You are hereCĐTT 009

CĐTT 009


By admin - Posted on 11 November 2008

 MIỀN TÂY

Gọi là Miền Tây nhưng thật ra phải gọi là Miền Nam. Chúa đã cho tôi đến các Hội Thánh tại Quới Sơn, Tân Thạch, An Hóa, Bến Tre, Hàm Long (Tiên Thủy).

Tỉnh Bến Tre đã phải trải qua 10 năm đầy khó khăn, gay gắt, nhưng Đức Chúa Trời thật yêu thương đã thành tín như lời Chúa đã hứa trong thư I Côrintô 10:13, "Những sự cám dỗ đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu; nhưng trong sự cám dỗ,  Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được". Và sau 10 năm, Chúa đã mở đường cho Hội Thánh, đa số các Hội Thánh trong tỉnh đều phát triển mạnh mẽ

Rồi đến Cái Bè, An Hữu, Vĩnh long, Thành Lợi. Riêng tại Bình Minh (Cái Vồn), Mục sư Nguyễn Minh Cương lần đầu tiên xin phép Chánh quyền cho tôi đến giảng Bồi linh hai ngày thứ bảy và Chúa nhật. Chúa cho Chánh quyền thấy ghi địa chỉ nơi ở của tôi tại Sàigòn, nên họ tưởng tôi là người thuộc Hội Thánh Trung Ương đến, thế là họ đồng ý. Các con cái Chúa từ các Hội Thánh lân cận đã về Bình Minh thật đông. Lâu lắm Hội Thánh mới có một cuộc họp mặt tín đồ các nơi đông như vậy, đến nỗi phải che Trại ngoài sân. Một ngày nhóm ba suất, rất đông, rất vui và đầy phước hạnh.

Rồi đến Cái Răng với những ngày Huấn luyện Chứng Đạo & Chăm Sóc; Vị Thanh với những ngày Kinh Thánh Mùa Hè dành cho các Thanh niên các nơi về học như Vị Thanh, Giồng Riềng, Kinh Ranh, Long Mỹ, An Phú. Chúa cho những ngày huấn luyện đó thật thỏa lòng, với sự cộng tác của Thầy Đoàn Trung Tín, Thầy Trần Trọng Nha.

Một mùa nước lụt, sau những ngày giảng dạy mệt nhọc, Thầy Truyền Đạo Nguyễn Dâng Nguyện chủ tọa Hội Thánh tại Vị Thanh mời tôi xuống ghe đi thăm một vài tín đồ ở Giồng Riềng có con em học những Khóa Kinh Thánh Hè vừa qua, cũng đang ở trong vùng bị nước lụt.

Trên đường đi, ngồi trên chiếc vỏ lãi của Hội Thánh, thỉnh thoảng những con cá he vàng nhảy khỏi mặt nước thật thích thú. Ghé vào nhà của một  tín đồ có con học Kinh Thánh với tôi tại Vị Thanh, gia đình rất vui và dặn Thầy Truyền Đạo Nguyện lượt về ghé lại ăn cơm. Khi trở lại, thì gia đình đã chuẩn bị cơm nước xong, chủ nhà bảo: 'Hôm nay gia đình vinh dự có ông Mục sư đến thăm, nên mời đoàn thăm viếng ăn cơm. Chúng tôi (chủ nhà) muốn đãi ông Mục sư đặc sản của vùng quê' Trong lúc chờ đợi dọn ăn, tôi cứ nhớ mấy con cá he vàng tươi nhảy lên khỏi nước bảo đảm ở Sàigòn không thể mua được, đem chiên dòn dầm nước mắm cay thì không gì bằng. Thình lình trước mắt tôi, người nhà dọn ra một dĩa nước chấm, nhìn vào tôi biết ngay món ăn sẽ là 'thịt cầy'. Quả đúng như vậy! Tôi đành làm Đaniên ngồi ăn rau với nước chấm. Cũng thời may, ông Ba Kim là tín đồ thuộc Hội Thánh tại Vị Thanh đi cùng nhận ra nên báo động và chủ nhà vội chiên trứng gà cho tôi.

Nửa đường về, máy ghe bị hư gì đó không chạy được nữa, trên ghe lại không có đồ nghề để sửa. Ghe tấp vào một xóm nhà của người Miên, một xóm nhà nghèo xơ xác, các trẻ con với cái bụng to, nước da đen kèm mái tóc cháy nắng, nhà cửa hầu hết đều xiêu vẹo. Thầy Truyền Đạo Nguyện lên bờ hỏi từng nhà để mượn kềm, búa, nhưng không nhà nào có. Từ dưới ghe nhìn lên nhận thấy dường như họ e ngại gì đó, nên tôi bước lên ra dấu gọi một Thanh niên độ hai mươi ngoài tuổi, tôi hỏi: "Anh có kềm, búa, cho chúng tôi mượn sửa máy một chút’" Không biết tại sao người Thanh niên đó dạ, dạ, rồi chạy ngay về nhà gần đó đem kềm búa ra cho mượn, còn nhiệt tình nhảy xuống ghe sửa tiếp. Khi ghe sửa xong, chạy về, chúng tôi cứ thắc mắc không biết tại sao Chúa cho như vậy.

Một lần tôi xuống giảng Bồi linh tại Hội Thánh ở An Lạc Tây, tôi nói với con cái Chúa ở đây sống 'an lạc như Tây' làm ai nấy phấn khởi. Suốt hai ngày với những buổi nhóm thật vui. Có một Cán bộ là Phó Chủ Tịch Mặt Trận Huyện đến dự, lúc đầu ông nói ở dự buổi khai mạc cho có Lễ mà thôi, rồi sẽ đi qua một buổi Lễ gì đó ở ngôi Chùa. Tuy nhiên, qua buổi nhóm thứ nhất, ông được cảm động và xin ở lại dự hai suất kế buổi chiều và buổi tối luôn.

Buổi chiều Chúa nhật, Hội Thánh đãi ăn những người đến nhóm. Bất chợt tôi thấy từ dưới bờ sông hai người vác hai con chó đã thui da vàng đem vào nhà bếp. Tôi bắt đầu lo và nỗi lo thành sự thật, không có món ăn nào khác ngoài thịt cầy và cá tra nuôi hầm. Từ đó, mỗi lần xuống Miền Tây, nghe đãi đặc sản là tôi bắt đầu run, vì biết hôm đó mình phải ăn chay. Tôi cứ nghe anh em khen ngon lắm, thậm chí có người còn nói: "Tôi nghe ở đâu làm thịt cầy là tôi dỡ nhà liền". Tôi hỏi: "Tại sao lại dỡ nhà?" Họ nói: "Để lấy củi chụm lửa tiếp”" Nhưng không biết tại sao tôi không ăn được, nó không chịu vào mà cứ muốn đi ra khỏi miệng. Có lẽ nhờ vậy mà tôi đi thăm viếng không lo sợ gì với mấy con giữ nhà.

Cứ thế, Chúa cho tôi xuống Phụng Hiệp, Sóc Trăng, Đại Ngãi, Châu Khánh. Sau cơn bão số 5 năm 1997, Chúa cho tôi đến được Hội Thánh cuối nước Việt nam là Hội Thánh tại Tân Đức. Chuyến đi thật gian nan, vợ chồng tôi rời bến xe tại Sàigòn lúc 5 giờ chiều ngày thứ sáu, đến khoảng 2 giờ sáng thì đến một địa điểm nghe nói còn cách Cà-mau 10 cây số, xe còn ít khách , nên họ sang khách qua xe nhỏ loại Daihatsu. Giữa trời khuya, không biết đường, trước khi đi, tôi có gọi điện thoại hỏi Thầy Truyền Đạo Nguyễn văn Ngọc, chủ tọa Hội Thánh tại Càmau đường đi nước bước. Thầy Ngọc dặn tôi đến bến xe Càmau thì đi xe ôm đến nhà thờ đường Nguyễn văn Tạo, Phường 9. Bây giờ không phải là bến xe Càmau mà giữa đường, trời khuya hai giờ sáng. Thôi thì 'cũng liều nhắm mắt đưa chân', chiếc xe Daihatsu chạy đến bến xe Càmau, chúng tôi lại đi xe ôm. Tôi nhớ năm 1968, vì làm rể phụ cho Mục sư Phan Chí Tâm đưa dâu về Càmau, nên tôi có dịp đến đó. Lượt đi, ra khỏi Bạc Liêu, thì bị đấp mô, hành khách phải xuống xe đi bộ, trời lại mưa tầm tã, đường thì đầy ổ gà ổ voi, xe chỉ bò hơn là chạy. Lượt về, tôi mua vé đi máy bay. Đến giờ ra phi trường, tất cả hành khách đứng ngoài ven lộ chờ máy bay. Vừa thấy máy bay lượn chuẩn bị đáp, mọi người ùa vào phi trường, thình lình tiếng đạn pháo kích nổ liên tục. Nguyên do trước đó một chiếc máy bay quân sự của Mỹ đã đáp xuống và đang bốc dỡ hàng hóa. Hành khách chúng tôi phải chạy ngược ra đường tránh đạn. Hơn một giờ sau chúng tôi mới lên được máy bay về Sàigòn. Âu cũng là một kỷ niệm đáng nhớ.

Gần ba mươi năm sau trở lại Càmau giữa khuya bốn giờ sáng, theo lời dặn của Thầy Truyền Đạo Ngọc, tôi đến bên hông tư thất gọi, Thầy Cô mở cửa ngay và ân cần chỉ dẫn chúng tôi chỗ ngủ đã chuẩn bị sẵn, chỗ tắm, vì cả người chúng tôi đầy bụi đường. Khi tắm rửa xong xuôi, vừa nằm xuống thì chuông nhà thờ reo báo hiệu đến giờ cầu nguyện sáng sớm của Hội Thánh tại Càmau. Hội Thánh nhóm cầu nguyện, không lẽ chúng tôi nằm ngủ, nên dù mệt cũng phải ngồi dậy và lên nhà thờ cùng Hội Thánh cầu nguyện. Vất vả đến 5 giờ chiều ngày thứ bảy, chúng tôi mới đến được Tân Đức bằng chiếc ghe đò chạy bằng máy xe hơi với tốc độ thật đáng sợ và chiếc vỏ lãi chạy ngoằn ngoèo qua những kinh rạch hai bên là những rừng đước, những gốc cây to trốc gốc do bão số 5 còn nằm đó. Tôi có cảm giác như đi vào rừng thời chiến.

Tân Đức là vùng nước mặn, lại không có điện. Vấn đề vệ sinh cá nhân thật khó khăn cho chúng tôi. Giữa trời đất bao la, chung quanh vài bụi dừa nước, người ta để hai khúc cây làm nhà vệ sinh, hoặc che chắn tạm bợ một chút ven bờ kinh sát bên đường đất có người thường qua lại. Cảm ơn Chúa cho lần thứ hai chúng tôi trở lại thì một số con cái Chúa đã cho khoan giếng lấy nước, cũng có điện để bơm nước, thắp đèn, xây nhà vệ sinh lịch sự.

Nhà thờ Tân Đức tuy nhỏ, nhưng tín đồ thật đông, sáng Chúa nhật con cái Chúa từ mọi nơi tụ họp về ngồi đầy trong nhà thờ, tràn ra ngoài sân. Đặc biệt là Hội Thánh tại Tân Đức bắt đầu giờ sinh họat là 10 giờ sáng là giờ Thanh niên, 11 giờ 30 khởi sự thờ phượng Chúa. Khi tôi đứng lên tòa giảng thì đã hơn 12 giờ 30. Tôi phải nói với con cái Chúa: "Thông thường, trong buổi nhóm, người ta sợ người nghe ngủ gục, nhưng hôm nay tôi sợ người giảng ngủ, vì giờ nầy ở nhà là giờ tôi ngủ trưa". Cảm ơn Chúa cho con cái Chúa rất chịu khó ngồi nghe giảng, họ ngồi nghe hai lần giảng, đến 3 giờ chiều mới ra về, vì đó là giờ hết ghe đưa ra Đầm Dơi để về Càmau. Hội Thánh dồn nhiều việc lại cho tôi mỗi lần có cơ hội đến thăm: nào phải giảng hai bài, nào Tiệc Thánh, nào dâng con, nào Báp-têm, nào cầu nguyện cho người tin Chúa, và có cả một Lễ Cưới nữa. Cảm ơn Chúa, dù cực nhọc, không còn nói ra tiếng nữa, nhưng không thể nào diễn tả hết niềm vui của Hội Thánh và của chính chúng tôi trong những ngày trời trên đất như vậy.

Vì ở Sàigòn vật giá cao, ít khi nào chúng tôi dám ăn hải sản, nhưng tại Tân Đức, con cái Chúa thường đãi chúng tôi ăn cua, tôm rất tươi, thịt rất chắc; những con cá ngát, cá chẽm vừa to vừa tươi, dân Sàigòn khó mà được ăn, trong khi ở Tân Đức thì dư dật, chỉ mất ngon ở chỗ là không có rau xanh để ăn kèm.

Nói đến đây tôi phải nhắc đến cặp vợ chồng tên Lê Chí Thanh, con cái Chúa thuộc Hội Thánh tại Sàigòn. Một hôm tôi nhận được thư của Chí Thanh viết cho tôi: "Thưa Mục sư, Chúa cho vợ chồng em mua bán mỗi tháng có một số tiền phần mười dâng cho Chúa. Em thấy Hội Thánh mà em đang sinh hoạt quá dư dật, trong khi gần nhà em có một ngôi chùa thường đi làm việc từ thiện, giúp người nghèo, mồ côi. Vợ chồng em muốn đem số tiền phần mười hằng tháng góp vô chùa cho họ làm từ thiện, như vậy có được không?" Tôi lập tức viết thư bảo vợ chồng em không cần góp vô chùa, trong Hội Thánh các nơi có nhiều nhu cần lắm, nếu vợ chồng em có lòng, tôi xin chịu trách nhiệm nhận những khoản tiền đó để trao tận tay giúp những tín đồ có cần. Cảm ơn Chúa, mỗi tháng vợ chồng Chí Thanh trung tín gởi tiền đến nhờ tôi giúp người nầy kẻ khác trong các Hội Thánh mà tôi có dịp đến giảng.

