You are hereBài 1: AGAPE

Bài 1: AGAPE


By admin - Posted on 24 October 2013

TÔI SẼ DỊCH VÀ ĐƯA LÊN WEBSITE TỪNG TỪ NGỮ TÂN ƯỚC TRONG QUYỂN NEW TESTAMENT WORDS CỦA WILLIAM BARCLAY. XIN CHÚA DÙNG ĐỂ GIÚP ANH CHỊ EM THÊM TÀI LIỆU HỌC LỜI CHÚA. NẾU ANH CHỊ EM TÌM THẤY CHÚT ÍCH LỢI NÀO, RẤT MONG CHO TÔI BIẾT ĐỂ TÔI ĐƯỢC KHÍCH LỆ TIẾP TỤC - Mục sư Trần Thái Sơn 10/2013

AGAPÈ và AGAPAN

ĐỨC TÁNH QUAN TRỌNG NHẤT

Tiếng Hi Lạp là ngôn ngữ giàu nhất trong tất cả các ngôn ngữ và có một năng lực để diễn đạt những điểm ẩn ý. Vì vậy, thường xảy ra điều mà tiếng Hi Lạp có một loạt từ diễn đạt những ẩn ý khác nhau trong một quan điểm, trong khi tiếng Anh chỉ có một từ. Trong Anh ngữ, chúng ta chỉ có một từ diễn tả tất cả loại yêu thương. Hi văn không có dưới bốn từ. Agapè nghĩa là sự yêu thương, agapan là động từ yêu thương. Yêu thương là đức tánh quan trọng nhất trong tất cả các đức tánh, là đức tánh đặc thù của niềm tin Cơ-Đốc. Do đó, chúng ta sẽ tìm cách khám phá ý nghĩa của từ đó cẩn thận. Tốt nhất, chúng ta sẽ bắt đầu bằng sự so sánh những từ nầy với những từ Hi Lạp khác về sự yêu thương để chúng ta có thể khám phá đặc điểm và hương vị khác nhau của chúng.

(1)         Danh từ eròs và động từ eran được dùng chính thức cho tình yêu giữa hai phái tính. Nó có thể được dùng cho những điều như tham muốn mãnh liệt và lòng ái quốc mạnh mẽ, nhưng đặc điểm của nó là những từ dùng cho tình yêu thuộc thể. Gregory Nazianzen định nghĩa eròs là ‘dục vọng nóng cháy và không kềm chế được’. Xenophon có một đoạn trong Cyropoedia (5.1-11) bày tỏ cách chính xác ý nghĩa eròs eran. Araspas và Cyrus đang thảo luận những loại tình yêu khác nhau, và Araspas nói: ‘Người anh hùng không ngã vào tình yêu với cô ấy; kể cả người cha cũng không ngã vào tình yêu với con gái mình, nhưng người nào đo sẽ ngã, vì kính sợ Đức Chúa Trời và luật pháp của xứ có khả năng ngăn cảnh tình yêu’ (eròs). Liên quan vượt trội của những từ nầy là tình yêu phái tính. Trong tiếng Anh, từ ngữ tình yêu có thể mang ý nghĩa thấp hèn, và trong Hi văn, ý nghĩa của những từ nầy đã thoái hóa. Vì vậy, nó thay cho những điều thấp hèn. Cơ-Đốc giáo khó thêm vào những từ nầy theo cách dùng riêng của nó; và nó không xuất hiện trong toàn bộ Tân Ước.

(2)         Danh từ storgè và động từ stergein đặc biệt dùng cho tình cảm gia đình. Nó có thể được dùng cho tình yêu của một người đối với người cait rị họ, hoặc yêu nước, hoặc quan hệ với thần hộ mệnh của họ; nhưng cách dùng thông thường là diễn tả tình yêu của cha mẹ đối với con cái và con cái đối với cha mẹ. Plato viết: “Một đức trẻ yêu (stergein) và được yêu thương bởi người sinh ra nó” (Laws 754b). Từ ngữ cùng một gốc xuất hiện rất thường trong ý muốn. Thí dụ, “tài sản kế thừa được để lại cho một thành viên gia đình kata philostorgian, bởi vì tình cảm mà ta dành cho con”. Những từ ngữ nầy không xuất thiện trong Tân Ước nhưng tính từ cùng gốc xuất hiện một lần. Tính từ philostorgos xuất thiện trong Rôma 12:10. Đó là sự gợi ý, bởi nó ngụ ý cộng đồng Cơ-Đốc không phải là một xã hội mà là một gia đình.

