You are hereVƯỢT SÓNG 09

VƯỢT SÓNG 09


By admin - Posted on 13 November 2008

VƯỢT QUA LỬA

... khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn lửa chẳng đốt ngươi.”

(Êsai 43:2b)

 

Cuối cùng, khi mặt trời đã lên cao, thì điểm đến cũng hiện ra. Chiếc xe dừng lại trước cổng Trụ sở Công an Huyện Bến Cát. Tay chân tê cứng, tôi không tài nào tự đứng lên được. Không sao, cứ ngồi yên, mà nằm lì cũng được, đàng nào cũng bầm dập, không sớm thì muộn. Hai tên áp giải xóc nách tôi dậy và lôi tôi xuống xe, họ dí súng vào lưng tôi. Bỗng dưng tôi nhớ đến một bức ảnh nổi tiếng, tên giặc Mỹ bị cô du kích trói tay, dí súng vào lưng, áp giải về nhà giam. Trông cô oai ra phết, còn cái anh chàng cao kều, tóc vàng, mắt xanh thật thảm hại làm sao. Thật là một chiến công oanh liệt. Nhưng cũng thật là bôi bác, những người anh hùng của đất nước anh hùng, lẽ nào đối xử với tù binh chiến tranh thế sao? Không. Không phải thế. Người Việt-nam nhân hậu vô cùng. Giá có ai chụp cho tôi một bức ảnh ngay lúc nầy thì tuyệt, tôi sẽ ngẩng đầu lên, hiên ngang bước. Tôi không sợ gì cả, tôi không phạm tội, tôi bị vu cáo.

Thanh được áp giải phía trước. Dù trẻ, cao to, khỏe mạnh, nhưng tình trạng cũng không khá hơn tôi, bước thấp, bước cao, chân nầy khoèo chân kia, khập khiểng, tó xiêu.

Anh Phó ông an Xã bảo chúng tôi đứng chờ giữa sân, anh bước nhanh vào trong và mất hút. Chập sau, anh trở ra với một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, quắc thước. Ông mặc sơ-mi trắng bỏ ngoài, mang giày san-đan, trông rất chững chạc, chắc hẳn là cán bộ, là chỉ huy. Ông nhìn chúng tôi, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái và ra lệnh:

  • Cỡi bỏ dây trói. Mau lên. Ngu như bò.

Cài gì vậy? Tôi nghe lộn không? Ông nói gì vậy? Ngu như bò! Ai? Ba bốn người, kể cả những người áp giải, xúm lại mở trói cho chúng tôi. Sợi dây siết chặt quá, không cỡi ra được. Một người cầm đến con dao nhỏ và cứa đứt sợi dây chết tiệt. Đứt rồi. Xiềng xích mở toang. Thật sao? Thật mà. Đau quá. Tự dưng hai dòng nước mắt chảy dài xuống má và môi tôi, nóng hổi, mặn mà, ngọt ngào làm sao! Mừng quá! Tôi khóc vì đau hay vì sung sướng? Có thể cả hai. Kỳ diệu quá! Mầu nhiệm quá! Khi tôi chưa kêu cầu thì quan án công bình đã xét xử rồi, Ngài đã phán quyết.

Tôi nhắm mắt lại, lòng thổn thức, nghẹn ngào. Nhanh thế sao? Ai tin được? Lửa nào đã đốt cháy sợi dây trói? Lò lửa hực của vua Nê-bu-cát-nết-sa hay lửa của bụi gai cháy trên núi Hô-rếp? Tôi không mê chứ? Không. Tôi mở mắt ra nhìn từng người một, tất cả lặng lẽ bỏ đi, không ai ném đá tôi. Cả ông chỉ huy cũng trở vào trong. Ông bước đến bàn làm việc, nhắc ống nghe, quay số điện thoại. Ông quay mặt ra ngoài nên tôi nhìn thấy rõ nét mặt của ông, có vẻ bồn chồn, bối rối lắm. Ông nói nhỏ, nhanh, nhưng tôi có thể nghe được. Ông mời một người nào đó, có lẽ quan trọng lắm đến giải quyết việc khẩn. Rồi ông đặt ống nghe xuống, bước ra cửa và nói:

  • Mời hai anh vào đây.