Tôi nhắc đến cặp vợ chồng nầy vì tại Tân Đức, có lần trong khi ngồi nghỉ giải lao giữa hai tiết giảng, tôi thấy một con cái Chúa đứng thập thò ngoài cửa phòng Ban Trị Sự Hội Thánh, tôi hỏi thăm mới biết rằng đêm hôm qua, nhà của anh tín đồ nầy ở ven sông bị đất sụp chìm hết xuống nước, Chúa giữ gìn cả gia đình không ai bị nguy hiểm, chỉ mất nhà, mất đồ đạc. Anh ấy trình bày với Ban Trị Sự xin Hội Thánh giúp anh phần nào cất tạm nơi trú nắng trú mưa. Ban Trị Sự hứa hai tuần nữa trong phiên họp Ban Trị Sự thường lệ sẽ đưa ra bàn giúp anh. Tôi hỏi là cần bao nhiêu tiền để cất căn nhà cho anh? Trả lời 300 ngàn đồng. Tôi kêu anh vào và trước mặt Ban Trị Sự Hội Thánh, tôi lấy số tiền 600 ngàn phần mười của vợ chồng em Chí Thanh, đưa hết cho anh dùng cất nhà và mua sắm vật dụng cần thiết. Không thể nào chờ hai tuần để biết có được giúp hay không. Cảm ơn Chúa, nhờ số tiền Chúa cho cặp vợ chồng trung tín đó, cứu giúp thực tế cho nhiều gia đình con cái Chúa ở miền quê nghèo. Tôi nghĩ rằng trong các Hội Thánh còn nhiều người có khả năng như hoặc hơn đôi vợ chồng em Lê Chí Thanh nầy. Phải chi họ có cơ hội hoặc có lòng làm như vậy, thì đem lại sự an ủi cho bao nhiêu người. Tại sao họ không dâng giúp ? Tại họ không biết hay tại họ muốn vừa bố thí vừa thổi kèn? Cảm ơn Chúa, đôi vợ chồng nầy không bao giờ quan tâm đến việc thổi kèn. Xin Chúa dấy lên nhiều con cái Chúa biết làm việc lành việc thiện như vậy.

Một lần trên chiếc ghe đi Đầm Dơi để đến Tân Đức (muốn đến Tân Đức thì từ Càmau đi tàu - gọi là tàu nhưng thực sự là ghe loại khá lớn có thể chở hơn 30 người, chạy bằng máy xe hơi, với tốc độ rất đáng sợ - đến Quận Đầm Dơi, từ đây con cái Chúa dùng vỏ lãi nhỏ để đưa vào Đầm Dơi), có một học sinh ăn mặc đàng hoàng rao bán bánh mì ngọt. Theo lời kể thì em học sinh nầy học lớp 12, vừa đi học vừa bán bánh kiếm tiền đi học. Tôi hỏi em học sinh là bán hết bánh đó được bao nhiêu tiền cả vốn lẫn lời; em nầy trả lời: được 90 ngàn đồng. Tôi mua hết số bánh đó giá 100 ngàn đồng và nhận được hai niềm vui: Niềm vui của em học sinh đó trố mắt nhìn tôi cảm ơn rối rít; niềm vui thứ hai là mấy chục thiếu nhi tại Tân Đức là vùng sâu vùng xa sáng Chúa nhật hôm sau, tay cầm chiếc bánh mì ngọt nho nhỏ rẻ tiền đó không dám ăn, các em nói với tôi là muốn để dành đem về nhà. Có lẽ từ nhỏ tới giờ các em chưa bao giờ được cầm cái bánh ngon và to (đối với các em) như vậy.

Chúa cho tôi cũng đến được Long xuyên, Châu Đốc, Tân Châu, Rạch Sỏi, Tân Hiệp. Khi Mục sư Trương văn Được rời Hội Thánh tại Long Xuyên xuất cảnh sang Mỹ, Hội Thánh đã mời chúng tôi về thay. Lúc đầu mọi việc đều thuận lợi, nhưng lần lần những rắc rối xảy đến. Rắc rối không phải từ bên ngoài mà là từ những người phụ trách hành chánh của tổ chức Giáo hội. Sau nhiều lần Đại diện Hội Thánh và vợ chồng tôi tiếp xúc với Đại diện Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh Long Xuyên, thủ tục tiến hành khá thuận lợi. Một chiều thứ sáu, Chấp sự Nguyễn văn Nhã đại diện Hội Thánh tại Long Xuyên lên Sàigòn gặp tôi cho biết là Mặt Trận Tỉnh yêu cầu tôi bổ túc một Thư Giới Thiệu của Tổng Liên Hội để hoàn tất hồ sơ bổ nhiệm trong cuộc họp giao ban của Chánh quyền vào sáng thứ hai. Lúc ấy đã hai giờ chiều thứ sáu, Chấp sự Nhã phải dùng xe hơi riêng đi từ Long Xuyên chạy gấp lên Sàigòn chở tôi ra gặp Mục sư Đặng Thiên Ân là Chánh Văn Phòng Tổng Liên Hội. Tôi và Chấp sự Nhã trình bày nhu cần muốn xin Mục sư Hội Trưởng Ông văn Huyên một thư giới thiệu theo yêu cầu của Mặt Trận Tỉnh. Mục sư Đặng Thiên Ân bảo rằng tôi phải có văn thư cho chuyển hạt của Địa hạt Đông Nam Bộ qua Tây Nam Bộ, thì ông mới làm giấy giới thiệu được. Tôi giải thích rằng: "Vì yêu cầu gấp rút của Chánh quyền, đến nỗi Chấp sự Hội Thánh phải đi xe nhà lên cho kịp; thứ hai, đây chỉ là thư giới thiệu, chưa phải xin bổ nhiệm, khi nào được Chánh quyền chấp thuận bổ nhiệm thì tôi mới xin chuyển Hạt. Vả lại Mục sư Hội Trưởng cũng kiêm Chủ nhiệm Địa Hạt". Rất tiếc là Mục sư Ân cương quyết khi nào có văn thư chuyển Hạt thì mới làm thư giới thiệu. Tôi xin gặp Mục sư Hội Trưởng để trực tiếp trình bày, nhưng Mục sư Ân nói Mục sư Hội Trưởng bận tiếp khách không gặp được. Tôi đã từng nghe ngay cả Mục sư Trí sự Phạm Xuân Tín (nguyên Phó Hội Trưởng), hoặc Mục sư Lê văn Từ (nghị viên Địa Hạt Bắc Trung Bộ) cũng đành chịu thua không được gặp Mục sư Hội Trưởng khi Mục sư Ân từ chối. .

Tôi trở ra Văn Phòng Địa Hạt phía trước, gặp hai vị Mục sư Thường trực của Địa Hạt là Mục sư Trần Bá Thành và Mục sư Bùi Trung Nguơn, hai vị mau lẹ thảo văn thư cho Thư Ký Văn Phòng đánh máy, ký tên, đóng dấu trao liền cho tôi. Lúc ấy đã 4 giờ chiều, Mục sư Ân bảo hết giờ hành chánh, thứ hai ông mới làm việc. Tôi với Chấp sự Hội Thánh Long Xuyên đành ra về tay không.

Chấp sự Nhã cố gắng yêu cầu tôi cùng vào gặp Mục sư Đoàn văn Miêng, Phó Hội Trưởng, để xin ý kiến. Sau khi nghe chúng tôi trình bày, Cụ Mục sư Phó Hội trưởng than thở: "Rất tiếc là tôi mới vừa trao trả ấn tín cho Cụ Mục sư Hội Trưởng sáng nay. Nếu sớm một ngày thì tôi có thể giúp được, vì đây chỉ là thư giới thiệu thôi mà. Mấy tháng nay, Cụ Hội trưởng bịnh, nên Cụ giao ấn tín cho tôi tạm điều hành. Không biết ai nói gì đó, Cụ lại không tin tôi, sáng nay Cụ cho người đến lấy lại tất cả ấn tín".

Ông Chấp sự Nhã trở về Long Xuyên và Mặt Trận Tỉnh không có Văn thư trình Ủy Ban đúng dịp. Tôi không thể đến Hội Thánh tại Long Xuyên chỉ vì một nguyên tắc khó hiểu.

ĐÔNG PHÚ

Năm 1964 hay 1965 gì đó, khi còn là Thanh niên thuộc Hội Thánh tại Cần thơ, tôi và anh Lý văn Quang bây giờ là Mục sư tại Úc) đã có dịp đến Đông Phú góp phần dạy Thiếu nhi vào một Chúa nhật, lúc bấy giờ Truyền Đạo Đoàn văn Mạnh là chủ tọa Hội Thánh. Kỷ niệm khó quên là mới 4 giờ sáng, chúng tôi đã nghe tiếng hát Thánh ca trên nhà thờ dưới ánh đèn manchion. Giọng hát của một ông tín đồ già nào đó đang hướng dẫn Hội Thánh nhóm cầu nguyện sáng sớm với bài Thánh ca 'Đời người ngắn ngủi' được hát với giọng sớm mai của một ông già, nghe đời người ngắn ngủi não nuột làm sao, đến nỗi chúng tôi không thể nào tiếp tục ngủ được phải ngồi dậy.

Năm 1993, trên đường từ Hội Thánh tại An Lạc Tây về, tôi có dịp đi ngang qua nhà thờ tại Đông Phú, và dừng lại thăm một chút. Lúc ấy nhà thờ đang được xây dựng. Bước lên bờ thăm hỏi Thầy Cô Truyền Đạo Châu Tử Tôn, chủ tọa Hội Thánh, chúng tôi chụp một bức hình kỷ niệm. Nhìn thấy cảnh vật ngổn ngang, cây cối um tùm, và cũng nghe rằng Hội Thánh tại Đông Phú gặp nhiều 'khó khăn' lắm. Khó hai mặt, khó về mặt Chánh quyền không cho ai đến giảng (dù vậy Hội Thánh cũng mời được diễn giả giảng chui); mặt nội bộ cũng gặp khó. Một Thầy Truyền Đạo trong Tỉnh nói với tôi: 'Chỉ có Sư (ám chỉ tôi) mới dám về đó, còn tụi em không ai dám đâu'. Tôi có đứa con nuôi sinh hoạt trong một Hội Thánh tại vùng Sàigòn, vì lòng sốt sắng tình nguyện xuống Đông Phú giúp các bạn thanh niên cách cắt chữ để trang trí nhà thờ, cũng gặp khó cả hai bề như vậy. Một Đoàn Y Tế Tin Lành xuống khám bịnh phát thuốc từ thiện, cũng bị Chánh quyền làm khó đủ điều, để rồi phải bỏ cuộc rút về sớm.

Năm 1997, tôi được tin Hội Thánh tại Đông Phú mời tôi đến giảng Bồi linh, qua sự giới thiệu của Thầy Truyền Đạo Nguyễn Dâng Nguyện, chủ tọa Hội Thánh tại Vị Thanh. Thật sự tôi không ấn tượng gì về Hội Thánh tại đó. Gần 8 tiếng đồng hồ ngồi xe đò từ Sàigòn xuống Cần thơ với quãng đường 170 cây số, tôi mệt đừ cả người. Nghe nói có anh em trong Hội Thánh ra bến phà Cần thơ đón, nhưng tôi không gặp ai cả, trời lại đã quá chiều, tôi phải nhờ con cái Chúa tại Cần thơ giúp bao thuê đò máy đưa đến được nhà thờ Đông Phú thì trời đã tối. Thật là một hành trình vất vả, cả người đầy bụi, Nhà thờ ở trong vùng chưa có điện nên cảnh lại buồn, trời tối càng buồn thêm.

Từ ngày Thầy truyền Đạo Châu Tử Tôn bỏ đi, cơ sở của Hội Thánh được một gia đình Chấp sự trong Hội Thánh đến ở trong tư thất để trông nom. Đêm đầu tiên tôi ngủ trong tư thất của Hội Thánh, một căn phòng hẹp, tường nứt nẻ chung quanh, tâm trí suy nghĩ không biết có bị Công An xét nhà không - vì tôi thuộc diện trong danh sách bìa đen của Công An. Trằn trọc mãi đến khuya cố dỗ giấc ngủ, chung quanh mùng thì muỗi vo ve bay nhiều quá, chợt nghe tiếng rột rẹt trên đầu, tôi tốc mùng ngồi dậy, ối chua choa, hai ba con chuột từ trong túi xách quần áo của tôi nhảy ra. Khiếp thật ! Tôi gài túi xách lại, rồi đi nằm. Một chốc sau lại nghe mấy con chuột đó chạy lăng xăng quanh mùng, tôi đập đại một phát, dường như trúng một hai con, nó văng xuống đất. Im lặng một lát. Đang thiu thỉu ngủ, chợt nghe mưa, gió thổi khá nhiều, lá cây ngoài sân nghe xào xạc, tự nhiên có nước rơi trên mặt, rồi dưới chân … Nhà dột ! Hóa ra nhà bị dột ! Tôi lại tốc mùng ngồi dậy, trên nóc mùng một vũng nước đang nhỏ từng giọt xuống. Tôi lấy cái áo mưa trong túi xách phủ lên nóc mùng, muỗi cắn quá, tôi lại phải chui vào mùng. Không thể nằm được, đành phải ngồi đợi dứt mưa, giũ cho nước trên nóc mùng xuống, mòn mỏi rồi cũng thiếp đi. Đêm đầu tiên ở Đông Phú là thế !

Sáng Chúa nhật, các con cái Chúa đi đến nhà thờ bằng ghe, bằng xuồng, một ít đi bộ, thi thoảng có người đi bằng xe đạp. Mọi người gặp tôi chào lấy lệ, vì xưa rày có ai biết tôi đâu, mà tôi cũng không biết ai là ai nhưng cứ chào lại. Nhóm thờ phượng Chúa xong, một con cái Chúa rườc tôi về nhà riêng để tránh sự dòm ngó của người ngoài. Trong lúc ghe chạy, anh tín đồ ấy nói với tôi: "Hội Thánh đang muốn mời chủ tọa, nên mấy tuần trước có mời một Thầy Truyền Đạo đến giảng. Thầy ấy lên tòa giảng nói: Thật ra không phải Hội Thánh muốn mời tôi giảng, mà Hội Thánh chỉ muốn coi giò coi cẳng tôi thôi." Tôi bật cười nói với anh ấy: "Rủi cho Hội Thánh là tôi tuổi con chuột, không phải tuổi con gà, nên đâu có cẳng giò gì cho Hội Thánh coi".

Duyên nợ bắt đầu từ đó !

