kêu gọi, cầu nguyện cho người tin Chúa, khi ấy tôi không còn một chút sức lực nào nữa.

Mùa Giáng sanh năm 1989, tôi yêu cầu các Ban trong Hội Thánh tại Vũng tàu theo kế hoạch như sau: Trừ đêm 24 tháng 12 là chung cho tất cả Ban, riêng từ đêm 21, 22, 23, và đêm 25, mỗi đêm là một Ban phụ trách, trọng tâm là Truyền giảng, mỗi Ban tự lo mời Thân hữu, tất cả phải khác nhau từ trang trí đến nội dung chương trình. Thật là một thách thức lớn, cảm ơn Chúa, các anh chị em từ Tráng niên, Thanh niên, Thiếu niên, thiếu nhi, đều nôn nả thi đua, tôi chỉ ở vị trí quan sát, đôn đốc.

Trong thời gian chuẩn bị Giáng sanh nầy, có một vấn đề xảy ra trong Hội Thánh, ấy là mối tình của một đôi Thanh niên trong Hội Thánh, nói thanh niên thật ra anh ấy là con trai của Mục sư chủ tọa và đã 30 tuổi rồi; còn cô thiếu nữ là con trong gia đình tín đồ tốt. Khi tôi ra Vũng tàu, thì mối tình nầy đã kéo dài hai năm. Ban đầu ông bà Mục sư chủ tọa ủng hộ mối tình nầy, nhưng sau đó bà đổi ý và không chịu cưới cô thiếu nữ đó cho con trai mình. Anh em trong Hội Thánh thấy gia đình ông bà Mục sư chủ tọa rất nể trọng tôi, nên đề nghị tôi xin cho họ cưới nhau. Đôi Thanh niên cũng nhiều lần khóc nói với tôi về sự ngăn trở của ông bà, nhất là của bà Mục sư chủ tọa. Tôi có hỏi bà Mục sư lý do, bà nói rằng cô gái đó "dữ lắm, nhìn con mắt cứ liếc ngang liếc dọc. Môt lần cô nựng cháu ngoại của bà bằng cách 'véo' mạnh nơi gò má cháu ngoại của bà". Kết luận là bà không cưới. Tôi phải nói ngọt với bà là sẽ khuyên cô. Bà lại quay qua chuyện nếu cưới về thì cô ấy phải làm dâu cho bà, bà nói thẳng là phải lo săn sóc cha mẹ chồng, phục dịch trong nhà, theo phong tục người Việt-nam. Tôi lại một phen lấy lời ngọt cắt nghĩa phụng dưỡng cha mẹ là bổn phận của con cái, nhưng chúng ta là Cơ-đốc nhân cứ theo lời Chúa dạy "người nam phải lìa cha mẹ mà dính díu với vợ mình". Tôi đề nghị bà để cho họ tự nguyện, vả lại bà cũng có hai người con gái nữa. Tôi cũng hứa là sẽ giải thích để hai cô cậu nầy biết lo cho cha mẹ. Đột nhiên bà khẳng định: "Chúng ta là người Việt-nam, thì theo phong tục người Việt-nam, con dâu phải làm dâu cho gia đình chồng, không thể theo phong tục Kinh Thánh được". Tôi thật bất ngờ trước lời tuyên bố của bà - vợ của Mục sư.

Riêng ông Mục sư, sau nhiều lần năn nỉ giúp cô cậu đó, tôi thuyết phục được ông đồng ý. Ngày hôm đó ông mời tôi ra một quán cà-phê ven biển ở Bãi Trước, có người con trai của ông cùng đi. Ông ngồi uống cà-phê và trách con trai ông vài việc lặt vặt, cậu thanh niên đứng lên xin lỗi cha mình. Lúc ấy ông trở nên vui vẻ và hứa với tôi rằng, nếu bà không đồng ý thì một mình ông sẽ đứng lo cho con.

Không ngờ, tuần sau khi tôi từ Sàigòn trở ra Vũng tàu, thì cả hai ông bà Mục sư gặp tôi trả lời dứt khoát không đồng ý việc hôn nhân đó, trong khi tôi ngỡ rằng chuyến nầy được ăn cưới. Còn ông thì nói là ông đã suy nghĩ kỹ thấy ý kiến của bà "là đúng". Từ hôm đó, bà thay đổi thái độ đối với tôi, luôn tránh mặt tôi. Trước tình hình như vậy, tôi viết một thư gởi Mục sư chủ tọa và Ban Trị Sự Hội Thánh thông báo là tôi sẽ không ra Vũng tàu lo tiếp công việc Chúa nữa.

Bấy giờ tất cả các Ban Ngành trong Hội Thánh đồng loạt ngưng tập Lễ Giáng sanh, họ áp lực với Mục sư chủ tọa và Ban Trị Sự Hội Thánh phải mời tôi trở lại. Kết quả là chính con trai của Mục sư chủ tọa cầm thư của Ban Trị Sự có chữ ký của Mục sư chủ tọa mời tôi trở lại tiếp tục công việc. Anh con trai của Mục sư đưa thư kèm theo một lời cảnh báo tôi: "Mục sư phải cẩn thận lần nầy, thế nào Công An cũng sẽ làm khó dễ Mục sư". Tôi hỏi lý do. Anh ấy nói: "Bà Mục sư chủ tọa sẽ làm khó Mục sư". Tôi nói vô lý, vì tôi làm việc tốt cho gia đình ông bà Mục sư chủ tọa để Hội Thánh khen ngợi ông bà mà.

