You are hereLIÊN HỆ TRONG HÔN NHÂN

LIÊN HỆ TRONG HÔN NHÂN


By admin - Posted on 17 February 2013

Đề tài: LIÊN HỆ TRONG HÔN NHÂN

(Vợ Chồng)

Kinh thánh: I Côrintô 7:3-6

(Nghe với BÀI GIẢNG II số 140)

I/. Liên hệ về tinh thần: 7:3-4, “Chồng phải làm hết bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền tự chủ về thân mình, bèn là chồng; chồng cũng vậy, không có quyền tự chủ về thân mình, bèn là vợ.”

Trong quyển “Nan Đề của Tôi” đã ghi câu chuyện thần thoại của Ấn Độ (xem chương 3), người nam sau thời gian sống với sinh vật mà Đấng Tạo Hóa đã ban tặng, đã than thở: “Làm sao bây giờ? Tôi không thể sống với nàng mà cũng không thể sống thiếu nàng!”

Có một sự ràng buộc kỳ diệu giữa vợ chồng (không thể sống có Nàng, cũng không thể sống thiếu Nàng). I Côrintô 7:3-4 cho thấy cả hai đều có bổn phận đối với nhau. Theo cách dùng chữ của hai câu nầy, sứ đồ Phaolô nói đến sự hòa hiệp trong Hôn nhân.

  • Câu 3, sứ đồ Phaolô nói đến người chồng trước, rồi mới nói đến người vợ, vì người chồng được Chúa đặt làm đầu vợ, người chồng chịu trách nhiệm chính trong gia đình.
  • Câu 4, sứ đồ Phaolô đảo chủ từ lại, nói đến người vợ trước, rồi nói đến người chồng.

Hai câu Kinh Thánh có một trật tự hòa hiệp và có nhu cần đối với nhau:

  •  Chồng phải làm hết bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy;
  •  Vợ không có quyền tự chủ về thân mình, bèn là chồng; chồng cũng vậy, không có quyền tự chủ về thân mình, bèn là vợ

Sứ đồ Phaolô viết thư nầy vào năm 56 SC., sứ đồ Phaolô đã đưa ra một Luân lý Cơ-Đốc khác hẳn luân lý thế gian. Lúc bấy giờ tại Trung quốc, tại Ấn Độ, địa vị của người phụ nữ đối với người nam luôn luôn là thấp kém. Trong hai nước sản sinh nền triết học Đông phương, người vợ chỉ là một người giúp việc không cần trả lương, một phương tiện để truyền giống cho người nam. Người Trung quốc với câu “Tam Tòng Tứ Đức” đã trói buộc người phụ nữ tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (trong nhà thì thuận phục cha, có chồng thì thuận phục chồng, chồng chết thì thuận phục con). Tại Ấn Độ, chúng ta hãy nghe một phụ nữ Ân Độ, là bà Pandita Ramabai, nói về thân phận của phụ nữ Ân Độ giáo, một tôn giáo trở thành quốc giáo đã xuất thiện hàng ngàn năm trước tại Ân Độ. 

Tôi đã thấy rõ nhiều sự thật, nhưng chỉ có hai điều mà tất cả các sách đều nói đến – kinh Dharma Shastra những bản thánh nhạc, những bài văn thi, những thầy giảng kinh thuộc hàng cao cấp quí phái đồng ý – rằng 'hễ là phụ nữ thì dầu thuộc từng lớp nào trong xã hội, thương lưu hay hạ đẳng cũng đều xấu cả, hết sức xấu xa, xấu hơn ma quỉ nữa; họ bất khiết, giả dối, nên họ không thể thành Moksha như nam giới. Họ chỉ có hi vọng được phóng thích khỏi tiền căn ấy bằng cách đầu thai nhiều kiếp, hằng triệu kiếp chịu đau khổ không thể tả và phải thờ lạy chồng họ. Người chồng là một vị thần riêng của phụ nữ, ngoài ra họ không có phép thờ thần nào khác, vị thần ấy có thể là một đại phạm nhơn xấu xa nhất mang nhiều án phạt nhưng NGƯỜI ẤY VẪN LÀ VỊ THẦN CỦA NÀNG và nàng buộc phải thờ lạy người. Nàng không hi vọng được nhận vào Svarga, là chỗ ở của các vị thần thánh nếu không làm vui lòng chồng. Còn giả như nàng làm đẹp lòng chồng trong mọi sự, nàng sẽ được nhận vào đó như một kẻ nô lệ của chồng, ở đó người vợ sẽ hầu hạ thần ấy và sẽ ở trong các người vợ mà vị thần ấy biếu cho chồng, tùy theo công đức của vợ … Có điều lạ của tôn giáo nầy (Ấn Độ giáo) là nếu người đờn bà muốn đạt đến bực Moksha, người ấy phải bỏ tất cả ý mình để thờ lạy chồng cách hết lòng, chỉ thờ lạy chồng mà thôi không được ham thích gì trong đời ngoài việc làm tôi mọi cho chồng trọn đời. Phụ nữ không được học kinh Vedas và Vedanta, nên không biết gì về các kinh ấy … lẽ dĩ nhiên không một người nữ nào được đạt đến Moksha.” (Trích trong PHỤ NỮ VỚI TIN LÀNH – NXB Tin Lành, trang 19-20).