Khi được biết Hội Thánh có lòng mời tôi đến hầu việc Chúa, tôi đã trình bày những khó khăn không thể giải quyết được mà Chánh quyền sẽ gây ra cho Hội Thánh, lý do tôi đã bị Chánh quyền bắt giam hai lần, và hai lần Tổng Liên Hội đã có văn thư bổ nhiệm tôi: một lần bổ nhiệm đến Hội Thánh tại Bình Tây (Chợlớn); một lần bổ nhiệm đến Hội Thánh tại Long Xuyên. Cảm ơn Chúa, Ban Trị Sự Hội Thánh tại Đông Phú khẳng định với tôi là Hội Thánh sẽ cầu nguyện cho việc nầy. Lòng tôi thật cảm động trước đức tin và lòng yêu thương của con cái Chúa đối với chức vụ chúng tôi, dù chỉ mới gặp nhau, làm tôi chợt nhớ câu thơ:

Quê anh, tôi mới vừa quen,
Mà sao như cá say đèn … lạ chưa!


Tôi nhận lời mỗi tháng xuống Đông Phú một lần vào Chúa nhật đầu tháng để giảng và ban Tiệc Thánh.

Đường đi thật gian nan, dù chỉ 170 cây số, nếu xe chạy trên Freeway ở Mỹ thì chỉ hơn một tiếng đồng hồ, vậy mà vợ chồng tôi phải đi từ 7 đến 8 tiếng đồng hồ mới tới được. Lịch trình là sáng thứ bảy, vợ chồng tôi phải làm sao ra đến xa cảng Miền Tây lúc 4 giờ sáng (chúng tôi phải thức dậy từ 2 giờ sáng), như vậy mới mua được vé ngồi phía trước đỡ phải bị dằn xốc. Rồi ngồi trên xe chờ, không khi nào xe khởi hành đúng giờ qui định là 5 giờ 30, thường là phải sau 7 giờ sáng.

Con đường đầy bụi vì đang sửa chữa, mỗi lần có xe chạy trước hoặc ngược chiều, thì bụi tung lên trắng xóa. Gặp lúc trời mưa thì nước tạt vào những khe cửa vì hầu hết là loại xe đã quá cũ, hư mục nhiều nơi, rồi sình bùn bắn vào không chỗ nầy cũng chỗ khác. Ấy là chưa kể đến những nguy hiểm do xe tranh giành khách dọc đường, mỗi lần đi hay về, chúng tôi đều chứng kiến những tai nạn đụng xe, lật xe, nhất là những chiếc xe gắn máy hai bánh với những thây người nằm ven lộ. Ghế ngồi thì rất hẹp, thường chúng tôi phải mua ba vé để ngồi hai người, xe lại chèn nhét hành khách hoặc hành lý chật cứng, lúc chạy lúc ngừng, mà dường như ngừng nhiều hơn chạy.

Nỗi khổ nữa là phải qua hai bến phà Mỹ Thuận và Cần thơ. Phà Mỹ Thuật nổi tiếng là bán quà bánh, trái cây gian lận, giả dối, móc túi, trộm cắp hành lý trên xe. Một lần qua phà Mỹ Thuận, tôi vừa bước xuống phà, lúc đó phà cũng vừa tách bến, thì có ba bốn thanh niên chen lấn để trở lại bờ. Khi họ lấn ngang tôi, tự nhiên tôi có cảm giác gì đó không ổn, à thì ra họ đã móc túi tôi lấy mất số tiền trong túi quần của tôi. Nhìn lên, tôi thấy một thanh niên trong số họ quay lại nhìn tôi. Tôi lên tiếng: "trả lại tiền cho tôi!" Cảm ơn Chúa, thanh niên đó dần dừ một chút rồi lấy tiền từ trong túi áo trên trả lại tôi, sau đó nhảy trở lại bến phà. Chúa bắt người thanh niên đó trả lại tôi số tiền trước khi bỏ đi chỉ bằng một lời nói bình thường. Không phải Chúa làm việc thì còn câu trả lời nào hợp lý hơn !?

Gặp lúc mùa mưa, hành khách cũng phải xuống xe qua phà, ôi thật là khổ cực trăm bề, vừa sình lầy dơ dáy, vừa ướt vì không có chỗ trú mưa. Mỗi lần đến Cần thơ là tôi phải tốn tiền mua khăn ướt lau mặt cho bớt bùn, bụi. Gặp khi kẹt phà lại phải chờ hàng mấy tiếng đồng hồ mới qua được phà, thì không còn thảm cảnh nào hơn khi mấy chục người dồn ép trên một chiếc xe cũ kỷ, ồn ào đủ mọi âm thanh, tiếng động, đủ mọi chuyện mà hầu hết là những chuyện vô bổ, đến những tiếng chửi bới tục tằn của những người mua bán hàng rong trên xe.

Những nguy hiểm luôn rình rập trên đường. Trên đường từ nhà ra Xa Cảng Miền Tây vào lúc sáng sớm, nếu đi Taxi thì tốn kém quá, chúng tôi phải đi 'xe ôm'. Đi xe ôm thì phải cảnh giác cao độ trước nạn cướp giật trên đường lúc trời khuya, nhất là 2, 3 giờ sáng, là giờ chúng tôi phải đi. Một lần, tôi và Nhà tôi, mỗi người ngồi sau một chiếc xe ôm, xe chạy đến ngã tư Nguyễn Tri Phương và đường 3-2, trời cũng đã hơi sáng khoảng gần 5 giờ, có hai chiếc xe gắn máy của bốn thanh niên chạy theo, họ vòng qua vòng lại nhiều lần quanh hai chiếc xe chúng tôi đang ngồi trên. Hai người lái xe ôm chở chúng tôi báo động với chúng tôi: "Bọn cướp đó. Ông bà ngồi cẩn thận". Rồi hai người lái xe ôm cho xe chạy gần nhau. Bọn cướp theo chúng tôi một khoảng rất xa rồi vòng lại phía sau mất dạng. Chúa đã giữ gìn chúng tôi, vì chỉ cần bọn cướp giật đồ, cũng có thể gây tai nạn mất mạng, chưa nói đến chuyện mất của.

Cảm ơn Chúa sau gần bốn năm với mỗi tháng ít nhất hai lần lên xuống phải chịu gian khổ trên những chuyến  xe đò như vậy. Đến năm 2001, có loại xe 15 chỗ ngồi, gọi là 'xe chất lượng cao', giá tiền hơi cao, nhưng hành khách được sạch sẽ và được bảo đảm thì giờ từ 3 đến 4 tiếng đồng hồ có thể đến Cần thơ. Mỗi thứ bảy, vợ chồng tôi phải sắp xếp đồ đạc chuẩn bị cho chuyến đi, thường là đến 12 giờ khuya hơn mới đi ngủ. Một giờ sáng phải thức dậy sửa soạn ra Taxi lúc 2 giờ hầu kịp chuyến xe 2 giờ 30 hoặc 3 giờ là trễ nhất để đến Cần thơ lúc 6 giờ. Lo công việc Chúa trong Hội Thánh đến 3 giờ chiều Chúa nhật phải rời nhà thờ trở ra Cần thơ kịp chuyến xe lúc 5 giờ chiều, đến nhà ở Sàigòn hơn 9 giờ tối.

Cứ như vậy kéo dài thêm gần ba năm nữa. Chúa thật đã đồng hành với chúng tôi, ban sức khỏe cho chúng tôi, ban bình an cho chúng tôi tránh được những tai nạn lưu thông dễ dàng xảy ra, không lần nào chúng tôi không thấy người chết trên đường, những chiếc xe móp méo, vặn vẹo ... Và cho đến bây giờ tôi cũng không biết Chúa đã dùng cách nào tiếp trợ cho chúng tôi những số tiền to lớn để chúng tôi có thể ròng rã lên xuống như vậy.

Chúa cho những chuyến đi của chúng tôi ngoài lộ phí cũng có được quà nầy quà kia, khi thì tập viết cho các em học sinh, khi thì bánh kẹo, quần áo, thuốc trị bịnh, đủ mọi vật dụng mà Hội Thánh hoặc các con cái Chúa nghèo có cần.

Mỗi lần xuống đến nhà thờ tại Đông Phú, chúng tôi không có thì giờ nghỉ ngơi, biết bao công việc mà Hội Thánh đang chờ giải quyết, nhất là vào những ngày tháng xây dựng cơ sở huấn luyện. Chỉ khi nào chúng tôi xuống tàu đò ra về, lúc ấy mới tạm nghỉ. Về đến nhà, tôi cảm thấy thân thể rã rời, không biết làm sao Chúa cho đi nổi nữa, nhưng rồi tuần sau lại đi.

Tại sao chúng tôi phải lên xuống như vậy ?

Vì Chánh quyền không cho phép tôi hoạt động giảng dạy, nên tôi phải đi trong thầm lặng, không thể ở lâu được. Thời gian đầu chúng tôi phải ở trọ nhà tín đồ, lần lần chúng tôi ở tại nhà thờ.

Đến Cần thơ với một ổ bánh mì lót dạ từ trên xe, vợ chồng tôi còn phải lo cho kịp xuống tàu đò nơi Bến Ninh Kiều. Đôi khi phải chờ đợi tàu đò cả một hoặc hai tiếng đồng hồ. Sau nầy tôi phải nhờ con cái Chúa đem vỏ lãi ra đón, đỡ mất thì giờ, dù phải chịu nắng, mưa giữa sông, hồi hộp với những lượn sóng to dồi dập. Có lần chúng tôi chở trên 1,000 quyển tập cho các em học sinh trong Hội Thánh, vì ghe quá khẩm, mới đi một phần đường, nước tràn vào ghe càng lúc càng nhiều, anh em phải vội vã tấp vào bờ. Cảm ơn Chúa vừa kịp lúc để chúng tôi nhảy lên bờ, các con cái Chúa thì nhảy xuống nước kéo ghe vào, tát nước ra, sắp xếp lại đồ đạc, thế rồi tiếp tục vừa đi vừa tát nước, Chúa cho đến nhà thờ bình an.

Tôi thì không biết bơi, nên đi sông nước rất sợ dù biết rằng qua đời thì được về Thiên đàng ở với Chúa nhưng lại không muốn chết. Tôi nói vui với Ban Trị Sự Hội Thánh là nếu họp Ban Trị Sự dưới ghe thì mấy anh em nói sao tôi sẽ ừ theo như vậy. Đôi ba lần chúng tôi cũng nếm mùi căng thẳng thần kinh giữa sông lớn, rạch nhỏ, mắt cũng thấy ghe lớn chìm trong sóng to làm chết người. Thỉnh thoảng nghe tiếng trống từ những chiếc ghe chạy trên sông ngang trước nhà thờ đi tìm người chết trôi.

Khi đặt chân lên khu vực nhà thờ tại Đông Phú, Chúa cho tôi thấy biết bao việc cần làm và đã ghi ra:

1.      Băng ghế nhà thờ phải thay hết vì đã quá cũ hư mục (một lần trong buổi nhóm, các con cái Chúa đang ngồi nghe giảng, chiếc băng ghế ngã sụm xuống, vì làm bằng gỗ cây sầu riêng mối mọt đã ăn rỗng ruột).

2.      Phải chỉnh trang lại phần tòa giảng, vì hiện tại chỉ là một bức tường quét vôi cũ kỷ, kéo một bức màn nhỏ cao độ 3 mét cũng đã bạc màu.

3.      Hệ thống phóng thanh quá cũ, nghe không còn rõ và quá yếu so với số lượng người bình thường đôi ba trăm, huống chi vào những dịp Lễ.

4.      Tư thất chủ tọa đã cũ sụp nền, nứt vách, trong tình trạng rất nguy hiểm. Phải xây tư thất mới.

5.      Các phòng học Kinh Thánh bằng lá và cây tạp, một dãy phòng bằng gạch trước làm Trường học từ năm 1970 đến nay, hiện không còn sử dụng được vì đã xuống cấp chỉ làm kho chứa lặt vặt.

6.      Bờ sông nơi nhà thờ bị sụp lỡ khuyết sâu vào hai bên, phần ngay trước nhà thờ thì cách mặt tiền nhà thờ độ 5 mét. Nếu không xây được bờ kè ngăn chận thì không thể giữ được cơ sở, do mỗi ngày tàu lớn, tàu nhỏ, ghe máy chạy ngang liên tục.

7.      Các con cái Chúa ở xa, phần đông là người nghèo, nên cần những chiếc vỏ lãi đưa rước đi nhà thờ, nhất là những đêm truyền giảng.

8.      Một Hội Thánh lớn như Hội Thánh ở Đông Phú mà hằng tuần số thiếu nhi đi nhà thờ chỉ khoảng 30 em là điều không thể chấp nhận được, và không có thanh niên nào lo dạy các em.

Bây giờ viết lại những lời nầy, tôi thật không biết lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành mà Ngài đã làm cho chức vụ chúng tôi, cho Hội Thánh của Chúa tại Đông Phú, trong lúc chúng tôi còn chưa đủ ăn mỗi ngày trong gia đình, con cái Chúa tại Đông Phú thì đa số nghèo, sống chủ yếu làm vườn, làm ruộng, nhưng không ai có nhiều đất, nông phẩm lại luôn rớt giá, một ít người thì đi buôn bằng ghe dạo theo mùa. Vậy mà Chúa cho tất cả những ước mơ của chúng tôi làm cho Hội Thánh Chúa đã ghi ra đều được hoàn thành một cách lạ lùng:

* Một con cái Chúa tại Sàigòn là Anh Chị Doãn xem qua danh sách nhu cần của Hội Thánh, đã gọi điện thoại nhắn chúng tôi đến nhận số tiền làm đủ 60 cái băng ngồi trong nhà thờ.

*  Chúa cho vợ chồng con trai lớn của tôi dâng tiền mua gạch men và dâng tiền công thợ gắn gạch lên phong tòa giảng. Ông bà Sui gia Thorakao dâng tiền mua vải và nhờ người may một bức màn nhung thật to làm phong.

*  Tòa giảng được làm bằng nhôm do công của một con cái Chúa có cửa hàng làm khung cửa nhôm tại Bà Chiểu (Sàigòn).

*   Một tư thất chủ tọa bề ngang 8 mét, dài 13 mét, được xây cất mới. Cảm ơn Chúa tiếp trợ cho xây cất liên tục, cho đến khi hoàn tất, không phải dừng lại theo ba giai đoạn như dự trù để lạc quyên. Một lần do sự trợ giúp của Mục sư Võ Đức Hòa và Hội Thánh Greensboro tại Hoa Kỳ.