Và tôi nhận lời trở lại Vũng tàu vì suy nghĩ chỉ còn một tuần nữa là đến Lễ Giáng sanh, công việc Chúa phải là ưu tiên, nhất là việc truyền giảng Tin Lành. Chiều thứ bảy ngày 18 tháng 12 năm 1989, ông Mục sư chủ tọa đến chỗ tôi nghỉ là nhà của anh thư ký Hội Thánh Trần Xuân Hà, báo tin cho tôi và anh Hà biết là ông sẽ đi Sàigòn sáng sớm Chúa nhật để dự tang lễ của một Cán bộ trong Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố, vì ông Mục sư là Cán bộ Mặt Trận Vũng tàu. Ông nhờ tôi giảng thay, ông cũng nhắc tôi nhớ mặc áo veston, phải đứng nơi bục giảng. Tôi cảm ơn ông và xin để tôi mặc áo sơ-mi với cà-vạt, đứng nơi bục hướng dẫn, như thường lệ. Từ lúc ra Vũng tàu cộng tác công việc Chúa, theo lời của Mục sư chủ tọa nầy là để tránh sự chú ý của Chánh quyền, nên khi tôi giảng, tôi chỉ mặc áo sơ-mi với cà-vạt và đứng nơi bục hướng dẫn, nhưng không biết tại sao lần nầy ông cứ nhắc đi nhắc lại việc nên mặc áo veston và đứng nơi bục giảng.

Sáng Chúa nhật, ông đi sớm, buổi nhóm bình thường. Nhưng khi tôi đứng lên giảng thì có hai Công An bước vào ngồi ở hàng băng cuối với máy ghi âm. Anh em trong Hội Thánh báo tin cho tôi. Chờ khi buổi thờ phượng kết thúc, hai Công An đòi gặp tôi và chất vấn: "Ai cho phép anh lên giảng? Tại sao Mục sư chủ tọa không cho phép mà tôi lại đứng lên giảng?" Cuộc chất vấn kéo dài suốt hai ngày trong Cơ quan Công An tỉnh chỉ chừng ấy việc. Lập tức Ban Trị Sự một mặt báo tin về Sàigòn mời Mục sư chủ tọa về gấp, một mặt toàn Ban Trị Sự cùng đi đến Công An với tôi. Với tình hình như vậy mà mãi đến chiều thứ hai ông Mục sư nầy mới về và vịn cớ mệt cũng như Công An không có mời ông, nên ông không thể đến Công An giải quyết. Còn trong Công An, họ nói rằng Mục sư chủ tọa quả quyết là tôi tự ý ra Vũng tàu hoạt động, lợi dụng lúc ông đi vắng tôi lên giảng trái phép.

Cả Ban Trị Sự làm chứng là Ban Trị Sự mời tôi, thêm nữa là tôi vẫn còn giữ thư của Hội Thánh do chính Mục sư chủ tọa viết tay mời tôi ra làm phụ tá giúp ông lo công việc Chúa từ sáu tháng trước. Khi tôi xuất trình thư mời nầy thì bên Công An lúng túng, họ bàn nhỏ với nhau gì đó, rồi xin mượn tôi thư mời đó để đi photocopy xong sẽ trả lại tôi. Ban đầu tôi hơi ngại họ phi tang thư mời, nhưng họ làm biên bản nhận tạm và đã trả lại cho tôi sau khi đem đâu đó khá lâu.

Ban Trị Sự Hội Thánh kiên trì chở tôi đến cơ quan Công An, tất cả ngồi bên ngoài để gây áp lực. Mọi việc cuối cùng cũng qua, Công An yêu cầu tôi đừng hoạt động khi không có sự đồng ý của Mục sư chủ tọa. Ngày hôm sau tôi về Sàigòn, Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng lập tức gọi Mục sư chủ tọa Hội Thánh tại Vũng tàu vào, và ngay trước mặt tôi, Mục sư Phó Hội Trưởng đã quở trách ông về việc ông bỏ công việc Chúa trong ngày Chúa nhật để đi dự tang trong Sàigòn, quở trách ông đã không về để giúp giải quyết việc Công An gây khó khăn cho tôi, đồng thời Mục sư Phó Hội Trưởng cũng yêu cầu ông trở lại Vũng tàu nói với bà rằng: "Chúng ta là Cơ-đốc nhân phải làm theo lời Chúa dạy, không theo phong tục của nước nào cả".

Tuy đầy đe dọa, nhưng Chúa cho tôi vẫn trở lại Vũng tàu để điều khiển chương trình truyền giảng Giáng sanh của Hội Thánh. Đêm nào Công An cũng đứng đầy đường, tôi ở trong hậu trường, còn họ thì chờ tôi xuất hiện trên tòa giảng. Có đêm tôi chỉ ở hậu trường kêu gọi thân hữu tin Chúa, có đêm tôi ra giảng mà không báo trước, không cho giới thiệu. Dù kết quả có hạn chế, nhưng cảm ơn Chúa cho chiếc thuyền của Hội Thánh vượt qua cơn sóng dữ. Xong Lễ Giáng sanh, tôi từ giã Hội Thánh tại Vũng tàu sau sáu tháng hợp tác với con cái Chúa. Tôi ra đi dù công việc chung chưa hoàn tất, nhưng cũng được an ủi vì một số các anh em có lòng hầu việc Chúa trong Hội Thánh tại Vũng tàu đã có thể nắm vững cách chia sẻ Lời Chúa, đã mạnh mẽ truyền giảng Tin Lành.

(Điều vui đáng nói là đôi thanh niên nam nữ đó được gia đình hai bên chấp thuận cho cưới nhau. Điều vui hơn nữa là tôi nhận được hai Thiệp Hồng của đôi bạn nầy, cũng nhận được Thiệp Mời của ông bà Mục sư chủ tọa Hội Thánh tại Vũng tàu - dù tôi không biết ông hay bà mời. Trong ngày Hôn Lễ, Mục sư Phó Hội Trưởng làm Lễ đã yêu cầu cha mẹ Nhà Trai đứng lên xác nhận đứng cưới cô thiếu nữ đó cho con mình, thì ông đứng nhưng bà không đứng dù bà Mục sư Phó Hội Trưởng đã bước đến sau lưng thúc giục. Hôn lễ cũng xong, rồi một đứa cháu nội đầu tiên ra chào đời. Có tin tức cho tôi biết "không ai được đụng đến cháu nội cưng của bà Mục sư chủ tọa". Mỗi lần nghĩ đến tôi tự mỉm cười, cũng tại cặp vợ chồng nầy mà Công An rượt tôi, quả đúng như người xưa nói: Trên đời có bốn cái ngu: làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu. Tôi đã làm cái chuyện ngu nhất)

Rồi các nơi kế tiếp: Bà-rịa, Đức Thạnh, Long thành. Đáng lẽ tôi đã đến được Bảo Lộc, nhưng không biết ai đã thông báo, nên thứ sáu trước Chúa nhật tôi đến, Mục sư Lê Khắc Tuyển cho người vào Sàigòn báo tin có rất đông người Thượng ùn ùn kéo tới nhà thờ vì hay tin có Mục sư Trần Thái Sơn từ Sàigòn ra giảng. Bởi đó chuyến đi phải hủy bỏ.