Thanh và tôi bước vào trong. Ông chỉ huy bảo chúng tôi ngồi xuống trước mặt ông. Khỏe rồi, không có gì phải sợ. Ông ngồi, tôi cũng ngồi. Bình đẳng. Nhìn thẳng vào mặt nhau, tôi đối diện với ai đây? Đa-ni-ên và vua Nê-bu-cát-nết-sa? Không. Môi-se và vua Ai Cập? Không. Tôi không thấy điều gì ác trong con người nầy. Trước mắt tôi là một vị chỉ huy Cộng sản, một trong muôn vàn con người gan góc cứng cỏi nhất của dân tộc. Một trong những anh hùng đã từng đánh Tây, đuổi Mỹ. Tôi nhìn thẳng vào mắt ông. Hơn thế nữa, tôi muốn thấy được tận sâu thẳm của lòng ông. Người ta nói người Cộng sản không có trái tim, không có tình cảm. Suốt bảy năm trời sống dưới chế độ nầy, tôi vẫn chưa tìm được câu giải đáp. Những người Cộng sản mà tôi có dịp tiếp xúc, chỉ là những tên du kích trẻ măng, những cán bộ Xã, Ấp, chỉ là những nông dân bám đất, giữ rừng, không có trình độ văn hóa, không được đào tạo chính qui, không biết cách đối nhân xử thế. Họ không tiêu biểu cho ai cả.

Trước mắt tôi có thể là một con người trái ngược. Qua ông, tôi có dịp kiểm chứng. Qua cách cư xử và giải quyết vấn đề, tôi sẽ thấy được cả một tập thể lãnh đạo. Phủ bênh phủ, Huyện bênh Huyện? Phép vua thua lệ làng? Mặt trời xa quá, cao quá? Không. Tôi có quyền nghi ngờ, nhưng tôi cũng có quyền kỳ vọng con người nầy. Chế độ Cộng sản sẽ tồn tại hay tàn lụi bởi những con người như ông.

Có tiếng chân người đi vào. Một người đàn ông khoảng hơn bốn mươi tuổi, nhỏ người, nước da trắng, tóc hớt cao, mặc sơ-mi trắng ngắn tay. Ông đứng lại giữa phòng, nhìn chúng tôi từng người một, nét mặt đăm chiêu, có vẻ nghiêm trọng lắm. Vị chỉ huy Công an mời ông đi vào trong. Chập sau, hai người đi ra, chậm chạp, họ bước đến chỗ chúng tôi ngồi. Người khách nhìn Thanh, lại nhìn tôi, rồi cất giọng ôn tồn:

  • Tôi là Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Bến Cát. Các anh viết tường trình sự việc. Có khiếu nại gì không?

Tôi nghe rõ từng tiếng một, giọng Nghệ An đặc sệt: Có khiếu nại gì không? Có chứ! Danh dự của một công dân, nhân phẩm của một con người, tổn thương của thể xác và tinh thần. Đáng giá bao nhiêu? Lấy gì đền bù?

Nói xong, ông chào vị chỉ huy Công an và đi ra. Tôi nhìn theo, mường tượng ra một điều gì. Tiễn khách về, ông chỉ huy cho gọi anh Công an và du kích Xã đến. Cả hai lấp xấp chạy đến, mặt mày lấm lét trông thảm hại làm sao.

  • Các anh về gọi trưởng Công an lên gấp. Nội trong sáng nay.

Rồi ông lệnh cho thuộc cấp lái chiếc uát đi làm nhiệm vụ. Ông quay lại bàn viết và lấy đưa cho chúng tôi mỗi người một tờ giấy trắng và một cây bút bi.

  • Hai anh viết rõ sự việc đêm qua. Có bị đánh đập gì không? Chờ họ lên gỉải quyết rồi về.

Rồi về! Được tha ra, không tù tội. Thật vậy sao? Tôi không nghe lầm chứ? Mới lúc nãy, tôi bị giải đến đây như tên tội đồ. Làm sao tin được.