*   Chúa cho việc xây bờ kè thật là một phép lạ nữa. Hội Thánh thật lo lắng và ước ao xây được bờ kè, nhưng nhiều lần cá nhân tôi và Hội Thánh gởi thư nhiều nơi trong và ngoài nước, tất cả đều im lặng, không một tin hồi âm nào. Có người nhận thư còn thắc mắc: Bờ kè là gì? Có người lại nói: Tại sao phải xây bờ kè trong khi có thể bán khoảng đất đó, mua đất di dời nhà thờ chỗ khác? Họ đâu có biết việc di dời nhà thờ là một chuyện khó được chấp thuận, trong khi còn có những cơ sở khác mà Hội Thánh hiện có, rồi khả năng của Hội Thánh ở vùng quê vùng xa, … Có người khi nhận thư lạc quyên của Hội Thánh, đã mời tôi đến gặp để chỉ dạy chúng tôi cách xây bờ kè như thế nào; thuyết xong gần một tiếng đồng hồ mới chịu móc túi giúp 100 ngàn đồng tiền Việt-nam. Một Mục sư người Hàn quốc xuống Đông Phú thăm, hứa giúp 3,000 đô-la là số tiền ông nói ông đang có. Nhưng chỉ là lời hứa sau bữa cơm hải sản.

Cảm ơn Chúa cho chúng tôi tự vẽ sơ đồ và bắt đầu xin phép xây dựng bờ kè. Hình thức bờ kè sẽ là:

-          Chiều cao bờ kè là 2.5 mét từ đáy sông lên ngang mặt đất (chưa tính đào xuống 5 tấc để đóng cừ).

-          Bờ kè xây theo hình bình hành với đáy là 1 mét, phần trên là 2 tấc, hướng bờ sông sẽ nghiêng, hướng đất liền sẽ thẳng góc.

-          Mỗi mét móng nền đóng 24 cây cừ loại 3 mét, lót vỉ sắt, đổ bê-tông đá làm chân cao 2 tấc.

-          Tổng cộng chiều dài bờ kè là 140 mét với mặt trước là 100 mét và hai bên cánh mỗi bên 20 mét.

-          Vật liệu là đá hộc (đá lớn) và hồ bê-tông.

-          Cách 3 mét sẽ có một cây cột bê tông 2 tấc vuông.

-          Đầu trên bờ kè sẽ có đà kiềng 2 tấc vuông chạy dài 140 mét.

-          Chi phí dự trù cho mỗi mét tới là một triệu hai trăm ngàn đồng, chưa tính tiền công xây và đất lấp đầy sân sau khi hoàn tất.

Khi giấy phép đã có, Hội Thánh cũng chưa có tiền, nhưng Đức Chúa Trời đã thi hành phép lạ. Vợ chồng tôi có một người con nuôi, năm 1989, khi tôi ra Vũng tàu thì biết hoàn cảnh gia đình cháu rất nghèo, mẹ của cháu phải bán từng miếng đậu hũ để nuôi hai anh em cháu đi học. Chúa cho cháu học rất giỏi, con cái Chúa trong Hội Thánh tại Vũng tàu rất yêu thương mẹ con của cháu, vì cả ba mẹ con rất yêu mến Chúa. Năm ấy, điểm tốt nghiệp qui định tối đa là 40 điểm, thì cháu đã đạt 37 điểm. Khi tốt nghiệp cấp 3 xong, cháu viết thư cho tôi nói rằng: "Mục sư ơi, con phải nghỉ học để đi phụ đẩy xe ba-gác chở thuê kiếm tiền giúp mẹ nuôi em con đi học". Tôi không cho, đưa cháu vào Sàigòn ở với gia đình chúng tôi để cháu tiếp tục đi học. Lúc bấy giờ hoản cảnh gia đình chúng tôi cũng hết sức ngặt nghèo, thiếu thốn, nhưng chúng tôi quyết tâm giúp cháu đi học. Cháu xin đi học Anh văn. Học được một năm, cháu xin đi làm và từ đó cháu có tiền nuôi mẹ, giúp em.

Năm 2000, cháu làm Giám đốc một Công ty tư nhân của Hàn quốc, cháu có một người bạn tên TIM - một thanh niên người Mỹ. Cháu đưa bạn TIM xuống thăm Hội Thánh tại Đông Phú. Vừa từ ghe bước lên bờ, Tim đã chỉ bờ sông đang bị xói mòn hỏi anh em trong Ban Chấp sự: "Tại sao không lo làm chỗ nầy? Anh em Ban Chấp sự trình bày xong, Tin lập tức nói anh sẽ dâng 80 triệu đồng Việt-nam. Tuần sau, anh bắt đầu gởi dâng trước 7 triệu, hối thúc chúng tôi khởi công. Ai nấy trong Hội Thánh nức lòng cảm tạ Chúa và cùng nhau bắt tay hô hào lạc quyên trong Hội Thánh xây bờ kè.

Vì không biết cách xây, nên chúng tôi được một con cái Chúa thuộc Hội Thánh tại Thành Lợi (Vĩnh long) giới thiệu hai ông cụ già - theo lời giới thiệu là chuyên môn xây bờ kè - với giá  tiền công là 160 ngàn đồng một mét tới, nhưng chỉ là chỉ huy thôi, còn tất cả mọi việc từ trộn hồ, khiêng đá, … con cái Chúa trong Hội Thánh phải làm hết. Hai ông cụ thợ chỉ đứng cầm bay chỉ viên đá nầy cho người ôm đặt xuống, không vừa, anh em phải vác lên đổi viên khác. Qua một uần lễ, tất cả anh em quyết định không mướn thợ nữa, anh em tình nguyện tự làm, vì nhận thấy không có gì khó phần kỹ thuật, và cũng để không tốn tiền công trong lúc Hội Thánh quá eo hẹp tài chánh.

Tuần lễ thứ hai, anh Tim gởi thêm 7 triệu, rồi tuần thứ ba thêm 7 triệu rưỡi. Đột nhiên anh Tim về nước và không còn tin tức gì nữa. Tôi và cả Hội Thánh ngỡ ngàng không biết phải làm sao. Hội Thánh càng nổ lực cầu nguyện thiết tha hơn trước bài học "đừng nhờ cậy loài người là loài có hơi thở ở lỗ mũi" - Êsai 2:22. Chúa đã làm phép lạ tiếp trợ từng hồi từng lúc. Bây giờ các bạn chúng tôi từ gần xa được Chúa cảm động dâng góp về, những số tiền mà chúng tôi không biết từ đâu, có khi không biết ai dâng, nhưng Chúa biết và chúng tôi cúi đầu tạ ơn Chúa xin Chúa ban lại mọi ơn lành cho những ân nhân đó.

Có lần, tôi được hai tin vui cùng một lúc. Tin thứ nhất từ các Mục sư tại Cần thơ cho hay rằng một phái đoàn Hội Thánh Hàn quốc tại Việt-nam sẽ từ Sàigòn xuống thăm Hội Thánh tại Đông Phú, do Mục sư Trần Bá Thành là Trưởng Ban Kiến Thiết Tổng Liên Hội hướng dẫn. Tin tức còn nói rõ là khi nào xuống là tiền giúp, phái đoàn khoảng 20 người, yêu cầu đãi ăn trưa 'kha khá' một chút. Tin vui thứ hai là bạn tôi, một Trưởng lão người Hàn quốc vừa đến Sàigòn liên lạc muốn gặp hai Chấp sự - nói rõ là HAI Chấp Sự - tại Đông Phú, tôi nghĩ rằng ông bạn tôi muốn giúp đỡ cho Hội Thánh theo thư của tôi đã gởi trước qua Hàn quốc. Một điều đặc biệt là cả hai tin tức cho biết sẽ diễn ra trong cùng một ngày Thứ Năm trong tuần đó. Tôi phải mau lẹ sắp xếp hai Chấp sự lên Sàigòn gặp bạn của tôi, đồng thời sắp xếp các Chấp sự còn lại có mặt đầy đủ tại nhà thờ để tiếp phái đoàn đến thăm, chuẩn bị sơ đồ xây dựng bờ kè, bảng chiết tính…

Chờ đợi đến 2 giờ chiều, hai Chấp sự từ Đông Phú lên từ sáng sớm gặp người bạn Hàn quốc tại Khách sạn trở về với vẻ mặt buồn rầu thất vọng, cho tôi biết là ông bạn ấy chỉ muốn xin hai tấm hình nhà thờ để có dịp cổ động mà thôi. Tiếp theo sau đó, tôi điện thoại xuống nhà thờ tại Đông Phú hỏi tin Phái đoàn, thì được biết phái đoàn chỉ đến thăm và đã về không giúp gì cả, cũng không cho lại tiền đãi ăn bữa trưa. Thật 'đã nghèo còn mắc cái eo!' Lòng tôi chùng xuống, không biết tại sao như vậy, chúng tôi cứ nghĩ không nhiều thì ít, phái đoàn hoặc người bạn đó, không bên nầy cũng bên kia, sẽ dâng giúp chút gì cho công việc xây bờ kè nặng nhọc trước mắt họ, thế mà tất cả chỉ là con số KHÔNG, còn tốn tiền đãi ăn, tốn tiền và tốn công sức xe lên Sàigòn. Tôi gác điện thoại, Nhà tôi hỏi: "Sao rồi anh?" Tôi trả lời bâng quơ: "Trớt quớt rồi". Ngay khi ấy Nhà tôi nói: "Nhưng mà anh có tiền”" Tôi trố mắt hỏi: "Ở đâu?" Nhà tôi trả lời: "Kiều Phương (dâu thứ hai của chúng tôi) có một người bạn tên là Dung, điện thoại từ Hà-nội vào cho biết cô có một số tiền muốn dâng cho công việc Chúa, không biết dâng ở đâu. Kiều Phương đã đề nghị dâng giúp việc xây bờ kè của Hội Thánh tại Đông Phú, và cô Dung đã gởi dâng". Tôi lập tức hỏi: "Bao nhiêu?" Câu trả lời của Nhà tôi là '500 đô-la'. Tôi còn nói gì hơn là Ha-lê-lu-gia, cảm tạ Chúa! Công việc Chúa lại được tiếp tục.

Tôi được tin từ Đông Phú báo lên là tuần nầy hết đá hộc để xây, mà cũng hết tiền để mua. Nếu có đá và ít tiền mua xi-măng để xây lên khỏi mặt nước, lúc đó ngưng lại cũng được, vì không còn lệ thuộc con nước nữa. Đến ngày thứ bảy, vợ chồng tôi xuống Đông Phú với một số tiền nhỏ. Anh em trình bày với tôi là nếu thứ hai chạy ghe của anh tín đồ đi Long Xuyên mua đá như thường lệ thì thứ tư mới về, như vậy thứ năm mới làm tiếp được; nếu như vậy thì bị trễ con nước. Trễ con nước tuần nầy thì tuần sau sẽ bị nước lớn. Chúng tôi không còn cách gì hơn là 'Cầu nguyện', trong lúc ấy lòng tôi thấy mệt mỏi vì sự bất năng của mình.

Có một người nào đó đã nói: Khi con người bất năng thì Đức Chúa Trời toàn năng. Sáng Chúa nhật, sau khi quét dọn nhà thờ, khuông viên chung quanh, dọn dẹp các phòng cho những lớp Trường Chúa nhật, tôi đứng trước cửa nhà thờ nhìn ra ngoài sông, tôi chợt thấy một chiếc ghe lớn không biết chở hàng gì mà ghe thì khẩm lắm đang đậu ngay bến nhà thờ. Vài con cái Chúa đứng gần nói: Ghe chở cát. Đột nhiên tôi thấy có một phụ nữ từ trên ghe đó xuống chiếc xuồng nhỏ bơi vào bờ hướng nhà thờ. Hóa ra chị ấy vào hỏi mượn điện thoại của Hội Thánh để gọi về chủ ở Long Xuyên báo tin là ghe đi lạc, thay vì chở hàng đi Trà ôn, lại đi lạc xuống hướng nầy (Đáng lẽ ghe đi Trà ôn thì băng ngang sông lớn phía trên nhà thờ độ hai hoặc ba cây số). Tôi hỏi chị ấy ghe chở hàng gì, thì chị đáp: "Dạ, GHE CHỞ ĐÁ HỘC!" Một sự ngạc nhiên quá đỗi đến với chúng tôi, tôi hỏi tiếp:"Bây giờ ghe đi lạc, mà nhà thờ muốn mua ghe đá đó, chị có bán không? Chị bảo muốn bán, nhưng phải để chị hỏi ý kiến của chủ đá, vì chị chỉ là người chở mướn. Tôi cho người ra ngoài ghe xem đá có tốt không thì được biết đó là 'đá xanh, TỐT LẮM!'. Chúng tôi mua được ghe đá đó với những điều cảm tạ Chúa:

1.      Chúa cho chiếc ghe đó đi lạc, chỉ cần ghe đâm thẳng qua sông là đến nơi họ phải đến, là Trà ôn, nhưng Chúa làm cho họ đi lạc đường hướng về nhà thờ.

2.      Chúa làm cho ghe đó không ngừng ở dưới cũng không ngừng ở trên, mà ngừng ngay trước bến nhà thờ, nhờ đó mà chúng tôi biết được để mua.

3.      Nếu mướn ghe tín đồ như từ trước đến nay thì phải hai ghe đá mới đủ, vì ghe của tín đồ nhỏ hơn nhiều, cảm ơn Chúa cho ghe đá này lớn gấp đôi - trên 30 tấn đá.

4.      Giá tiền lại được rẻ hơn đến 150 ngàn đồng. Tôi dùng số tiền lợi ra đó mua thức ăn bồi dưỡng cho các con cái Chúa dâng công mấy ngày sau đó.

5.      Nếu mướn ghe tín đồ đi mua thì giữa tuần mới có đá về, chúng tôi sẽ bị trễ con nước. Bây giờ Chúa cho ghe đến để chúng tôi có thể tiếp tục vào sáng thứ hai ngay. Cảm ơn Chúa hơn nữa là vì ngay Chúa nhật, nên sau giờ thờ phượng Chúa, các con cái Chúa hiệp lại giúp chuyền đá lên bờ, khỏi phải đi mời gọi. Tội nghiệp các em Thiếu Niên, dù tuổi Thiếu niên, nhưng do thiếu dinh dưỡng nên đa phần các em đều nhỏ con, ốm yếu, có lẽ các em còn nhẹ hơn những tảng đá hộc đó nữa là khác, nhưng các em cũng ráng sức hai chân đứng nhún nhẩy trên tấm ván bắc làm cầu nối từ ghe lên bờ, các em ễn bụng ra chịu để chuyển từng tảng đá. Tôi cứ lo trong lòng sợ các em chịu không nổi sức nặng sẽ có tai nạn xảy ra. Cảm ơn Chúa từ 5 giờ chiều đến 10 giờ tối thì chuyển hoàn tất hơn 30 tấn đá hộc lên bờ. Thật cảm tạ Chúa, không thể nào tưởng tượng được !