Cảm ơn Chúa cho tôi được đến với khá nhiều Hội Thánh trong Thành phố Sàigòn, ngoài Hội Thánh tại Bình Tây mà tôi từng làm Cố Vấn.

Khi Cụ Mục sư Phó Hội trưởng Đoàn văn Miêng bị tai nạn gãy xương chân, buổi dạy Kinh Thánh tại nhà thờ Sàigòn vào tối thứ tư được giao cho tôi (tối thứ năm do Mục sư Thái Phước Trường phụ trách). Chúa cho con cái Chúa đi học rất đông, chật cả nhà thờ Sàigòn, đa số là từ các Hội Thánh lân cận, có người ở tận Thủ Đức, có người ở các tỉnh vùng ven lên học. Thật sự qua chương trình nầy, Chúa có dùng Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng phụ trách đem đến vô vàn phước hạnh cho con cái Chúa khắp nơi. Chúa cho tôi và Mục sư Trường được thay Cụ dạy Kinh Thánh sáu tháng đến khi Cụ có thể đi lại được.

Tôi nhớ ngày Cụ Mục sư Phó Hội trưởng bị tai nạn, tôi và gia đình đang ở nhà vãng lai của Tổng Liên Hội phía sau tư thất của Cụ. Chúng tôi vừa thấy Cụ đang nô đùa với cháu Hòa Hiếu, con của vợ chồng chú Thiên Dân + Hoa Trang, thì Cụ vấp té gãy xương đùi. Lúc ấy trong nhà của Cụ không có ai ngoài bà Cụ đang lên cơn mệt do việc ông Cụ bị té, cô Đoàn Trung Tín vừa may đến, thầy Đoàn Trung Tín đã đi dạy Kinh Thánh ở Miền Tây. Sau khi đưa Cụ đi chụp hình X-quang về, Bác sĩ xác định Cụ bị gãy xương khớp trên, một cuộc bàn cãi sôi nổi diễn ra giữa các Bác sĩ là con cái Chúa với các Đông Y sĩ chuyên khoa xương gãy người Hoa do cô Tín nhờ Cô Truyền Đạo Tô Ngân mời đến. Các Bác sĩ đòi đưa Cụ vào Bịnh viện giải phẫu ghép xương, nhưng không được vì Cụ bị tiểu đường, nếu giải phẫu e rằng vết thương khó lành. Còn các Đông Y sĩ thì yêu cầu cho kéo xương chân ra rồi mới băng thuốc được, nhưng vì vết gãy nằm ngay khớp trên, nên rất khó và nhất là khi kéo sẽ gây đau đớn. Các Bác sĩ Tây y đề nghị chích thuốc tê hoặc thuốc mê, nhưng các Đông y sĩ thì không đồng ý, vì nguyên tắc của họ là khi kéo chân, họ sẽ nhìn sắc mặt của bịnh nhân, họ cần thấy bịnh nhân lúc đau nhiều nhất để biết là khớp xương vào đúng vị trí hay không. Cái khó nhất là một bên nói tiếng Việt, một bên nói tiếng Quảng Đông, không ai hiểu ai, tôi phải ở giữa cố vận dụng số vốn tiếng Quảng Đông có được để giải thích cho hai bên hiểu nhau.

Việc kéo chân đã gây đau đớn lắm, tôi thấy họ đưa cho Cụ cái gối để cắn chặt giữa hai kàm răng, tôi và chú Thiên Dân giữ người Cụ. Nhưng sau mấy lần kéo ra rồi vừa buông tay để họ dùng hai miếng gỗ đã chuẩn bị sẵn cặp hai bên, thì chỗ gãy lại trở về vị trí. Một cuộc bàn luận giữa Tây y và Đông y lại tiếp tục. Cuối cùng tôi đề nghị vì không ai hiện diện có đủ thẩm quyền quyết định, nên tôi sẽ gọi điện thoại báo tin mời Thầy Tín về, vì thầy là con trai của Cụ, thầy sẽ quyết định. Thầy Tín đã về để lo cho Cụ.

Sau nầy, Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng thường nhờ tôi chích thuốc bổ cho Cụ, đôi khi Cụ tự chích cho chính mình. Một lần khác, Cụ uống thuốc bị sốc, nên nghẹn thở, tôi và Thầy Cô Tín dìu Cụ ra xe, thầy Tín lái đưa ra cấp cứu tại Bịnh viện Sàigòn. Khi xe đến Bịnh viện, thầy Tín buộc lòng phải ở ngoài coi chừng xe vì khu vực đó rất nhiều người không tốt; tôi chạy vào gọi Y tá phòng cấp cứu nhờ họ giúp đưa Cụ vào, không ngờ Y tá trực bảo tôi ra nhờ mấy người đang ngồi ngoài vỉa hè khiêng vào, còn họ (Y tá) thì chẳng hề quan tâm dù là ca cấp cứu. Tôi phải bỏ tiền mướn những người được Y tá giới thiệu, họ vào Bịnh viện lấy băng ca ra và khiêng Cụ vào, tôi và cô Tín đi theo. Thật đáng buồn, các Y tá chẳng buồn quan tâm, họ đòi chờ làm thủ tục khai tên, đóng tiền. Tôi bảo cô Tín cứ ở đó lo thủ tục, còn tôi một mình đẩy xe băng ca đưa Cụ vào phòng cấp cứu. Khi vào phòng cấp cứu, tôi thấy hai ba Y tá (hay Bác-sĩ trẻ?) đang nói chuyện cười đùa vui vẻ, tôi lên tiếng hỏi họ phải đưa bịnh nhân đến đâu, trong bọn họ có người chỉ một cái giường trống, họ chỉ đưa tay chỉ mà thôi, không nói cũng không chuyển động gì cả. Đưa Cụ đến giường, tôi cũng không biết sức mạnh nào Chúa cho tôi một mình bồng Cụ chuyển sang giường. Thấy không ai đến lo cấp cứu, tôi quay lại chỗ họ đang cười đùa và lớn tiếng nói: ‘Tôi báo cho các anh chị biết đây là vị Mục sư Phó Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành toàn quốc. Nếu Cụ có mệnh hệ nào các anh chị phải chịu trách nhiệm lớn lắm’. Cảm ơn Chúa, lời hù dọa của tôi có hiệu quả, vừa ngay lúc đó có một Bác-sĩ hơi lớn tuổi bước vào lên tiếng hỏi, tôi trình bày là bịnh nhân đang bị sốc, cần cấp cứu, cần oxy thở, nhưng từ nãy đến giờ chưa được chăm sóc. Bác sĩ ấy đến ngay giường bịnh, ra lịnh đem oxy đến, rồi ra lịnh vô nước biển, nhưng khổ nỗi là họ không có sẵn ống truyền. Thế là cô Tín phải chạy đi mua. Tội nghiệp cô Tín, chạy mua xong ống truyền, họ lại đưa toa bảo mua thêm thuốc để bơm vào chai nước, cô lại chạy đi.