Tôi cắn đầu bút, viết gì đây? Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc. Phải bắt đầu như thế. Tôi xoay tròn cây bút giữa lòng hai bàn tay. Đau quá, tê cứng, tím ngắt. Cố gắng lắm tôi mới viết được gần trang giấy. Sự xúc cảm đè nén mọi hận thù … Thanh thì cặm cụi viết, kín cả hai trang giấy mà ý chừng còn muốn viết thêm nữa. Oan ức quá mà, Thượng sĩ bộ đội phục viên, Phó Ban Nông nghiệp Xã, đối tượng Đảng. Vậy mà … Bỗng có tiếng ồn ào ngoài cổng, hai người phụ nữ vừa khóc vừa nói. Vợ tôi với đứa con gái út hai tuổi trên tay và Nhung, vợ của Thanh, vóc dáng to lớn với cái bụng căng tròn, đang bị chận lại. Vị chỉ huy vội chạy ra và mời cả hai vào trong. Ông rót trà và chậm rãi nói:

  • Hai chị uống nước cho khỏe. Đi chi cho cực khổ. Tôi đã giải quyết rồi. Trưa về.

Vợ tôi và Nhung há mồm nhìn ông kinh ngạc. Trưa về. Ơn trời. Rồi ông đến chỗ tôi và Thanh để lấy tờ tường trình. Đọc xong, ông nhìn tôi và hỏi:

  • Anh Sinh không khiếu nại gì sao?

Tôi lắc đầu nói không. Được gì? Răng đền răng, mắt đền mắt, được gì? Thù hận thêm thù hận. Quên đi. Gió đã cuốn đi rồi. Ông vịn vai tôi, bóp bóp mấy cái. Anh em mà. Thân thương lắm.

  • Thôi anh chị về đi. Trưa rồi. Ngày mai chúng tôi về Xã họp kiểm điểm.

Về đi! Xin cảm ơn. Tôi ôm thiên thần bé nhỏ của tôi, nó áp đầu vào ngực tôi. Tưởng tiêu rồi, phải không? Vợ tôi nắm lấy tay tôi, mân mê, sờ nắn những lằn dây trói hằn sâu trong da thịt.

Lòng tràn ngập vui mừng, chúng tôi bước nhanh ra ngoài. Đầu ngẩng cao lên, mấy người lính gác vội chạy mở cổng, đôi mắt tròn vo. Không ngạc nhiên sao được. Không hiểu gì hết. Đói lắm, phải ăn cái gì mới được, quá trưa rồi. Tôi hỏi:

  • Em có tiền không? Có. Em mượn được 50 đồng.

May quá, đủ bốn dĩa cơm vỉa hè. Chúng tôi đi ngược vào chợ ăn trưa, rồi quay trở lại ngả ba đường để đón xe về nhà. Còn sớm. Chán thật. Tôi muốn bay vút ngay về mái tranh xơ xác, tổ ấm của gia đình tôi. Ba tôi và các con của tôi chắc đang mỏi mòn chờ đợi. Lũ trẻ có hiểu gì không, khi cha đi lâu lắm không về? Ba tôi vẫn còn tin chắc vào lời cầu nguyện của ông chứ? Cái thứ vũ khí không nhìn thấy được, chẳng giết hại gì ai.

Một giờ. Hai giờ. Ba giờ. Mặt trời đã ngã về phía Tây, chiếc xe chết tiệt vẫn chưa đến. Chiếc xe cà rịch, cà tàng, cứ mỗi sáng đưa những con người lam lũ từ Xã ra đi kiếm cơm, rồi chiều đến, theo thường lệ, nó lại đưa những con người cùng khổ đó cùng với hàng hóa, rau đậu, từ thị xã trở về. Thời gian chờ đợi như dài ra vô tận trong cái nắng nóng hầm hập, rát mặt, khô da. Cứ chặc lưỡi, dậm chân, bước tới, bước lui, mắt hướng về tận khúc quanh trên con dốc cao. Kia rồi, nó đó, xe đến. Chiếc xe chầm chậm dừng lại, phụ xe nhảy xuống, há miệng, tròn mắt nhìn tôi. Cả người lái xe, những hành khách đã thấy tôi lúc sáng. Họ nhỏm người lên nhìn tôi, nhìn Thanh. Thực sao? Không thể được, không tin được.

Người lái xe nhảy xuống, siết chặt tay tôi. Anh choàng tay qua vai tôi và đỡ tôi lên xe. Mấy người đàn bà nhốn nháo, hỏi han rối rít. Bây giờ thì họ có thể tin được rồi. Tôi đã hiện ra bằng xương bằng thịt, bắt tay và trò chuyện với họ. Họ thấy tôi được tự do, họ tin đó là sự thật.

Nhưng có một điều họ không hiểu được. Tại sao? Điều gì đã xảy ra? Đó là một sự mầu nhiệm, hơn cả những câu chuyện thần tiên, hơn cả phim truyện thần thoại, vượt quá sự hiểu biết của họ, của con người.