Ha-lê-lu-gia ! Trên núi của Đức Giê-hô-va có sắm sẵn!  Sáng thế ký 22:14.

Phép lạ nữa đã xảy ra. Việc xây bờ kè phải xây theo con nước, hễ nước ròng thì làm, nước lớn thì nghỉ, bất kể ngày hay đêm, khuya hay sớm, mưa hay nắng. Có ngày phải bắt đầu từ giữa trưa; có ngày bắt đầu làm từ 10 giờ khuya; có lúc bắt đầu làm lúc 2 giờ sáng. Những khi cần làm khuya, các con cái Chúa đến sớm thì ngủ trong các phòng học, đến khuya chúng tôi phải đi kêu từng người thức dậy. Thât cảm động biết bao nhiêu, ban ngày các con cái Chúa phải đi làm vườn làm ruộng cực nhọc, bây giờ dâng công làm bờ kè, nửa khuya không được ngủ nghỉ, phải thức dậy, mắt nhắm mắt mở, lao mình vào công việc. Làm ban ngày thì nắng đến phỏng da; làm ban đêm thì ngoài việc dơ dáy bởi sình lầy, còn phải lo đến muỗi chích. Muỗi nhiều đến nỗi quơ tay cũng bắt được vài con, vì những lùm cây âm u dọc bờ sông từ trước tới nay là nơi muỗi sinh sản, bây giờ bị phá, nên chúng bay đầy dẫy.

Tội nghiệp con cái Chúa, ngày nào dù ngày hay đêm, cũng tập hợp từ 30 đến 50 người hơn, các cụ già thì lượm đá nhỏ để riêng dùng chèn vào những khe hở; các anh em Tráng niên  thanh niên thì người xây, người khiêng đá, người trộn hồ bê-tông rất nặng nhọc. Các em thiếu niên và cả thiếu nhi nữa thay nhau gánh hồ, xách nước; còn các bà thì lo nấu ăn, nấu nước, đi xin thức ăn từ các con cái Chúa đem tới bồi dưỡng cho anh em.

Những buổi tối nhiều muỗi quá, các bà còn phải lo kiếm xơ dừa khô đem đến để un khói đuổi muỗi. Mấy hôm, tôi thấy khói thì đỡ muỗi, nhưng các anh em làm mệt bị khói nên không đủ không khí thở, được cái nầy mất cái kia. Trưa hôm sau, tôi nằm nghỉ để chuẩn bị cho buổi làm 8 giờ tối, lòng băn khoăn nghĩ đến nan đề 'muỗi' Tôi chợt nhớ đến Môi-se đã đuổi muỗi trong sách Xuất Ê-díp-tô. Tôi ngồi bật dậy cầu nguyện: "Chúa ơi, con cái Chúa làm công việc Chúa cực khổ quá, mà muỗi lại quá nhiều. Con nhớ đến Chúa đã nhậm lời Môi-se đuổi muỗi đi. Bây giờ con nhơn danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Môi-se truyền cho những con muỗi tối nay không còn đến làm hại con cái Chúa nữa. Nhơn danh Chúa Jêsus Christ - Amen". Tôi nằm xuống và hát bài 'Con tin có Chúa đang ngự giữa đây. Con tin có Chúa đang ở với con.'

Buổi làm tối bắt đầu lúc 8 giờ như đã thông báo, các bà đem những rỗ xơ dừa ra sẵn, gió hanh nhẹ mát, bầu trời trong xanh cao vút, trăng hơi mờ mờ, ai nấy hăng hái làm công tác. Một phép lạ ! Một phép lạ xảy ra ! không có một con muỗi nào đến cả. Ngày mai cũng không thấy. Không có miếng xơ dừa nào cần đốt lên. Ha-lê-lu-gia ! Đức Chúa Trời tôi vẫn còn làm phép lạ đuổi muỗi! Không thể lý giải cách nào khác hơn là Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu nguyện và đã làm phép lạ.

Sự cực khổ của công tác xây bờ kè không thể nào tả cho hết được, vừa sình lầy, vừa bị xi-măng ăn chân tay chảy máu, vừa bị nắng làm dộp da mặt, da lưng, những bàn tay bàn chân bị nước sình ăn lở. Có đêm đã làm suốt đến bao xi-măng thứ 21, ai nấy buông ra đều rã rời, một thanh niên đang nằm sải tay trên đống đá hỏi tôi: "Mục sư ơi, ngày mai có làm nữa không ?" Tôi trả lời: "Bây giờ hết xi-măng rồi. Con cầu nguyện xin Chúa cho ngày mai có xi-măng mình mới làm tiếp được". Thật bất ngờ, thanh niên đó vừa thở mệt nhọc vừa nói: "Con không dám cầu nguyện đâu. Mệt quá rồi Mục sư ơi!".

Thật sự con cái Chúa không cho tôi làm gì cả, họ nói chỉ cần tôi có mặt là vui rồi. Khi tôi về Sàigòn, mỗi ngày anh Chấp Sự Phan Tấn Sĩ phụ trách kiến thiết đều gọi điện thoại lên báo cho tôi biết công việc như thế nào. Hôm nào nghe tin anh em hơi vắng, tôi lại phải vội vàng xuống, dù chưa tới ngày phải đi. Cảm ơn Chúa cho con cái Chúa yêu thương chức vụ chúng tôi, nghe tin tôi xuống, không ai bảo ai cùng nhau trỗi dậy tham gia làm đông đủ. Tôi chỉ đi tới chỗ nầy nói mấy câu, lại đàng kia hô theo anh em: Hồ đâu? hoặc Đá đâu? hoặc Nước đâu?. Tôi đi theo rồi thỉnh thoảng anh em chộp được con cá bóng dừa nào núp dưới khe đá lại tặng cho tôi, thế là một tràng cười vui nổi lên.

Giờ đây ngồi viết những dòng chữ nầy, nước mắt tôi phải chảy vì thương con cái Chúa quá cực khổ hi sinh cho công việc Chúa, áo quần rách rưới vì đá, vì xi -măng, vì sình. Có hôm Nhà tôi tìm mua những bộ quần áo loại dầy của lính ngoài chợ Bà Chiểu (Sàigòn) đem xuống cho anh em mặc làm công tác xây bờ kè. Có lúc Chúa cho chúng tôi mua được ít cà-phê, hoặc dành dụm tiền nhờ các bà mua mì gói, hoặc nấu nồi cháo lòng bồi dưỡng giấc khuya. Tôi không làm gì cực nhọc, mà thức khuya hai ba giờ sáng đã thấy trong người đờ đẫn, huống chi con cái Chúa già, trẻ, nam, nữ, dầm mưa dãi nắng, tất cả chỉ vì lòng yêu mến Chúa và yêu mến Nhà Chúa, chắc chắn cũng vì yêu thương chức vụ của chúng tôi.

Tôi không thể nào kể hết những cực khổ suốt ba tháng dài ngày đêm trong công tác xây bờ kè bảo vệ cơ sở Nhà Chúa. Nhưng tôi tin chắc trong lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt-nam, chỉ có Hội Thánh tại Đông Phú làm được kỳ tích nầy, tất cả từ công sức của toàn thể con cái Chúa, không ai đứng ngoài. Hội Thánh cũng không được giúp đỡ từ một nguồn tài chánh chính thức nào, dù đã gởi đi rất nhiều thư cầu cứu. Trong khi đó Chúa dùng những con cái Chúa là những người biết sơ qua Đông Phú, thậm chí có rất nhiều ân nhân chưa hề biết Đông Phú là nơi nào. Ngoài ra, các con cái Chúa trong Hội Thánh tại Đông Phú dù nghèo nhưng cũng hết lòng dâng góp hằng tuần giống như mụ góa dâng hai đồng tiền ăn một phần tư xu. Lòng tôi xiết bao cảm tạ Chúa vì sự ngay lành trung tín của Ban Chấp Sự Hội Thánh, họ đã sử dụng trọn vẹn những khoản tiền mà Chúa cho các con cái Chúa xa gần dâng hiến, không một người nào dám tính công sức của mình, những số dâng của người ở xa lại làm cớ khích lệ người ở trong Hội Thánh dâng nhiều hơn số họ có.

Ngày Hội Thánh làm Lễ Cảm Tạ Chúa về việc hoàn thành bờ kè, các con cái Chúa đã đứng lên làm chứng với niềm vui trong nước mắt. Ông Sử Kim Gương thường gọi là Sáu Gương, là một tín đồ lâu năm trong Hội Thánh đã đứng lên làm chứng rằng khi nghe Ban Chấp Sự kêu gọi xây bờ kè, thì ông tự nhũ: Tụi trẻ nầy có làm rồi cũng bỏ dở như đời của ông còn làm Chấp sự. Tiền không có mà làm. Nhưng cũng chính ông bà Sáu Gương là người dâng một triệu đồng tức là một thước bờ kè đầu tiên cho việc xây bờ kè và các con của ông bà đã góp phần đắc lực. Bây giờ ông đứng lên trong buổi Lễ Cảm Tạ Chúa theo lời ông nói là để ông xưng tội với Chúa khi thấy Chúa cho bờ kè hoàn thành cách vinh hiển Danh Chúa. Một cặp vợ chồng tín đồ ở Sàigòn đã dâng 10 triệu cho việc xây dựng bờ kè, là một trong vài người mà Hội Thánh mời đến dự Lễ Cảm Tạ Chúa, ngồi nghe làm chứng, đến khi Ban Xây Dựng kêu gọi con cái Chúa dâng tiền để mướn xáng cạp đất đổ vào những nơi đã bị xói lở, chi phí dự trù lên đến 16 triệu, thật là quá cảm động, hai vợ chồng đã xin tôi cho lên nói mấy lời, không ngờ mấy lời nói đó là vợ chồng công bố quyết định dâng trọn 16 triệu đổ đất. Ha-lê-lu-gia! Đức Giê-hô-va Di-rê! Giê-hô-va Di-rê! Đất đã được đổ lên, Hội Thánh có một khoảng sân rộng mênh mông.

Chúng tôi và Hội Thánh thật đã sống những ngày trời trên đất. Suốt ba tháng trường cực khổ, làm những việc nặng nhọc, thế mà Chúa cho tất cả mọi người bình an, không một tai nạn nào xảy ra; không một tranh cãi nào có mặt, hết thảy đồng một lòng hiệp một ý cùng nhau. Đặc biệt là với một số lượng người làm việc ngay cả giữa đêm khuya ồn ào, náo nhiệt, Chúa cho Chánh quyền cũng như dân chúng chung quanh chẳng ai làm khó dễ chi cả.

Tôi ghi những lời nầy để nhắc đến công khó của anh TIM và con nuôi của tôi là Phan Ngọc Danh đã dẫn anh Tim đến với công việc Chúa tại Đông Phú, ngoài bờ kè anh Tim và Danh còn giúp một số công tác khác nữa. Bây giờ không biết anh Tim ở đâu, dù anh không dâng đủ 80 triệu như đã hứa, nhưng Chúa đã dùng anh phát pháo khai thành, khiến chúng tôi 'leo lưng cọp' rồi bắt buộc chúng tôi phải cỡi cho đến cuối cùng. Chúa đã dự bị con nuôi của chúng tôi, dù phải đợi 10 năm sau từ 1989 đến giờ phút có cần.

Lần lần Chúa cho Hội Thánh mua được hai chiếc vỏ lãi và một ghe lớn để chở tín đồ đi nhà thờ. Tất cả các phòng học Kinh Thánh được Chúa cho xây lại kiên cố, lót gạch men, mái tole, sườn sắt, các em học Kinh Thánh Hè không còn cảnh nằm trên nền gạch ẩm ướt hay trên những tấm ván tạm giữa gian nhà lá trống trước hở sau.

Nhớ lại những ngày đầu chứng kiến việc tổ chức Khóa Kinh Thánh Mùa Hè của Hội Thánh tại Đông Phú, tôi thấy con cái Chúa là người phụ trách cũng như các Thiếu nhi học viên cũng quá ư là cực khổ:

*  Chỗ ngủ của các em thiếu nhi học viên: Vì nền phòng học là đất, nên suốt bao năm qua, cứ đến khi Khóa học bắt đầu thì các anh em phải đi mượn những bộ ván ngựa của tín đồ rồi kê trên những viên gạch làm giường ngủ cho các em. Đi mượn đã vất vả rồi, mà khi đi trả lại càng vất vả hơn, vì lúc đó ai cũng mệt đừ cả rồi.

*  Chỗ ăn: Nhà bếp là một nơi nền đất, mái lá, bếp lò là những viên gạch kê lên, chụm củi mà củi là những cây tạp mua hoặc xin được, kiếm được, vừa khói vừa bụi tro bay đầy. Các bà phụ trách nấu ăn luôn bị viêm mắt, viêm mũi, thật tội nghiệp, mà nào có dám than thở gì đâu. Các em thiếu nhi học viên ngồi quanh những băng ghế dài để ăn. Món ăn buổi sáng là cháu loãng với nửa ký thịt băm cho bảy, tám chục em; buổi trưa và chiều là dưa mắm với canh rau hay khoai, … phần nhiều do các con cái Chúa trong Hội Thánh dâng góp vào. Tiêu chuẩn một ngày ăn của các học viên thiếu nhi nầy đến năm 2003 là 3,000 đồng Việt-nam (chưa tới 2 cent). Do đó Ban Nhà Bếp phải tính toán thật kỹ, ngoài số gạo của con cái Chúa dâng.

Tội nghiệp các em ăn uống thiếu thốn, trong khi các em thuộc các Hội Thánh vùng Sàigòn hoặc các tỉnh lớn được tiêu chuẩn là 15 ngàn đồng một ngày, còn được đi dã ngoại vui chơi. Nhưng nhìn các em ăn cách ngon lành, tôi biết ở nhà một số em cũng không được ăn 'ngon' như vậy. Có lúc tôi cho mua mì gói cho các em ăn sáng, các con cái Chúa đi mua cũng không dám mua loại mì trung bình (mì Hảo Hảo gì đó), họ chỉ dám mua loại dở nhất là loại 100 gói giá 65 ngàn đồng. Vậy mà các em ăn ngon lành, nhiều em còn ăn một gói không đã, ăn hai hoặc ba gói, có khi còn giấu riêng trong áo định đem về.