Khi thấy Cụ đã tạm yên, tôi để cô Tín trông chừng xin về trước. Ra đến xe của thầy Tín đang ngồi đợi, tôi chợt nhìn lại tôi: ‘tôi đang mặc bộ đồ Pyjama đi giữa chợ Sàigòn!’.

Chúa cho tôi được góp phần gây dựng các Hội Thánh. Hội Thánh tại đường Tuy Lý Vương do Mục sư Đinh Thiên Tứ làm chủ tọa, trước khi xảy ra biến cố nhà thờ đường Trần Cao Vân bị đóng cửa, thì số tín đồ tại Hội Thánh đường Tuy Lý Vương thật èo uột, nội bộ Hội Thánh luôn chia rẽ. Mục sư chủ tọa là diễn giả được ưa chuộng tại nhà thờ Trần Cao Vân, nhưng tại Hội Thánh nhà đường Túy Lý Vương của ông thì càng đi xuống. Có lúc ông tuyên bố giữa buổi nhóm Chúa nhật: Nếu con cái Chúa không đi nhóm Chúa nhật, mà đi nhóm tối thứ sáu truyền giảng cũng được" - một lời tuyên bố quá nóng, tôi phải khuyên can. Có những lần tôi đến giảng truyền giảng tối thứ sáu, lúc ngồi chờ buổi nhóm khởi sự, Mục sư Tứ ra hiệu cho tôi chuẩn bị đổi đề tài để giảng bồi linh, vì gần đến giờ mà không có thân hữu. Có khi vừa đứng lên để bước đến bục giảng thì được bảo là trở lại truyền giảng. Rồi biến cố nhà thờ Trần Cao Vân bị đóng cửa (tháng 11 năm 1983), Mục sư Hồ Hiếu Hạ bị bắt giam, đa số con cái Chúa thuộc Hội Thánh tại đường Trần Cao Vân chạy về nhà thờ đường Tuy Lý Vương nầy, và tinh thần truyền giảng lại bùng nổ trong Hội Thánh tại đây.

Hội Thánh tại Khánh Hội.

Sau khi ở tù về, năm 1984, nhơn ngày Tết, các anh em Thanh niên thuộc Hội Thánh tại Khánh hội do Truyền Đạo Huỳnh Minh Đức hướng dẫn đã ghé thăm chúc Tết tôi. Nhơn đó, tôi có dịp được Chúa cho đến dự phần công việc Chúa với Hội Thánh tại Khánh hội. Lúc bấy giờ Hội Thánh tại Khánh hội còn yếu lắm, một số con cái Chúa đặt vấn đề muốn được trang bị hầu việc Chúa nên nhờ tôi dùng thì giờ sáng sớm thứ tư đến dạy anh em về Chứng đạo, Chăm sóc, cách chia sẻ Lời Chúa. Chúa cho tôi lại soạn bài học Kinh Thánh cho giờ học Kinh Thánh của Thanh niên vào tối thứ ba. Buổi học Kinh Thánh nầy do các anh em học vào sáng thứ tư làm toán trưởng cho gần 20 toán học Kinh Thánh của thanh niên. Tinh thần học Kinh Thánh rất cao, bất chấp thời tiết mưa gió. Lâu lâu tôi có thì giờ chạy qua để giải đáp những thắc mắc của các học viên dự học tối thứ ba. Lần lần Chúa cho Hội Thánh được lớn lên, lớn lên, cứ thêm người vào Hội Thánh, nhất là kết quả những buổi tối truyền giảng thật lạ lùng. Sáng Chúa nhật số người nhóm rất đông. Đặc biệt Hội Thánh tại Khánh hội dành buổi nhóm cầu nguyện tối thứ năm để cầu nguyện cho chương trình truyền giảng tối thứ bảy. Cách cầu nguyện của anh em thật rất đáng học. Anh em có một cái bảng đen lớn phía trên tòa giảng để ghi tên những thân hữu mà con cái Chúa dự định sẽ mời đến nghe truyền giảng và tên của người mời. Sau đó anh em chia toán cầu nguyện cho từng người có tên đã được nêu ra. Bởi đó làm sao Đức Chúa Trời không đáp lời cầu nguyện của anh em được.