(3)         Từ ngữ thông dụng nhất về tình yêu thương trong Hi văn là danh từ philía và động từ philein. Có một sự nồng ấm về những từ yêu thương nầy. Nó có nghĩa là ngắm nhìn một người với ‘yêu thương trìu mến’. Nó có thể được dùng cho bạn bè yêu thương, và vợ chồng yêu thương. Philein tốt nhất được dịch là yêu dấu (Cherish), bao gồm tình yêu thuộc thể, nhưng nhiều hơn ngoài ý đó. Đôi khi nó có thể có nghĩa là hôn. Những từ ngữ nầy chứa dựng tất cả sự nồng ấm của tình cảm thật, yêu thương thật. Trong Tân Ước, philein được dùng cho tình yêu cha mẹ đối với con cái (Math. 10:37), được dùng cho tình yêu của Chúa Jêsus dành cho La-xa-rơ (Giăng 11:3, 36). Một lần nó được dùng cho tình yêu củ Chúa Jêsus đối với môn đồ được Chúa yêu (Giăng 20:2). Philía philein là những từ ngữ đẹp diễn tả một mối tương giao đẹp.

(4)         Những từ ngữ Hi Lạp Tân Ước thông dụng nhất xa hơn trong tình yêu là danh từ agapè và động từ agapan. Trước hết chúng ta giải quyết danh từ. Agapè không phải là một từ cổ; không chắc có một từ nào thay thế không. Trong Bản 70 dùng 14 lần cho tình yêu phái tính (Giê. 2:2) và hai lần được dùng phản nghĩa với misos căm ghét (Truyền. 9:1). Agapè chưa trở nên một từ quan trọng nhưng có nhiều gợi ý trở nên quan trọng. Sách Khôn Ngoan (Ngoại thư – ND) dùng nó cho tình yêu của Đức Chúa Trời (Khôn. 3:9) và cho tình yêu đối với khôn ngoan (Khôn. 6:18). Thư của Aristotle nói về cái đẹp (229) rằng: Lòng ái mộ đạo liên quan gần gũi với cái đẹp, bởi vì ‘nó là tính ưu việt của cái đẹp, và năng lực của nó nằm trong tình yêu (agapè) là ân tứ của Đức Chúa Trời’. Philo dùng agapè một lần theo ý nghĩa cao quí hơn. Ông nói rằng Phobos (sợ hãi) và agapè (yêu thương) là cảm giác đồng gốc và cả hai là đặc điểm của cảm giác con người hướng về Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta có thể hiếm khi tìm thấy sự xuất thiện của agapè trở thành từ ngữ chìa khóa của luân lý Tân Ước. Bây giờ chúng ta trở lại động từ agapan. Nó xuất thiện thường hơn danh từ trong Hi văn cổ, nhưng nó không thông dụng lắm. Nó có thể có nghĩa là chào đón cách yêu thương. Nó có thể diễn tả sự yêu thương tiền bạc hoặc đá quí. Nó thể được dùng cho việc làm vừa lòng với vài vật hay vài hoàn cảnh. Nó được dùng một lần (Plutarch, pericles 1) để diễn tả một phu nhân giới thượng lưu vuốt ve một con chó cưng. Sự khác biệt quan trọng giữa philein agapan trong Hi văn cổ là agapan không có sự nồng ấm là đặc điểm của philein. Có hai thí dụ tốt chứng minh cho điều nầy. Dio Cassius thuật lại câu nói nổi tiếng của Antony về Cesar (44.48), “Ngươi yêu thương người như cha, và ngươi giữ người trong sự yêu thương (agapan) như một ân nhân”. Philein diễn tả sự yêu thương nồng ấm đối với cha; agapan diễn tả lòng biết ơn trìu mến đối với ân nhân. Trong memorabilia, Xenophon diễn tả cách Aristarchus nêu vấn đề với Socrates. Vì những điều kiện chiến tranh ông có 14 người nữ bà con, là những người bị trục xuất cư trú ở nhà của ông. Họ không có việc làm và thiếu tình cảm thông thường,, có sự lo lắng. Socrates khuyên ông để họ làm việc, dù là người quyền quí hay không. Aristarchus làm theo và hoàn cảnh được giải quyết. ‘Có sự vui vẻ thay vì những gương mặt u sầu; họ yêu thương (philein) như một người bảo hộ; ông quan tâm họ với sự yêu mến (agapan), vì họ sống ích lợi (Xenophon, Memorabiliă 2.7.12). Một lần nữa có sự nồng ấm trong philein agapan không có.