Tại Hi-lạp, người phụ nữ cũng bị khinh rẽ, phải mang mạng che mặt. 600 năm sau đời sứ đồ Phaolô, Hồi giáo tại Trung đông đặt địa vị người nữ thật thấp kém: Phải có chồng mới được cứu, phải che mặt và che cả người. Đó không phải là hôn nhân, đó là nô lệ!

Lời Đức Chúa Trời trong sách Sáng. 2:24 dạy: “Bởi vậy, cho nên người nam phải lìa cha mẹ mà dính díu với vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt”, nghĩa là Hôn nhân là sự hòa hiệp giữa vợ và chồng, không phải chỉ giữa hai con người, không phải chỉ giữa hai phái tính, mà là giữa VỢ và CHỒNG. Sứ đồ Phaolô nhắc lại lẽ thật nầy hai lần trong thư I Côrintô 6:16; Ê-phê-sô 5:31, và sứ đồ Phaolô gọi đó là “một sự mầu nhiệm lớn”. Chúa Jêsus Christ chứng quyết lẽ thật nầy trong sách Mathiơ 19:45.

Như vậy, hai người là vợ chồng khi nào họ biết bổn phận đối với nhau (I Côrintô 7:3), và khi họ biết trao quyền tự chủ cho nhau (I Côrintô 7:4). Ngược lại, khi hai người biết bổn phận đối với nhau, biết trao quyền tự chủ cho nhau, thì đó chính là vợ chồng. Điều nầy chỉ có trong Hôn nhân.

Tôi xin nhắc lại: sứ đồ Phaolô chỉ đang nói đến Hôn nhân, nói đến sự mầu nhiệm của vợ chồng. Sứ đồ Phaolô không hề nói đến việc đùa giỡn mà một số bạn Trẻ mạo nhận là Tình yêu, là tìm hiểu, là văn minh tiến bộ.

II/. Liên hệ thể xác: 7:5-6, “Đừng từ chối nhau, trừ ra hai bên ưng thuận tạm thời, để chuyên việc cầu nguyện; rồi trở lại hiệp cùng nhau, kẻo quỉ Satan thừa khi anh em không thìn mình am2 cám dỗ chăng. Ấy đó là sự tôi thuận cho phép, chớ chẳng phải sự tôi truyền biểu.”

Trong cuộc sống vợ chồng, ngoài liên hệ tinh thần, thì liên hệ thể xác cũng là một yếu tố bảo vệ hạnh phúc gia đình. Sứ đồ Phaolô dạy: Đừng từ chối nhau, trừ khi đồng ý chung và với thời gian có giới hạn.

  • Đến câu 6, sứ đồ Phaolô cẩn thận xác nhận: Nếu vì lý do biệt mình để cầu nguyện, thì ông đồng ý hai người TẠM xa nhau về thể xác. Nhưng sứ đồ Phaolô nhấn mạnh đó không phải là mạng lịnh, nghĩa là việc chuyên tâm cầu nguyện không cần phải kiêng cử liên hệ thể xác. Như vậy, sứ đồ Phaolô muốn nói là vợ chồng không được cách ly thể xác, vì đó là một lý do dễ cho quỉ Satan cám dỗ. Nói mạnh hơn, Kinh Thánh không cho phép ly hôn, ly dị
  •  Mathiơ 19:8, Đức Chúa Jêsus Christ phán rằng: “Vì cớ lòng các ngươi cứng cỏi, nên Môi-se cho phép để vợ; nhưng lúc ban đầu, không có như vậy.”
  • Rôma 7:2-3, “Cho nên, đờn bà có chồng, hễ chồng còn sống bao lâu, thì luật pháp buộc phải theo chồng bấy lâu; nhưng nếu chồng chết, thì người vợ được thoát khỏi luật pháp đã buộc mình với chồng. Vậy nếu đương lúc chồng còn sống, mà vợ đi lấy người khác, thì phải bị kêu là đờn bà ngoại tình; nhưng nếu chồng chết, thì vợ được buông tha khỏi luật pháp, dầu lấy người khác cũng chẳng phải là đờn bà ngoại tình vậy.”

Nếu vì hoàn cảnh chồng hay vợ phải đi làm việc để mưu sinh cho gia đình, tốt nhất thì tìm việc làm ở gần nhau, có thể lương ít hơn nhưng bảo đảm được hạnh phúc gia đình thì quý hơn.

Gia đình là nền tảng của xã hội, cũng là nền tảng của Hội Thánh. Hội Thánh cũng như xã hội sẽ không tồn tại, nếu gia đình của người tin Chúa không tồn tại trong sư yêu thương, thánh khiết như Lời Chúa dạy.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 12 guests online.

Hosting by