Cho đến một ngày Cụ Mục sư Hội Trưởng Ông văn Huyên gọi tôi đến gặp Cụ tại tư thất của Cụ nói với tôi rằng Mục sư Nguyễn Thanh Hằng, chủ tọa Hội Thánh tại Khánh hội vừa nói chuyện với Cụ về tôi. Mục sư Hằng cho Cụ Mục sư Hội Trưởng biết là Hội Thánh tại Khánh hội muốn mời tôi về làm chủ tọa Hội Thánh thay Mục sư Hằng; Mục sư Hằng nhờ Cụ Mục sư Hội Trưởng giúp đỡ. Tin tức từ Cụ Mục sư Hội trưởng làm tôi hết sức ngạc nhiên và lo nhiều hơn vui. Vì tôi mới bị một việc như vậy tại Hội Thánh Sàigòn, do nhơn vì Cụ Mục sư Phó Hội trưởng bị té gãy chân, Hội Thánh Sàigòn mời tôi phụ trách dạy Kinh Thánh tối thứ tư thay Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng. Qua gần sáu tháng, một số Chấp sự trong Hội Thánh thương mến tôi đề nghị Ban Trị Sự Hội Thánh Sàigòn mời tôi về phụ tá cho chủ tọa Hội Thánh. Sau khi vài Chấp sự Hội Thánh đến nhà tôi gặp tôi hỏi ý, tôi không biết nội bộ thảo luận thế nào, nhưng điều quan trọng là Công An Sở Công An kêu tôi lên và yêu cầu không được tiếp tục dạy nữa.

Bây giờ, tôi nghe Hội Thánh tại Khánh hội muốn mời tôi, tôi nghĩ rằng sẽ bị bắn nữa, vì Hội Thánh nầy là Hội Thánh lớn. Quả thật như vậy, vài ngày sau, trong một bữa tiệc cưới của Truyền Đạo Đặng văn Thơ, nơi bàn tiệc một nhân viên Địa Hạt cho biết là trên Sở Công An đang theo dõi tôi hoạt động tại Khánh hội. Tin tức đó có hiệu quả là tôi không được đến Khánh hội nữa. Xác thịt tôi rất buồn, vì sự ganh ghét đó, nhưng tôi thấy dường như Chúa cho tôi chỉ làm viên đá lót đường, gây dựng Hội Thánh xong rồi, thì Chúa sai tôi đến nơi khác.

Tại nhiều Hội Thánh khác, Chúa cho tôi được an ủi vì con cái Chúa yêu thương, nhờ đó Chúa cũng dùng con cái Chúa tiếp trợ sự sống vật chất cho gia đình tôi.

Vì thấy một số anh em Truyền Đạo và Mục sư trẻ cần có thì giờ học Lời Chúa, tôi đề nghị mỗi tuần anh em chúng tôi gặp nhau tại nhà tôi. Cảm ơn Chúa, có lúc tối đa được 12 người, thường thường trung tín là 6 đến 7 anh em. Những buổi học Kinh Thánh nầy rất vui, rất ích lợi, các anh em ôn lại việc làm bài giảng, cùng nhau giải nghĩa những sách khó trong Kinh Thánh, đặc biệt là các sách Tiểu Tiên Tri, rồi có thì giờ để giúp nhau giải quyết những nan đề trong Hội Thánh, anh em chúng tôi cũng sắp xếp, thì giờ, tiền bạc, công sức, hỗ trợ nhau truyền giảng, Hội Thánh nào yếu thì vài Hội Thánh ở gần sẽ đến tiếp. Ai trong chúng tôi cũng thấy rõ những buổi học thật có phước và ích lợi. Đến một ngày tôi đưa một máy thu băng bỏ túi, đề nghị thâu lại bài giảng mà anh em đó giảng giữa Hội Thánh của mình, để tuần kế đem đến lớp học Kinh Thánh để cho anh em cùng nghe và góp ý.

Anh em trong lớp cũng rất thương tôi, thỉnh thoảng cũng đem trà bánh bồi dưỡng cho tôi. Một lần tôi đang ngồi hướng dẫn anh em thì bị choáng rất nặng, tôi cảm thấy chỗ ngồi, rồi căn nhà đang ở, rồi mọi người xoay vòng vòng trong trí trong mắt của tôi. anh em nhận ra và dìu tôi vào phòng hiệp nhau hết lòng cầu nguyện cho tôi.

Chúng tôi giữ lớp nầy hơn một năm, thì thình lình Cụ Mục sư Phó Hội trưởng Đoàn văn Miêng kêu tôi xuống nhà nói cho tôi biết là có người ở trong Hội Thánh Sàigòn báo cho Cụ rằng Mục sư Sơn đang tổ chức huấn luyện gì đó ngay nhà Cụ. Cụ Mục sư Phó Hội trưởng nói vì lý do an ninh của cơ sở, yêu cầu tôi giải tán lớp học. Tôi phải vâng lời. Dù vậy, cảm ơn Chúa đã cho anh em có thể làm được những bố cục bài giảng tương đối khá tốt. Chúa thấy việc tôi giúp anh em đã xong !

Khi tôi viết đến đây, tôi nhớ đến Thầy Truyền Đạo Trương Hoàng Ứng, phụ tá tại Hội Thánh đường Tôn Đản (quận 4). Thầy bày tỏ với tôi là Hội Thánh tại Tôn Đản không phát triển được, dù Thầy đã hết lòng thăm viếng, khuyên mời, mỗi buổi sáng một mình Thầy quì gối trên từng băng ghế trong nhà thờ để cầu nguyện xin Chúa cho có người tin Chúa ngồi đầy băng ghế nầy. Thầy đã kiên trì cầu nguyện như vậy, nhưng vẫn ít người nhóm lại. Tôi đề nghị Thầy tạm quên những tín đồ cũ, tập trung lo nhờ ơn Chúa tổ chức một buổi truyền giảng thật chu đáo. Theo hợp đồng với Thầy, tôi đến giảng cho buổi Truyền giảng ngày hôm đó. Halêlugia ! Chúa cho có 16 người tin Chúa. Thầy lại hỏi tôi: Bước kế tiếp là gì ? Tôi khuyến khích Thầy đi thăm những người mới tin Chúa, rũ họ cùng đi thăm viếng. Kỳ diệu thay, Chúa dùng những người mới tin Chúa lại rũ Thầy Ứng đi thăm những người tín đồ cũ. Những tín đồ cũ hổ thẹn nên tự động đi nhà thờ. Hội Thánh tại Tôn Đản đã lớn lên mạnh mẽ, dù bên cạnh có nhà thờ Khánh Hội to lớn, từng bị cho là đã thu hút người, làm Hội Thánh nhỏ như tại Tôn Đản kế cận điêu đứng.