Những lúc Khóa học hết gạo hay hết thức ăn, Ban Nhà Bếp lấy ghe chở tôi đi đến nhà tín đồ - nói cho lịch sự là đi vận động, nói theo nghĩa đen là 'Đi Xin' gạo, xin thức ăn. Cảm ơn Chúa, mỗi lần như vậy, các con cái Chúa thấy tôi đến không cần tôi nói một tiếng nào, tự động xúc gạo đem ra, hoặc nhảy xuống ao bắt cá, hoặc bẻ đu đủ… bất cứ món gì mà anh em có được, vác xuống ghe cách nhiệt tình, vui vẻ, vậy mà chắc lưỡi hít hà: "Tôi nghiệp ông bà Mục sư! Tội nghiệp ông bà Mục sư ! Thật thắm tình thắm nghĩa trong Chúa.

* Các em phải ăn ở nội trú trong khuôn viên nhà thờ suốt hai tuần học, với số lượng năm 1998 là 80, lần lần tăng thêm, đến năm 2002 là 250 học viên gồm thanh niên, thiếu niên, thiếu nhi, ấu nhi. Chúng tôi cho nhận các em từ 5 tuổi trở lên, kể cả những em không biết chữ. Vì vậy, các Giáo viên vừa lo dạy Kinh Thánh, vừa kiêm luôn vú nuôi, phải lo cho các em tắm, giặt, giúp các em vệ sinh cá nhân.

Năm 1999, các em học viên phải tắm dưới sông. Nếu nước buổi chiều là giờ tắm giặt là nước lớn thì rất tốt; nếu nước ròng thì thật là một thảm họa, vì các em vừa tắm vừa vui chơi, quậy nước sình nổi lên. Khi tắm xong, tôi nói với các em là không tắm các em còn sạch hơn. Cảm ơn Chúa cho Hội Thánh Báp-tít Greensboro (Hoa Kỳ) do Mục sư Võ Đức Hòa cổ động giúp chúng tôi khoan một giếng nước cho Hội Thánh và từ đó, các em sạch sẽ trong sự tắm giặt, nấu ăn, kể cả nước uống.

*  Việc học Lời Chúa của các em: Trong những Khóa Kinh Thánh Hè như vậy, Hội Thánh phải nhờ người ở các Hội Thánh lân cận đến dạy, hầu hết dạy theo lối đọc Chính tả, các em chỉ có việc là ngồi chép lại nguyên văn. Chương trình học không có giờ nào vui chơi, giải trí, không có giờ cho các em vận động tay chân gì cả. Sau một lần nhìn thấy cách dạy như vậy. Chúng tôi lên chương trình đào tạo thanh niên trong Hội Thánh đứng ra dạy cho các em Thiếu nhi, trong đó có các con cái Chúa là các Giáo viên dạy văn hóa ở ngoài. Tôi không cho các giáo viên dạy theo cách đọc chính tả, Nhà tôi tập cho các giáo viên dạy bằng thị cụ, hướng dẫn các em hát, chơi trò chơi, làm thủ công… Cảm ơn Chúa, lần lần các giáo viên nội bộ mới nầy đảm nhận tất cả các lớp học Kinh Thánh vào Chúa nhật, Kinh Thánh Hè. Mỗi tháng, mỗi kỳ, hoặc mỗi Khóa, chúng tôi mướn người Photocopy tài liệu đem xuống, Nhà tôi hướng dẫn các Giáo viên sử dụng trước, thực tập dạy trước. Ai nấy rất vui và rất hiệu quả, đến nỗi chúng tôi có trên 200 thiếu nhi nhóm lại mỗi Chúa nhật.

Niềm vui của chúng tôi là các em Thiếu nhi biết lễ phép chào hỏi chúng tôi. Những lần con cái Chúa chở chúng tôi đi thăm viếng, các em ngồi trên xuồng hay đứng trên bờ nhìn thấy, đều lớn tiếng chào: "Chào ông bà Mục sư!". Chúng tôi đi giảng 'chui' mà các em la lên báo cáo rền như vậy, hóa ra 'Lạy ông, tôi ở bụi nầy'. Thật Chúa đã được ngợi khen bởi miệng con trẻ và con đương bú.

Mỗi năm chúng tôi cho tổ chức Lễ Tổng Kết Năm Học, mục đích là để khuyến khích các con em trong Hội Thánh đi học, vì tôi thấy đặc tánh của người dân Nam Bộ ở vùng quê vùng xa, không chú trọng việc học của con em, cứ con gái đến mười sáu mười bảy là tìm cách mai mối gả đi; còn con trai học đến lớp 10, lớp 11, hoặc nhiều lắm là đến 12, thay vì khuyến khích học tiếp, thì cha mẹ bắt đầu dọ ý cưới vợ cho con.

Để phá bỏ hủ tục đó, tôi phải hô hào cổ động các em đi học. Muốn các em đi học thì chúng tôi phải tìm cách giúp các em phương tiện đi học như: quần áo, tập viết, kể cả tiền đóng học phí đầu năm học. Đó là mục đích tổ chức Lễ Tổng Kết Học sinh trong Hội Thánh, tất cả các em có đi học đều được phát tập, viết, các em nghèo thì được giúp quần áo, giúp tiền đóng học phí; các em học giỏi, tiên tiến, thì được thưởng thêm. Tôi cũng tìm cách giúp các em học thêm Hè, giúp các em nữa ăn trưa khi Trường dạy phụ đạo buổi chiều. Năm 2002, để khuyến khích các em thi Đại Học, tôi hứa với các em tốt nghiệp lớp 12 trong Hội Thánh tại Đông Phú: em nào thi đậu Đại Học, tôi sẽ thuê nhà cho các em ở trọ đi học, giúp tiền cơm ăn đi học. Một lần nữa giống như ở Hội Thánh tại Xã lộ 25, các em đều thi rớt! Dù vậy, Chúa cho cha mẹ các em và chính các em ý thức vấn đề học cho tương lai và cho tinh thần hầu việc Chúa, nên đã có những cố gắng tự vươn lên sau nầy.

Làm sao tôi có tiền để lo công việc Chúa ? Thật sự Hội Thánh tại Đông Phú đã có lòng quan tâm lo cho chúng tôi, ngoài số tiền hằng tháng gởi đến làm lộ phí - nếu vợ chồng tôi đi hai lần một tháng thì huề vốn tiền xe; nếu đi ba hoặc bốn lần một tháng thì lỗ tiền nhà, việc ăn uống của chúng tôi khi ở Đông Phú, Hội Thánh lo cả. Cảm ơn Chúa, thỉnh thoảng có ai đó gởi đến 50 hoặc 100 USD, rồi các con tôi lấy tiền dâng phần mười giúp tôi lo công việc Chúa không phải chỉ ở Đông Phú, mà còn ở những nơi nào tôi biết và muốn giúp. Chúa cũng cho tôi viết bài hoặc dịch sách để có tiền. Có những lúc vì phải cố gắng thức khuya, dậy sớm, để dịch hoặc viết cho xong bài, hay sách, tôi thường bị máu lên, có lúc đang ngồi bên máy Vi-tính, mắt nhìn bàn phím, nhưng ngón tay không theo trí óc điều khiển nữa, đầu bị choáng, tôi ngã ra bên giường mà không lên tiếng kêu ai được. Cảm ơn Chúa, rồi Chúa cũng đỡ tôi ngồi dậy, rồi nghĩ đến nét mặt các con cái Chúa vui, công việc Chúa được kết quả, đó là sức mới Chúa cho tôi khỏe lại.

 Có lần Mục sư Lê Khắc Hóa hỏi tôi: "Tôi hỏi thiệt ông, có Hội nào giúp ông không? Tôi trả lời là "Có" và chỉ tay lên trời - vì lúc đó chúng tôi đang đứng ngoài trời. Có người nói với tôi: "Đi hầu việc mấy chục năm mà không có vài chục cây vàng sao?" Tôi đã tập xài cho mình ít hơn, mà dâng cho Chúa nhiều hơn. Tôi thường trích hai câu thơ của một nhà thơ nào đó để nói lên tâm tình của chúng tôi:

Mở kho trời phân phát thương yêu,
Tự thấy mình giàu có biết bao nhiêu.


Tôi vẫn luôn học cho mình những lời của Sứ đồ Phaolô nói trong thư II Côrintô 6:10, … "Ngó như nghèo ngặt, mà thật làm cho nhiều người được giàu có; ngó như không có gì cả, mà có đủ mọi sự."

Tôi viết những lời nầy để nhớ đến lòng yêu thương của bác sĩ Phạm Úy Minh, Bác sĩ Trần văn Thanh, Y sĩ Đặng văn Ru ở Bịnh viện Hồng bàng (Phạm Ngọc Thạch), Y sĩ Hưng (Bịnh viện Bình dân), đã hết lòng giúp đỡ tôi khi những lần tôi bị máu lên, bị sạn thận.

Cảm ơn Chúa suốt gần 20 năm từ 1981 đến 1997, Chúa cho tôi được đến nhiều Hội Thánh dự phần với các Mục sư chủ tọa huấn luyện Chứng Đạo Chăm Sóc, nhưng khi Chúa đưa tôi đến lo công việc Chúa tại Đông Phú thì tất cả sách vỡ tôi đã học, cũng như bao nhiêu kinh nghiệm tôi có đều phải thay đổi hết. Lý do là tất cả các Phương pháp Chứng Đạo Chăm Sóc mà tôi đã từng biết đều là những Phương Pháp sử dụng trên đất liền, đi đường bộ. Còn địa phương Đông Phú là đường sông rạch, nhà không có số, không có tên đường, việc đến nhà thờ lại rất khó, nhất là ban đêm, nếu không nói là xa, phương tiện di chuyển phần lớn là ghe thuyền.

Đức Chúa Trời đã mở đường cho công việc Chúa. Nhờ vài anh chị em ở Sàigòn do Cô Truyền Đạo Diệp vận động giúp tài chánh, chúng tôi tổ chức 7 lớp học tình thương xóa mù tại 6 địa điểm khác nhau, nhà thờ là một điểm, còn năm điểm kia ở rải ra theo từng vị trí chiến lược. Người dạy là các con cái Chúa trong Hội Thánh cũng là Giáo viên dạy văn hóa trong các trường địa phương. Học sinh là những đứa trẻ nghèo không có điều kiện đi học vì quá nghèo, và cũng vì cha mẹ các em không quan tâm chăm sóc các em. Tất cả các em đều là những người chưa tin Chúa.

Tôi nhắc đến những lớp học tình thương nầy vì những kết quả kỳ diệu mà Chúa đã cho. Điển hình như lớp học tại khu vực nhà thờ, hầu hết các em là thuộc xóm nhà gọi là xóm 'Sếp', kế cận nhà thờ. Đây là xóm nhà chưa có người tin Chúa, đa số là dân tứ xứ về, đời sống cực khổ, họ thường bài bạc, say rượu, … Ba tháng đầu tiên, tôi ngã lòng lắm, vì các em rất hoang nghịch không có một chút lễ phép, nói ra thì thường chửi thề thô tục, do không ai dạy dỗ, quần áo rách rưới dơ bẩn, mình mẩy dường như không bao giờ tắm. Chúng tôi cho phát tập, viết cho các em, độ hai hoặc ba ngày sau, quyển tập chỉ còn vài tờ. Hỏi các em Tại sao? Các em trả lời: Tại Ba Má lấy vấn thuốc hút. Chúng tôi phải lo tập, viết, quần áo, anh chị em giáo viên trong Hội Thánh dạy học, buổi tối dạy Kinh Thánh cho các em.

Cảm ơn Chúa đã nhậm lời cầu nguyện ban thưởng cho sự nhẫn nại nhịn nhục của anh chị em giáo viên. Các em tin Chúa, đời sống lần lần đổi mới, biết ăn mặc sạch sẽ, biết giữ gìn tập, viết, ít nói tục, không còn đánh nhau nữa. Buổi tối không có đèn đường, các em thường thắp đuốc bằng lá dừa soi đường đến học Kinh Thánh.

Khi Chúa cho các em tin Chúa, chúng tôi bắt đầu tổ chức những buổi truyền giảng Tin Lành cho các phụ huynh lớp học tình thương. Các em được khuyến khích mời cha mẹ đến dự, các em hát trong giờ truyền giảng, các em lãnh quà lãnh thưởng. Có một em lãnh thưởng xong, vừa cầm tay mẹ đi ra vừa nói với mẹ: Con cầm gói bánh, má cầm gói quà của con cho vui, tôi tình cờ đi ngang qua, lòng tôi thật cảm động vì sự hiếu thảo của các em. Chúa thật đã làm phép lạ khi hầu hết các em trong các lớp Tình thương tin Chúa, mỗi Chúa nhật đều đi nhà thờ, và từ các em Chúa cho có hơn 80% phụ huynh của các em tin Chúa. Một lần, chúng tôi cùng Ban Trị Sự Hội Thánh đi bộ đến nhà một tín đồ mà chúng tôi đã giúp khoan giếng nước. Dọc theo đường đi là dãy nhà của Xóm Sếp, các em đang ngồi chơi lập tức đứng lên khoanh tay: Chào ông Mục sư, chào bà Mục sư! Cứ liên tiếp chào như vậy, cha mẹ các em cũng chào chúng tôi. Phép lạ đã xảy ra, rất nhiều gia đình trong khu vực Xóm Sếp nầy đã tin Chúa nhờ các em trong lớp học Tình thương. Điều vui mừng nữa là sau hai năm, tất cả các em biết đọc, biết viết, được các giáo viên Tin Lành đưa vào trường chánh thức. Mỗi chiều thứ bảy, các em lại ra nhà thờ để tiếp quét dọn sân nhà thờ cách vui vẻ thật thà.

Chương trình truyền giảng được đẩy mạnh qua những buổi thi đua mời Thân hữu đến nhà thờ, nên hầu như tuần nào cũng có người tin nhận Chúa. Các Ban Trung niên, Tráng niên, Thanh niên, Thiếu niên, cũng thi đua truyền giảng cho Ban mình.

Ban Phụ nữ được thành lập và nhóm lại mỗi thứ bảy đầu tháng. Ban đã dùng những ngày Phụ nữ 8-3, Ngày Lễ Mẫu Thân, để truyền giảng. Nhà tôi tổ chức cho Quý Bà tự học Kinh Thánh tại nhà, số bài học ban đầu chúng tôi cho photocopy là 30, rồi 50, rồi 70 và lên đến 100. Một tinh thần thi đua học Kinh Thánh giữa Ban Phụ Nữ khiến các ông cũng tham gia.