Chiếc xe lại quẹo vào con đường đất đỏ độc đạo, không có con đường nào khác. Chỉ con đường duy nhất đầy ổ gà, ổ voi nầy. Bảy năm rồi, năm nầy sang năm khác. Hết mưa lầy lội lại đến nắng bụi mịt mù. Cho đến bao giờ người dân nơi đây sẽ không còn phải mang lấy gánh nặng nầy? Họ đã được giải phóng rồi, sao cứ phải mang lấy gánh nặng nầy? Ai sẽ giải cứu họ? Có con đường nào khác không? Có chứ! Họ không tuyệt vọng đâu. Đấng đã giải cứu tôi khỏi lò lửa hực, sẽ giải cứu họ khỏi cuộc đời lầm than cơ cực nầy. Ngài sẽ làm cho ngay thẳng con đường quanh quẹo và làm bằng phẳng những chỗ gập ghềnh. Tôi tin điều đó như tin rằng ngày mai mặt trời sẽ xuất hiện ở phía Đông.

Chiếc xe sụp xuống rồi lại chồm lên. Đứa con gái bé bỏng của tôi bỗng giật mình, khóc thét lên. Tôi đỡ nó dậy và để nó đứng trên đùi của tôi. Sự nghèo khó không làm lu mờ được vẻ đẹp và sự sáng láng của thiên thần. Tôi thấy lòng nhẹ nhàng, vững tin vào một tương lai tươi đẹp hơn. Những con suối tuôn tràn từ núi đồi trơ trọc. Những dòng sông hiền hòa mang phù sa vào hoang mạc. Muông thú ăn cỏ no nê trên những cánh đồng mênh mông và uống nước nơi mé nước bình tịnh. Chim muông, ong bướm cất cao tiếng hát giữa rừng hoa ngào ngạt hương thơm, trẻ nhỏ tung tăng cắp sách đến trường. Thầy cô thôi không còn bỏ trường, bỏ lớp nữa, giờ đã được ăn ngon, mặc đẹp. Họ dạy cho trẻ thơ hai chữ yêu thương, quên đi những con số nhân, số cộng căm thù. Người lớn an nhàn gặt hái những thành quả của mồ hôi, trí óc.

Tôi thầm thì vào tai thiên thần bé nhỏ của tôi. Thật ra, tôi cũng muốn nói cho vợ tôi, cho cả những con người đồng cảnh ngộ trên chuyến xe chiều nay: “Cười lên đi nào, Thiên Ân của Ba Mẹ, bông trái của niềm tin và hi vọng. Mẹ đã đặt tên cho con đó. Ân huệ của Thiên Chúa. Con đã được sinh ra khi nhà không còn một lon gạo, không có một đồng bạc. Vậy mà con vẫn lớn lên, vẫn mạnh khỏe. Bản thân con là một bằng chứng sống. Và bây giờ, chính con là một nhân chứng sống cho sự kỳ diệu xảy ra ngày hôm nay.

Thời gian đang qua đi và Ba Mẹ cũng sẽ qua đi. Con sẽ lớn lên và các anh chị của con sẽ lớn lên. Rồi thời gian sẽ qua nhanh, các con cái của các con sẽ ra đời, chúng sẽ được mẹ cha ẵm bồng, tríu mến. Chúng sẽ được nghe câu chuyện nầy. Chuyện cha các con đã vượt qua lò lửa hực chỉ bởi một lời khẩn cầu của ông nội già yếu. Chuyện cha và mẹ các con đã nắm tay nhau bước qua những dòng suối hung hãn, đã vượt qua những gò nỗng, hố sâu. Chuyện của một gia đình đông đúc bị phong ba bão táp giữa biển khơi. Họ đã ra khơi, đã vượt sóng, những con sóng dữ của cuộc đời, và họ đã đến bờ bình yên.

Nhưng trên hết, chúng sẽ thấy được Đấng – Không – Thể – Nhìn – Thấy trong câu chuyện nầy qua chính đời sống của chúng. Chúng sẽ nếm trãi được sự ngọt ngào trong tình yêu bất diệt của Ngài, sẽ kinh nghiệm bản thân mình về quyền năng vô hạn, vô biên, của Đấng dựng nên trời, đất, và vua chúa của thế gian nầy.

 

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 3 guests online.

Hosting by