Hội Thánh tại Thông Tây Hội cũng vậy. Vì Hội Thánh thuộc vùng ven đô, việc đi lại buổi tối rất khó do thiếu an ninh. Cảm ơn Chúa, sau những lần Chúa cho tôi đến giảng dạy, huấn luyện về Chứng đạo và Chăm sóc, một số con cái Chúa trong Hội Thánh muốn tổ chức Truyền giảng buổi tối với điều kiện tôi phải giảng cho buổi khai mạc truyền giảng hôm đó.

Buổi chiều tối ngày G, tôi vừa giảng xong tại một Hội Thánh khác, vội chạy xe đến nhà thờ tại Thông Tây Hội . Trên đường đi, trước mắt tôi là những đám mây đen kéo tới báo hiệu một trận mưa to sắp đổ xuống. Tôi vừa chạy xe vừa cầu nguyện nhơn danh Chúa Jêsus Christ đuổi tan đám mây đen. Cảm ơn Chúa, tôi đến nhà thờ tại Thông Tây Hội không bị mưa. Nhìn vào sân nhà thờ thấy ông Trưởng Ban Chứng đạo Truyền giảng đang cầm trên tay tài liệu tổ chức Truyền giảng mà tôi đã dạy, ông đang theo từng mục từng mục chỉ người nầy, chỉ việc kia, áp dụng một cách chính xác, ngay cả những cây đèn pin, đèn dầu chuẩn bị phòng khi cúp điện như tôi đã căn dặn, anh chị em cũng lo chu đáo.

Phép lạ xảy ra! Phía trên và phía dưới khu vực nhà thờ mưa thật to, nhưng khu vực ngay nhà thờ trong vòng hơn một cây số thì trời khô ráo. Cảm ơn Chúa !

Khi tôi giảng xong, Thầy Truyền Đạo chủ tọa Hội Thánh tại Gò-vấp phụ trách kêu gọi người nghe tin Chúa (Thầy Truyền Đạo Trần Công Chánh, chủ tọa Hội Thánh tại Gò vấp đã nhận lời đề nghị của tôi, Thầy dẫn con cái Chúa trong Hội Thánh lên yễm trợ cho Hội Thánh tại Thông Tây Hội). Thầy vừa đứng lên thì điện cúp, nhưng Chúa cho con cái Chúa đã chuẩn bị đèn pin, đèn dầu đầy đủ, lập tức thắp lên, buổi nhóm không hề bị trở ngại về ánh sáng, chỉ có Thầy Truyền Đạo Chánh phải một phen khan giọng do nói thật to kêu gọi, và Chúa đã cho đêm đó có 16 người tin nhận Chúa Jêsus Christ. Và từ đó, Hội Thánh tại Thông Tây Hội đã lớn lên, lớn lên…

Mùa Giáng Sinh năm 1993, Hội Thánh tại Trương Minh Giảng dành cho tôi buổi tối truyền giảng Giáng sinh ngày 17 tháng 12. Trước đó, tôi được biết những buổi truyền giảng tối thứ năm hằng tuần của Hội Thánh, số tín đồ tham dự chỉ độ 50 người, trong khi buổi nhóm sáng Chúa nhật với hai suất có trên 300 người. Tình trạng nầy cũng xảy ra cho Hội Thánh tại đường Tô Hiến Thành. Cậy ơn Chúa, tôi dùng buổi giảng sáng Chúa nhật trước đó một tháng làm buổi hướng dẫn Chứng Đạo, rồi phát phiếu hứa tham gia Chứng Đạo qua việc hứa cầu nguyện, hứa dâng tiền Truyền giảng, và hứa mời Thân hữu. Khi thu phiếu, cảm ơn Chúa cho có rất nhiều người nhận Truyền Đạo đơn và Thư Mời đem về phát cho Thân hữu. Cảm ơn Chúa có rất đông con cái Chúa đã giữ đúng lời hứa tham dự buổi nhóm truyền giảng. Có một con cái Chúa tên của anh là Giang Thanh Hùng, sau đó gặp tôi làm chứng rằng, ngày hôm đó anh vừa qua cuộc giải phẫu ruột thừa về đến nhà, nghe tin tôi giảng, anh đi xe xích lô đến nhóm cho được và cảm ơn Chúa đã chữa lành cho anh.

Trước ngày 17 tháng 12, tôi còn đang giảng dạy tại Đà-nẵng. Đến 4 giờ chiều 17 tháng 12, tôi được con cái Chúa đưa ra phi trường Đà-nẵng trong lúc trời mưa giông lớn. Ngồi chờ chuyến bay mà lòng rất hồi hộp lo lắng, vì chốc chốc nghe thông báo hủy chuyến bay Đà-nẵng - Pleiku, hủy chuyến bay Đà-nẵng – Đàlạt. Cảm ơn Chúa cho chuyến bay về Sàigòn đúng 5 giờ chiều, nhờ đó tôi có mặt tại Sảigòn lúc 6 giờ và 7 giờ tôi có mặt tại nhà thờ Trương Minh Giảng. Điều kỳ diệu đã xảy ra, tối hôm đó Hội Thánh tổ chức truyền giảng cho các nhân công trong Công ty xây dựng của anh Phạm Hữu Thiên, có 99 người tiến lên tin nhận Chúa. Ha-lê-lu-gia ! Nhờ tất cả con cái Chúa giữ lời hứa mời Thân hữu và Chứng Đạo.