Những ngày Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus giáng sanh thật là cơ hội truyền giảng Tin Lành tốt nhất. Vào đêm 24 và 25, có cả ngàn thân hữu đến nhà thờ 'xem Lễ'. Rút kinh nghiệm một năm đầu tiên, tôi đưa ra những đề nghị:

1.      Hội Thánh thuê tàu đò từ 7 đến 10 chiếc, ngoài những phương tiện ghe, vỏ lãi của Hội Thánh và cá nhân tín đồ có, để đón và đưa các thân hữu dự Lễ Kỷ Niệm  Chúa Jêsus Giáng sanh.

2.      Động viên các con cái Chúa thi đua mời Thân hữu, chỉ dẫn thân hữu đến địa điểm tập trung và giờ tàu đò đến rước.

3.      Chuẩn bị Truyền Đạo đơn mỗi thứ 1,000 quyển, tôi cho photocopy Truyện Tích Chúa Jêsus giáng sanh bằng hình, in thiệp mời kèm theo thông báo giờ Lễ, những tiết mục tặng quà và đố vui Mừng Chúa Giáng sanh.

4.      Để giữ chân thân hữu ở lại suốt giờ Lễ, đêm 24 tôi cho Ban Tiếp Tân ghi danh Thân hữu đến nhà thờ bỏ vào Thùng Rút Thăm Tặng Quà Giáng Sanh. Sau giờ Lễ, chúng tôi cho rút thăm tặng mười phần quà gồm: áo sơ-mi, quạt để bàn, nguyên thùng mì gói loại trung bình,… cảm ơn Chúa, các thân hữu đã ở lại đầy đủ từ đầu đến cuối Lễ.

5.      Đêm 25, tôi chia bài giảng làm hai lần, mỗi lần 15 phút rồi kêu gọi thân hữu tiếp nhận Chúa. Xen vào hai lần giảng và kêu gọi là phần đố vui Giáng sanh theo nội dung những tài liệu đã phổ biến đêm 24, thi hát bài Thánh ca tập đầu giờ Lễ… Cũng với 10 phần quà như vậy, trung bình mỗi món quà không quá 50 ngàn đồng, nhưng Tin Lành đã được đến với hàng trăm Thân hữu cách rõ ràng, họ vui vẻ tiếp nhận Chúa trong và sau giờ Lễ. Sau đêm 24 và sáng 25, tôi thường dậy sớm xem xét khắp sân nhà thờ, cảm ơn Chúa không một ờ truyền đạo đơn nào bị bỏ lại, thân hữu đã đem về và tối 25, họ lại đem theo để tham gia Đố Vui Mừng Chúa Giáng Sanh. Ha-lê-lu-gia !

Mỗi Mùa Giáng sanh, Chúa cho Hội Thánh có trên dưới 100 người tin Chúa. Đêm 24 năm 2002, có 387 thân hữu ghi danh dự Lễ, ngồi trong nhà thờ, ngoài ra còn rất đông thân hữu không có chỗ ngồi đành đứng ngoài sân và không thể tham dự rút thăm tặng quà. Đêm 25 tháng 12 năm 2002, Chúa cho cũng chừng ấy thân hữu (385) ghi tên dự Lễ và tham dự Đố Vui Mừng Chúa Giáng Sanh.

Sáng 25 mỗi năm, Hội Thánh luôn có bữa ăn truyền thống vui vẻ, chúng tôi nhờ ơn Chúa lo cho các em Thiếu nhi đều có quà gồm bánh kẹo, đồ chơi bằng nhựa sản xuất tại Chợlớn. Những buổi tối Lễ, các Ban tự lo bồi dưỡng cho ban viên, còn chúng tôi lo cho các em thiếu nhi trong Ban hát Lễ ăn tối.

Đêm Thương Khó sẽ có Đêm Thức Canh Cầu nguyện sau giờ Lễ, kêu gọi con cái Chúa cầu nguyện thâu đêm.

Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Phục Sinh, tôi treo giải thưởng 100 phần ăn sáng cho 100 người đến nhà thờ sớm nhất. Tôi cũng tổ chức Thi Bánh Mứt Khéo, sau đó gom lại ăn chung trong ngày Lễ đặc biệt nầy, rồi phát thưởng thi đua truyền giảng.

Tết Âm lịch, tôi đề nghị con cái Chúa khi đến nhóm sẽ góp bánh tét, đồng thời để dự bị số người ở nhà không có bánh tét, chúng tôi lạc quyên nếp và tiền, thịt heo. Chiều 30 Tết, bánh tét sẽ được gói và nấu tại nhà thờ, rồi kho thịt, rồi làm dưa chua để ăn với thịt kho. Sáng Mùng Một, con cái Chúa nhóm lại làm chứng Tạ Ơn Chúa Đầu Năm Mới, sau đó cùng nhau ăn bữa chung bánh tét với thịt kho, dưa chua, cách vui vẻ thật thà. Tiệc xong là chia nhau từng Đoàn Thăm viếng Chúc Tết vui vẻ tất cả gia đình con cái Chúa trong ba ngày Tết.

Vì số tín đồ trên một ngàn người, nên việc dâng con được tổ chức sáu tháng một lần, nhơn đó dành làm Chúa nhật Thiếu Nhi trong Hội Thánh. Mỗi lần số dâng con lúc nào cũng trên 10 em bé, các Thiếu nhi phụ trách hát múa trong giờ thờ phượng, các Giáo viên giới thiệu hoạt động Thiếu nhi, tôi giảng về trách nhiệm đối với con em. Sau giờ Thờ phượng Chúa, sẽ có thì giờ cho Thiếu nhi sinh hoạt vui, ăn uống đến 3 giờ chiều.

Các Ban khác cũng thay nhau tổ chức Ngày của Ban mình: Ngày Trung Niên, Ngày Tráng Niên, Ngày Thanh niên, Ngày Thiếu Niên, hầu hết đều nhơn đó mời Thân hữu, mời các Ban trong các Hội Thánh lân cận đến tham dự. Rồi Chúa cho Hội Thánh thành lập Ban Cao Niên gồm các ông các bà trên 55 tuổi, cũng sinh hoạt hằng tuần với những tiết mục vui: Kể chuyện vui, Đố Kinh Thánh, tặng quà Sinh nhật và mỗi năm có ngày Bồi linh Cao Niên, các ông các bà làm chứng ơn Chúa, thi Kinh Thánh, thi Thánh ca, nghe giảng, con cháu tặng quà mừng cha mẹ, ông bà. Những ngày như vậy thắm ướt nước mắt người già – Người Già Cũng Khóc!

Một số con cái Chúa quá nghèo, các anh em trong Ban Trung niên, Tráng niên và Cao niên, đã hiệp lại công sức, dùng những cây bạch đàn sẵn có trong nhà thờ, lá lợp của con cái Chúa cho, đôi khi tôi cổ động giúp sườn nhà bằng sắt. Cảm ơn Chúa, dù là mái lá vách lá, kèo cột cong queo, nền đất, ít khi được lót gạch tàu loại phế phẩm, nhưng gia đình cũng như Hội Thánh tràn đầy tình yêu thương trong Chúa.

Có rất nhiều đời sống tin Chúa được đổi mới. Hội Thánh đã tăng từ 600, 700 lên trên một ngàn tín đồ. Ảnh hưởng của Chúa trong các Xã chung quanh rất mạnh, có những người chưa tin Chúa, khi có sự gì bất hòa với con cái Chúa, họ lại làm đơn thưa với Mục sư và Ban Trị Sự Hội Thánh. Những mâu thuẫn xảy ra trong tín đồ, cảm ơn Chúa cho con cái Chúa vâng phục quyết định của Mục sư và Ban Trị Sự Hội Thánh.

Trước sự phát triển của Hội Thánh, ma quỉ cũng tìm đủ cách để tấn công Hội Thánh, nhất là vào các Chương trình truyền giảng. Một số các con cái Chúa mời Thân hữu đến nghe giảng Tin Lành hoặc làm chứng về Chúa, đều bị Công An kêu lên cảnh cáo, hạch sách: Ai sai đi mời Thân hữu? Đi mời được bao nhiêu tiền? - Họ cố ý gài tín đồ trả lời là Mục sư Sơn sai đi, Mục sư trả tiền. Chính các Thân hữu cũng bị Công An kêu lên cảnh cáo, ngăn cản, hăm dọa: nếu theo Đạo thì sẽ bị phạt, bị tịch thu sổ nghèo. Họ không chỉ hăm dọa suông mà đã thi hành qua việc tịch thu sổ nghèo của tất cả tín đồ Tin Lành (Sổ Nghèo là sổ chứng nhận gia đình đó nghèo, khi Chánh quyền có sự cứu trợ nào thì gia đình đó được Chánh quyền giúp; con cái gia đình có Sổ Nghèo được miễn hoặc giảm học phí đầu năm…). Khi tịch thu Sổ Nghèo, họ còn tuyên bố: Theo Tin Lành thì để ông Mục sư Sơn lo! Trong những ngày giáo chức trong tỉnh hay Huyện học chính trị, họ đem Hội Thánh tại Đông Phú ra để nói, họ cho rằng tại nhà thờ ở Đông Phú, Mục sư Sơn đang tranh giành ảnh hưởng với Đảng và Nhà Nước. Họ kêu gọi Hội Thánh góp phần về Xã hội như tham gia Hội Khuyến Học, tôi cho Chấp sự đứng vào nhưng khi tôi cho tiền giúp Quỹ Khuyến Học thì họ nhân tiền mà không dám nêu tên tôi.

Chúng tôi cũng xin được một số Ân Nhân giúp khoan giếng nước, mỗi giếng hoàn chỉnh giá chi phí là 1 triệu 800 ngàn đồng, cho Trường học, cho khu dân nghèo, tôi cho ghi tên trên một Bảng Mica nhỏ dòng chữ: 'Hội Thánh Tin Lành tặng'.

Chúng tôi vận động Đoàn Y Bác Sĩ Tin Lành từ Sàigòn xuống phát thuốc, khám chữa bịnh. Hai lần trong hai năm. Hội Thánh xin phép đầy đủ, nhưng cũng bị làm khó đủ điều. Dù vậy, các Y Bác Sĩ là những con cái của Chúa đã nhịn nhục để làm công việc từ thiện đem vinh hiển cho Chúa. Mỗi lần số lượng người đến khám và chữa bịnh trên 500 người trong hai ngày. Các anh chị em Y Bác Sĩ đã làm việc hết lòng đến nỗi không có thì giờ để ăn uống, họ chịu cực trong điều kiện sinh hoạt vùng quê thiếu thốân. Chánh quyền đã không hổ trợ mà còn lo sợ chúng tôi lợi dụng 'tuyên truyền Đạo'. Tôi cho viết lên Bảng những dòng chữ thật to để nơi sân nhà thờ: 'Đoàn Y Bác Sĩ Tin Lành khám bịnh, phát thuốc miễn phí, không phân biệt người có Đạo hay không có Đạo, không có mục đích giảng Đạo. Ai muốn tìm hiểu Đạo thì vào trong nhà thờ.' Chúng tôi cứ cho lặp đi lặp lại trên loa phóng thanh như vậy và cho mở cửa nhà thờ để cá nhân chứng đạo. Cảm ơn Chúa, trong khi chờ đợi, bịnh nhân đã vào nhà thờ hỏi thăm về Chúa.

Sau hai lần trong hai năm làm như vậy, đến năm thứ ba thì họ không cho phép Đoàn đến nữa, họ gọi chúng tôi là 'Siêu Giảng Đạo', dù chúng tôi bằng lòng phát thuốc, khám bịnh ở khu vực Y Tế địa phương, hoặc bất cứ nơi nào Chánh quyền cho phép. Nhưng họ đòi hỏi phải bỏ hai chữ TIN LÀNH, thay vào đó là Đoàn Y Bác Sĩ Thành phố, chúng tôi không chịu. Cuối cùng chuyến công tác từ thiện thứ ba của Đoàn đến Đông Phú được chúng tôi hủy bỏ.

Sự khó khăn lên cao vào Lễ Kỷ Niệm Chúa Jêsus Giáng Sanh năm 2002. Một số đông Công An và viên chức Tỉnh, Huyện, Xã, đã họp lại và cương quyết không cho cá nhân tôi có mặt trong Lễ. Sau nhiều lần tranh đấu, tranh cãi, tôi đã đứng lên tuyên bố: "Tôi sẽ ra về ngay (lúc bấy giờ là 2 giờ chiều ngày 24 tháng 12 năm 2002) theo yêu cầu của Quý Vị. Nhưng Quý Vị phải chịu trách nhiệm với cả ngàn tín đồ và mấy ngàn đồng bào đến xem Lễ tối nay". Tôi nói xong bước ra về, lập tức họ đấu dịu là đồng ý tôi ở lại nhưng đừng giảng. Thật ra, rõ ràng Chúa đã cho tôi thấy sự khó khăn nầy suốt mấy tháng trước, từ những bắt bớ tín đồ, hăm dọa Thân Hữu và Tân tín hữu, qua những buổi học chính trị của giáo chức văn hóa trong Mùa Hè vừa qua. Đến nỗi họ dụ dỗ một tín đồ sau 7 năm sa ngã vừa trở lại ăn năn với Chúa, anh nầy làm nghề chạy xe ôm, yêu cầu anh nầy theo dõi khi nào Mục sư Sơn xuống Đông Phú thì báo cáo, và cho họ biết tôi giảng điều gì. Họ nói với anh ấy: "Mục sư Sơn giảng chính trị lắm". Anh tín đồ với lòng chân thật của người dân quê hỏi lại: "Tôi có thấy Mục sư nói gì về chính trị đâu, chỉ nói về Lời Chúa không hà". Họ giải thích: "Tại anh không biết, Mục sư Sơn giảng người ta theo rần rần, đó là chống lại Nhà Nước". Vì thấy những điểm bất thường đó, nên tôi đã làm bài giảng sẵn, chia ra cho ba Chấp sự chuẩn bị giảng thay tôi khi cần, còn đêm 25, tôi cho mời một Mục sư trong Tỉnh Cần thơ đến giảng. Cảm ơn Chúa, khi sự việc xảy ra như dự đoán, nhưng Chúa cho qua sự hiệp một của con cái Chúa trong Hội Thánh, những kết quả cũng đáng cảm tạ Chúa, vì trừ số người tin Chúa có giảm, nhưng tất cả mọi việc còn lại đều ổn định. Nói chung, tôi nhìn thấy các con cái Chúa đến Ban Chấp Sự rất vững vàng lo việc Chúa từ tổ chức đến cách chia sẽ Lời Chúa.