Chúa cho tôi dự phần với các Hội Thánh tại Tân Hòa Đông, Tân Phú, Tân Thới Hòa, Phú Thọ Hòa, Tân Bình, Lạc Long Quân, Lương Nhữ Học, Nguyễn Trải (Quang Trung đường), Nguyễn Thái Bình (Cứu Ân đường) Gia định, Thị Nghè, Gò-vấp, Báp-tít, Tôn Thất Thuyết, Bình Trị Đông, …

Tại Hội Thánh ở Chánh Hưng, điều tôi cảm động là sự hợp tác chặt chẽ của Ban Trị Sự Hội Thánh với chủ tọa Hội Thánh, họ cũng hợp tác về công việc làm ăn sinh sống bằng cách chung lập những Tổ Hợp sản xuất nhựa, dệt bao nylon đựng cát; họ cũng hợp tác chung trong công việc Chúa: Các nhân viên Ban Trị Sự Hội Thánh tham gia học và dạy trường Chúa nhật, mời Thân hữu đến dự Truyền giảng tối thứ năm, đồng thời họ cũng tổ chức những buổi truyền giảng và học Kinh Thánh tại Cơ sở sản xuất để làm chứng cho công nhân. Điều làm tôi cảm động là thấy một buổi nhóm sáng ngày 25 tháng 12, nhơn Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus giáng sinh, toàn Ban Trị Sự Hội Thánh đã đứng lên nói lời tri ân chủ tọa Hội Thánh là Mục sư Trần Huy Minh, họ tặng quà cho Mục sư và ôm lấy Mục sư mà khóc nhiều lắm. Hình ảnh trong Công vụ đoạn 20:37 giữa Phaolô và các Chấp sự tại Ê-phê-sô lâu lắm rồi tôi chưa được thấy nay chợt hiện lên rõ ràng trước mắt tôi.

Tại Chánh Hưng cũng cho tôi nhiều kỷ niệm. Một lần nữa tôi lại làm cái chuyện "Ngu Nhất" trên đời, ấy là 'Làm Mai'. Đôi bạn thanh niên nầy đều là con của Chấp sự trong Hội Thánh yêu nhau trên hai năm. Chàng là giáo viên dạy toán, nàng là giáo viên dạy Anh văn. Ban Chấp sự Hội Thánh trình bày với tôi là gia đình hai bên ai cũng đồng ý trừ bà mẹ của cô gái, do đó Ban Chấp sự nhờ tôi giúp khuyên bà. Tôi viết một thư giải thích mọi sự và năn nỉ bà chấp thuận. Tuần lễ sau, ba của cô gái nói với tôi là bà ấy đọc xong thư của tôi thì xé thư đó, la um sùm trong gia đình: "Tại sao ông Mục sư Sơn xen vô việc cưới gả của gia đình tôi? Gả cho thằng nào chớ nhất định không gả cho thằng đó!" Thế là tôi bị la mắng vì làm mai. Rồi tôi bị vào tù do việc xảy ra tại nhà thờ An Đông. Một năm sáu tháng sau, tôi được thả, trở lại thăm Hội Thánh tại Chánh Hưng, các em Thiếu niên trong Hội Thánh khoe với tôi con heo đất mà tôi đã mua cho các em để các em nuôi làm ngân quỹ cho Ban Thiếu niên, các em đã nuôi từ lúc tôi bày cho đến ngày tôi ở tù về. Tôi lại được giới thiệu một cặp vợ chồng quen thuộc là đôi Thanh niên nam nữ đã làm cho tôi bị bà mẹ cô gái mắng cho khi trước. Ai cũng làm chứng lại rằng sau đó, khi tôi bị tù, thì bà mẹ cô gái đột nhiên thay đổi ý kiến tuyên bố: "Tao chỉ gả cho thằng đó, không gả cho thằng nào khác!" Khi vợ chồng trẻ nầy đã có đứa con bụ bẫm bồng đến chào tôi, tôi phải chỉ mặt thằng bé mà nói: "Tại ba má cháu mà Mục sư bị chửi đấy". Bà mẹ cô gái bây giờ rất yêu thương gia đình chúng tôi.

Nhơn chuyện mai mối, tôi cũng nhớ đến một đôi thanh niên khác ở Hội Thánh Trương Minh Giảng. Lúc đó Hội Thánh chưa có chủ tọa, Ông Lê văn Chi là Thư ký Hội Thánh giúp lo công việc Chúa, ông đến nhà của tôi trình bày trường hợp một thanh niên con tín đồ muốn cưới một cô đã tin Chúa, nhưng cha mẹ của cô chưa tin Chúa, lại là người Tàu (người Trung quốc), vì vậy ba má cô gái gây khó khăn bằng cách đòi sính lễ tới 16 mâm, trong đó có những loại sính lễ trái với giáo lý như: nhang đèn, rượu, còn đòi phải lạy bàn thờ gia tiên, không đồng ý thì không gả. Ông Thư ký Hội Thánh Trương Minh Giảng nhớ đến Mục sư Sơn là người biết tiếng Hoa (tại tôi có nhiều dịp giảng dạy cho một số Hội Thánh người Hoa, nên con cái Chúa đồn tôi nói tiếng Hoa giỏi, thật ra tôi chỉ biết nói ăn cơm, uống nước, vài câu quọt quẹt xã giao), nên chạy xe đạp đến nhờ tôi cùng đi gặp nhà gái nói giúp không xin bớt mà xin đổi những món sính lễ đó thành những món khác và xin miễn bái lạy.

Sau khi cầu nguyện, tôi cùng đi với ông Lê văn Chi mà lòng đầy lo lắng. Đến nhà cha mẹ của cô gái, tôi thấy ông ấy đang ngồi bắt mạch hốt thuốc cho bịnh nhân, ông làm nghề Đông y. Chúng tôi gật đầu chào nhẹ và ngồi chờ. Đợi ông xem mạch cho khách xong, tôi chủ động đưa tay bắt và chào ông bằng tiếng Quảng Đông và biết ông họ Lý. Người Hoa có tánh tốt là thấy người cùng xứ hoặc nói tiếng Hoa thì dễ có cảm tình hơn, và tôi cũng biết người Hoa thường rất sợ người có chức quyền, nên tôi quay sang giới thiệu ông Thư ký Hội Thánh:

- Ní wẩy chù cao wủi chấp xì. Ngọ hầy mục súy - Vị nầy là Chấp sự Hội Thánh. Tôi là Mục sư.

Vừa nghe xong, lập tức ông Lý đứng dậy đưa hai tay bắt tay ông Thư ký Hội Thánh với sự nể trọng. Tôi bắt đầu hỏi thăm việc làm ăn của ông. Tôi cũng hỏi thăm ông có bán một loại thuốc trị đau nhức có tên là 'Vân Nam Bạch Dược' không? Lần lần tôi vào đề. Thật lòng mà nói tôi rất ngạc nhiên hôm ấy Chúa cho tôi nói tiếng Quảng Đông cách trôi chảy những gì cần nói. Và lạ lùng biết bao, tôi nói tới đâu, Chúa khiến ông Lý đồng ý tới đó, đổi món nào cũng được, còn bàn thờ thì ông nói chỉ xin cho gia đình ông để trên lầu, ông sẽ dành phần tầng trệt để tiếp Nhà Trai rước dâu, nên không cần bái lạy. Cảm ơn Chúa, chúng tôi ra về mà lòng không biết nói lời nào để tạ ơn Chúa cho hết lòng chúng tôi. Về sau, tôi được biết ông Lý và gia đình cũng đã tin Chúa và nhóm lại rất trung tín.

Thật sự bây giờ ngồi viết những lời nầy, nhớ lại những trận chiến mai mối, tôi chỉ biết ngạc nhiên và cảm tạ Chúa. Khi tôi hầu việc Chúa trong Hội Thánh tại Túc Trưng, một thanh niên người Thượng xin cưới một cô giáo người Kinh đang dạy học tại Trường Tin Lành Túc Trưng. Cô giáo tin Chúa khi lên dạy ttrong Trường và tin Chúa rất tốt, nhưng gia đình ở Mỹ tho thì chưa tin Chúa, cô lại có học thức với cấp bằng Tú Tài Toàn Phần. Tôi thật bối rối về sự cách bịệt của hai bên: cách biệt về chủng tộc thì người Kinh khó chấp nhận con gái mình gả cho người Thượng; cách biệt về học vấn thì cô gái có Tú Tài, còn anh thanh niên thì chỉ lớp ba lớp bốn. Điều may mắn là cô giáo không có lòng phân biệt, nên không phản đối sự tỏ ý của anh thanh niên, cô chỉ yêu cầu có sự đồng ý của gia đình. Nhiều lần tôi phải mời cô giáo đến nói rõ mọi khó khăn, để cô cầu nguyện Chúa quyết định cẩn thận. Tôi cũng nhờ cô giáo viết thư về trình bày cho gia đình cha mẹ và nói là Mục sư với Ban trị Sự Hội Thánh xin được đến gặp.

Đến ngày gia đình cô giáo hẹn, vợ chồng tôi cùng Ban Trị Sự Hội Thánh, trong đó có người Kinh và người Thượng lên đường đến Mỹ tho. Xe chạy vào một vùng ngoại ô của thành phố Mỹ tho rồi dừng lại điểm hẹn, tôi chợt thấy bên đường một người mặc áo dài khăn đóng đang chờ sẵn. Tôi chột dạ vì biết rằng cuộc chiến nầy sẽ gay go, bởi đối tượng là những người thuộc hàng bảo thủ cổ truyền. Vào đến nhà, tôi càng lo thêm nữa khi thấy một hàng các cụ già mặc áo dài khăn đóng đứng tiếp chúng tôi. Tất cả chúng tôi thì mặc veston, chỉ duy Nhà tôi là nữ đi chung mặc áo dài). Trong ban Trị Sự Hội Thánh chỉ có hai ông khá lớn tuổi, nhưng so với các cụ ở đây thì còn trẻ quá. Phần tôi thì trẻ nhất vì chỉ 28 tuổi. Khi ngồi vào bàn, hai bên đối diện nhau, tôi ở vị trí đầu bàn ngang với một cụ già là Trưởng Tộc râu dài, tóc bạc, là ông ngoại của cô giáo, còn ba của cô giáo chỉ được đứng sau lưng các cụ.

Cuộc nói chuyện chỉ có giữa tôi với cụ Trưởng tộc, có lẽ gia đình đã sắp xếp với nhau để ông ngoại của cô giáo đại diện toàn quyền.

Trước hết tôi thay Ban Trị Sự tỏ lời cảm ơn gia đình cô giáo đã cho phép đến thăm, đồng thời nêu lý do gia đình anh Thanh niên là con cái Chúa rất tốt trong Hội Thánh tỏ ý xin được cưới cô giáo. Trái với điều tôi lo lắng, vấn đề cưới gả được chấp thuận ngay.

Thế là chi tiết việc cưới gả được nêu ra từng phần:

1. Về sính lễ, Nhà Gái yêu cầu phải có cặp đèn và mâm rượu, các món khác tùy Nhà Trai. Tôi phải nhờ ơn Chúa uốn ba tấc lưỡi nói đi nói lại hai chữ ‘xin miễn’ cho hai thứ đó vì lý do niềm tin và quy luật của Hội Thánh. Một cuộc hội ý giữa các cụ diễn ra, rồi lại giao về cho cụ Trưởng Tộc quyết định. Kỳ diệu thay, cụ Trưởng tộc tuyên bố: “Thôi thì nếu Nhà Trai không đi đôi đèn và rượu thì Nhà Gái sẽ không hồi mâm cặp đèn và rượu cho Nhà Trai”. Còn nỗi vui nào hơn nữa.

2. Về bái lạy. Tôi xin gia đình miễn cho đôi bạn việc bái lạy, mà chỉ chào hỏi từng người sống trong gia đình. Một cuộc hội ý nữa lại diễn ra và cho khỏi lạy nhưng đứng trước bàn thờ cúi đầu chào gia tiên. Tôi lại phải trình bày xin đã thương thì thương cho trót, đã gọt thì gọt cho tròn, đã miễn cho thì xin miễn hết cho, không phải vì bất hiếu mà chỉ vì niềm tin theo Chúa dạy. Cảm ơn Chúa lần nữa, ông cụ Trưởng tộc đánh đổi rằng: "Nếu ở đây không bái lạy thì rước dâu về Nhà Trai cũng không được bắt cô dâu bái lạy". Chúng tôi còn biết nói lời nào tạ ơn Chúa!

 

^^ cóa ai ở nhà thờ Sanh Mạng Đường hem ?

Bạn có liên hệ với nhà thờ Sanh Mạng Đường như thế nào?

Tôi rất muốn biết.

Mục sư Trần Thái Sơn

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by