Sự bắt bớ càng lúc càng dâng cao, liên tục những tháng kế tiếp, Công An luôn xét nhà thờ, mục đích để lập Biên bản cư trú của tôi, dù tôi có xin phép tạm vắng nơi tôi ở trên Sàigòn. Tôi có cảm giác là sứ mạng Chúa giao cho vợ chồng tôi tại Đông Phú đã xong. Rõ ràng suốt từ 1997 đến cuối năm 2002, chức vụ của chúng tôi tại Đông Phú nói là 'chui' nhưng thật sự là rầm rộ công khai, xây dựng liên tục, tổ chức hết Lễ nầy đến Lễ khác, truyền đạo đơn phát về khắp nơi trong vùng, từ lớp học tình thương, đến cất nhà cho người nghèo, rồi số lượng người tin Chúa …, thế mà chẳng có gì ngăn trở, Chúa đã làm mù mắt những kẻ thù nghịch, ngay cả những lần tôi đối mặt công khai. Rồi nhìn lại tất cả những ước mơ từ lần đầu tiên đặt chân, bây giờ hầu như Chúa cho ước mơ thành sự thật hoàn toàn, từ cơ sở Nhà Chúa là nhà thờ, các dãy phòng học, tư thất mới, bờ kè, lại có cả vườn hoa của Hội Thánh; đến nền tảng hoạt động cho các Chấp Sự, các Ban Ngành; tín đồ gia tăng gần gấp đôi, con cái Chúa nhóm lại hằng tuần khoảng 250 người lớn, còn các em Thiếu nhi nhóm riêng không dưới 200, Chúa cho rất nhiều đời sống đổi mới; Tin Lành được rất nhiều người biết đến. Tôi tự hỏi: Có phải sứ mạng lót đường mà Chúa thường dành cho chức vụ của chúng tôi đã xong?

Giữa tháng 5 năm 2003, Hội Thánh nhận được một quyết định từ Ban Tôn Giáo Tỉnh Cần-thơ chánh thức không cho phép tôi đến Đông Phú – một quyết định bằng văn bản. Sau nhiều lần toàn Ban Chấp Sự cùng nhau trực tiếp đến Ban Tôn Giáo Tỉnh khiếu nại, cuối cùng, Ban Tôn Giáo Tỉnh ra văn thư cho phép tôi đến giảng và Ban Tiệc Thánh từ giã Hội Thánh vào Chúa nhật đầu tháng 6 năm 2003.

Sáng Chúa nhật ấy, từ sáng sớm, Công An Tỉnh, Huyện, Xã, theo đường bộ đường sông, đổ bộ bao bọc quanh bên ngoài nhà thờ. Họ cho hai Cán Bộ tại Xã đến với danh nghĩa là tham gia Lễ Tiễn Đưa Mục sư Sơn. Họ ngồi trong nhà thờ suốt từ giờ cầu nguyện, giờ Trường Chúa nhật, giờ Thờ Phượng, giờ Tiệc Thánh. Tôi không từ giã Hội Thánh, nhưng đã giảng Tin Lành cho hai người Cán Bộ là hai Thân hữu không mời mà đến. Khi ban Tiệc Thánh, tôi nhắc đi nhắc lại là những người không tin Chúa thì không được dự Tiệc Thánh, để họ không được dự. Sau giờ Thờ Phượng, một Cán Bộ tại Xã khác lại đến tặng tôi hai trái sầu riêng gọi là 'cây nhà lá vườn tiễn đưa tôi'.

Tôi nhớ những câu thơ của một thi sĩ, nói được nỗi lòng của tôi
:

........................

Ai ra đi mà không từng bịn rịn,
Rời yêu thương hồ dễ mấy ai quên
Tôi mạnh bước mà nghe lòng như nhỏ lệ.


Tôi đã từng nói lời chia tay với Hội Thánh tại Đông Phú bốn lần rồi, nhưng phải trở lại vì không thể chịu nổi những lời thống thiết của con cái Chúa với những nhu cần thuộc linh mà con cái Chúa cần. Bây giờ rõ ràng là từ biệt không phải là tạm biệt. Lòng tôi buồn rười rượi, ngồi trong chiếc tàu đò chạy về hướng Cần thơ, nhìn cảnh vật bên bờ sông chạy lui về phía sau, có lẽ lâu lắm mình mới thấy lại, những bàn tay vẫy vẫy, những giọt nước mắt của con cái Chúa, ghi mãi trong lòng tôi. Tôi viết những lời nầy để nói với Hội Thánh rằng: "Hỡi anh em, về phần chúng tôi đã xa cách anh em ít lâu nay, thân tuy xa cách nhưng lòng không cách, chúng tôi đã nôn nả biết bao, tìm phương để thỏa lòng ao ước lại thấy mặt anh em" (I Tês. 2:17).

Trong lúc vẩn vơ chưa biết Chúa sẽ dẫn tôi thế nào, tôi nhớ đến một câu danh ngôn: KHI TẤT CẢ CÁNH CỬA ĐỀU ĐÓNG, THÌ ĐỨC CHÚA TRỜI LUÔN MỞ MỘT CỬA SỔ, và lời của một Giáo sư Thần Học nói: 'CUỐI CÙNG CỦA CON NGƯỜI BAO GIỜ CŨNG LÀ BẮT ĐẦU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI', thì tháng 7 năm 2003, tôi nhận được thư của hai Hội Thánh tại thành phố Portland, Bang Oregon, do Mục sư Nguyễn Minh Đức và Mục sư Võ văn Hiền đồng ký tên mời tôi qua thăm và giảng Bồi linh cho Hội Thánh. Lúc 11 giờ khuya ngày 21 tháng 8 năm 2003, chuyến bay của hãng Hàng Không Japan Airlines đã rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, đem tôi ra khỏi quê hương Việt-nam đến Hoa Kỳ. Tôi ra đi mà nghe lòng như nhỏ lệ, tôi ra đi như một người không được quê hương nhìn nhận, hai mươi bốn năm sống giữa Đất Nước Việt-nam, ngay tại thành phố lớn nhất nước là Sàigòn, đi khắp Miền Nam từ Huế đến Càmau gần cuối Đất Mũi, vậy mà tôi không hề có một giấy tờ gì chứng minh tôi và cả gia đình tôi là công dân Việt-nam.

Tôi nhớ lại bao nhiêu cơ hội ra đi:

1.      Năm 1981, chị tôi gởi thư nói rằng sẽ bảo lãnh tôi đi, nhưng tôi cứ nghĩ ai cũng ra đi hết, thì ai sẽ giảng Tin lành cho quê hương? Tôi đã không làm thủ tục.

2.      Khi ngồi tù lần thứ hai (1983), tôi nhớ đến Sứ đồ Phierơ, bị tù lần thứ nhất được thả ra, ông không đi đâu hết, vẫn ở Giê-ru-sa-lem; nhưng ở tù lần thứ hai được Chúa giải cứu ra thì ông từ giã các tín đồ và đi nơi khác. Tôi đã gởi giấy tờ cho chị tôi để lo thủ tục ra đi theo Chương trình ODP. Tôi đã không được nộp đơn tại Việt-nam với lý do không có Hộ Khẩu. Mãi đến năm 1990, một tình cờ, con trai tôi nghe lời bạn học tự đem đơn lên Công An Quận I để nộp, họ lại nhận, chúng tôi lại chờ đợi.

Đến tháng 6 năm 1996, một văn thư của Giám đốc ODP tại Bangkok gởi trả lời cho Thượng Nghị Sĩ Phil Gram bang Texas, do chị của tôi nhờ giúp đỡ, thư báo cho biết là họ đã lên lịch phỏng vấn tôi và gia đình vào trung tuần tháng 6 năm 1996. Khi nhận thư thì đã quá hạn, tôi không thấy gọi phỏng vấn, nên lên gặp Phái Đoàn Phỏng Vấn Hoa Kỳ (Inteview US Team). Thật ngạc nhiên làm sao, họ trả lời không biết, hứa sẽ hỏi lại và cho tôi một cái hẹn khác. Và cứ hẹn như vậy trên 10 lần với câu trả lời là không biết tại sao tôi có được một thư như vậy.

3.      Từ năm 1990 đến 1997, tôi dùng Hộ chiếu Di cư của tôi, Hộ chiếu của Chương trình ODP, để đi lại trong nước. Đến năm 1997, Hộ chiếu Di cư của tôi hết hạn, tôi chưa biết phải làm gì, thì năm 1999, đột nhiên Chánh quyền cho phép người tạm trú dài hạn được làm Hộ chiếu Du Lịch, con tôi đã nhờ Dịch vụ Du Lịch làm ngay Hộ chiếu Du Lịch cho vợ chồng tôi. Cảm ơn Chúa, nhờ Sổ Hộ chiếu Du lịch nầy, không phải để tôi đi ngoại quốc, nhưng là để đi trong nước.

4.      Năm 2000, tôi đã cầm giấy mời của Trường Pacific Christian College tại Hoa Kỳ để dự Lễ Tốt Nghiệp của con tôi. Nhưng Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ tại Sàigòn đã từ chối.

5.      Tháng 7 năm 2002, tôi nhận được giấy của NVC (National Visa Center) yêu cầu xác nhận địa chỉ và người bảo lãnh. Hai tuần sau, tôi lại nhận được giấy yêu cầu đóng tiền để phỏng vấn. Nhưng lúc bấy giờ, nhìn người mẹ già 96 tuổi nằm liệt trên chiếc ghế dài, lỗ tai tôi nghe những người bạn tại Hoa Kỳ nói rằng Hội Thánh tại Mỹ không thích Mục sư lớn tuổi, nhớ công việc Chúa tại Đông Phú đang chờ tôi, thế là tôi từ chối ra đi.

6.      Tháng 7 năm 2003, tôi nhận thư của hai Hội Thánh tại Portland, Bang Oregon, chúng tôi xin phỏng vấn tại Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ ở Sàigòn. Tuy nhiên, một vấn đề xảy ra là Hộ chiếu Du lịch của chúng tôi chỉ còn 5 tháng là hết hạn, trong khi nguyên tắc là thời hạn dưới 6 tháng, thì Tòa Lãnh sự các nước sẽ không cấp Visa, kể cả Hoa Kỳ. Tôi phải nhờ Dịch vụ gia hạn gấp trong vòng một ngày với giá cao, để kịp phỏng vấn. Kỳ diệu biết bao, buổi chiều chúng tôi nhận được Hộ chiếu gia hạn, thì sáng hôm sau báo chí bắt đầu nói đến những vấn đề Giá Cả Dịch Vụ Hộ Chiếu và một lịnh cấm đã được ban ra nhất là không cho những người tạm trú dù là dài hạn được làm Hộ chiếu. Chúa đã can thiệp trước một ngày - và chỉ một đêm mà thôi.

7.      Ngày 18 tháng 8 năm 2003, chúng tôi được phỏng vấn và được chấp thuận. Ngày 19, lấy vé máy bay, và ngày 21, nhơn con tôi trở lại Hoa Kỳ, chúng tôi cùng đi theo, nhờ đó khỏi phải lo lắng đường đi nước bước nơi xứ lạ quê người.

Sau 10 tháng lưu lạc trên đất Mỹ, khi tôi viết những dòng nầy, Chúa đã cảm động lòng con cái Chúa trong Hội Thánh tại San Jose II chịu khó vượt qua những trở ngại để mời vợ chồng tôi ở lại hầu việc Chúa tại đó, thay cho Mục sư Trương văn Được đến nhiệm sở mới. Tôi chỉ biết từng ngày hát bài ca: Chúa hằng đưa dắt lối tôi, tôi nào biết tỏ tường …

Tôi ôn lại mọi việc xảy ra và tự hỏi: Tại sao Chúa không cho tôi đi Mỹ những lần trước đó, bây giờ Chúa lại cho đi? Tôi chưa hề quen biết Hội Thánh tại San Jose II. Trước đó tôi có dịp đến ở một Hội Thánh trong thành phố San Jose, Mục sư Được có mời chúng tôi đến ăn cơm, ông bà có tâm sự những khó khăn trong Hội Thánh, nhưng nói rằng sẽ cố gắng ở thêm hai năm rồi nghỉ hưu. Đột nhiên, mấy tháng sau, Mục sư Được lại gọi điện thoại mời tôi đến giảng 3 ngày gồm Tối Thứ Sáu, Tối Thứ Bảy và Chúa nhật. Vào đêm tối Thứ Sáu, Mục sư Được đã báo cho tôi biết là ông sẽ rời Hội Thánh tại San Jose II, và cho tôi biết là ông đã giới thiệu tôi vào danh sách để Hội Thánh mời thay ông, trong khi Giáo hạt lại đưa tên hai vị Mục sư khác.

Phép lạ và phép lạ!

Tôi không còn nói gì hơn là mượn lời của tác giả Thi thiên 126, Chúng tôi khác nào kẻ nằm chiêm bao … Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng tôi những việc lớn. Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng tôi những việc lớn…

Tương lai là trong tay Chúa, chúng tôi chỉ là đất sét trong tay Ngài, không biết lần nầy Chúa cho tôi lót đường gì cho công việc Chúa !? Trên con đường đó đã có những nhận định: Mục sư Sơn không có kinh nghiệm quản trị Hội Thánh; Mục sư không giỏi tiếng Anh … và Mục sư chưa có giấy tờ định cư tại Hoa Kỳ.

Chúng tôi cầu nguyện và xin gia hạn ở lại Hoa Kỳ, trong khi chờ đợi trả lời đơn gia hạn, thì Chúa cho khởi sự làm đơn xin ở lại Hoa Kỳ. Nói đến đây, tôi phải ghi lời cảm ơn Luật sư Sean Lew tại thành phố Winston-Salem, Bang North Carolina, cảm ơn Mục sư Trần Nguyên Bảo, những người đã giúp đỡ tôi trong việc xin ở lại Hoa Kỳ.

Đúng một năm sau khi rời Hội Thánh của Chúa tại Đông Phú, tôi nhận được thư của các con cái Chúa trong Hội Thánh tại Đông Phú gởi đến qua Email, tôi ghi lại đây nguyên văn, để nguyên những lỗi chính tả, để nhớ, để thương các con cái Chúa vùng quê vùng xa chịu bao nhiêu thiệt thòi vật chất lẫn thuộc linh, chỉ có tấm lòng với đức tin đơn sơ, cầu nguyện xin Chúa lo cho từng người, vì họ không quên một người hầu việc Chúa hèn mọn như chúng tôi.

 

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 2 guests online.

Hosting by