Sẽ không đúng nếu nói rằng Tân Ước không abo giờ dùng bất cứ từ ngữ nào ngoài agapè để diễn tả tình yêu Cơ-Đốc. Môt vài lần philein cũng được dùng. Philein được dùng cho cha yêu thương con (Giăng 5:20); Đức Chúa Trời yêu thương con người (Giăng 16:27); của lòng kính mộ mà con người phải cư xử với Chúa Jêsus (I Côr. 16:22); nhưng sự xuất hiện của philein ít thôi so với agapè xuất hiện 120 lần và agapan hơn 130 lần. Trước khi chúng ta tiếp tục khảo sát cách dùng chi tiết của những từ ngữ đó, có những điều chắc chắn và ý nghĩa của những từ nầy phải được ghi nhận. Chúng ta phải hỏi tại sao ngôn ngữ Cơ-Đốc bỏ rơi những từ Hi văn khác về tình yêu mà tập trung vào những từ agapè agapan?

Thành thật mà nói rằng tất cả những từ khác đã có những phẩm chất làm cho nó không còn phù hợp. Eròs đã xác định hoàn toàn liên hệ với phương diện thấp hèn của tình yêu, nó chỉ về sự say mê hơn là yêu thương. Storgè lại hoàn toàn thu hẹp với tình cảm gia đình, không bao giờ có sự mở rộng với quan niệm Cơ-Đốc đòi hỏi.

Philía là một từ đầy yêu thương nhưng hoàn toàn là một từ của sự nồng ấm, gần gũi và yêu mến, chỉ được dùng cách chính xác về sự gần gũi và thân mật. Cơ-Đốc giáo cần một từ cao hơn những từ đó. Tư tưởng Cơ-Đốc tập trung vào từ agapè, ví đó là một từ ngữ duy nhất có khả năng thỏa mãn ý yêu cầu.

Lý do quan trọng khiến tư tưởng Cơ-Đốc tập trung vào agapè agapè đòi hỏi sự thực hành của mọi người. Tình yêu Cơ-Đốc không phải chỉ mở rộng cho những người thân nhất, gần nhất, bà con thân tộc, bạn hữu và những người yêu thương chúng ta; tình yêu Cơ-Đốc phải mở rộng đến sự thông công Cơ-Đốc, đến láng giềng, đến kẻ thù, đến khắp thế giới.

Bây giờ, tất cả những từ thông thường về tình yêu là những từ diễn tả cảm xúc. Nó là những từ phải thực hiện với tấm lòng. Nó diễn đạt kinh nghiệm mà chúng ta không cần, và trong một phương diện, nó quen thuộc. Chúng ta không thể không giúp đỡ bà con thân tộc yêu thương; giọt máu đào hơn ao nước lã. Chúng ta nói về sự sụp lún vào tình yêu. Loại tình yêu đó không phải là một sự thành đạt; nó là một điều xảy đến cho chúng ta và chúng ta không thể giúp đỡ. Không có đức tánh đặc biệt nào trong sự sụp lún vào tình yêu. Nó là điều qua đó chúng ta có một chút hay không cố ý để làm; nó xảy ra đơn giản. Nhưng agapè thì vượt xa hơn.

Agapè phải được thực hiện với tâm trí: nó không phải là một cảm xúc đơn giản nổi dậy đột xuất trong lòng chúng ta; nó là một nguyên tắc từ sự sống có suy nghĩ. Agapè được thực hiện với ý muốn quan trọng nhất. Nó là một sự chinh phục, một chiến thắng và thành đạt. Không ai tự nhiên yêu thương kẻ thù. Yêu thương kẻ thù là một sự chinh phục tất cả sở thích, tình cảm thiên nhiên của chúng ta.

Từ ngữ agapè nầy, tình yêu Cơ-Đốc nầy, không phải chỉ đơn thuần là một kinh nghiệm của cảm xúc đến với chúng ta cách đột xuất và không cần thiết; nó là một nguyên tắc có cân nhắc của tâm trí,, là một sự chinh phúc có suy tính, một thành tựu có ý muốn. Thật ra nó là năng lực để yêu thương kẻ thù không đáng yêu, để yêu người mà chúng ta không thích. Cơ-Đốc giáo không đòi chúng ta yêu kẻ thù và yêu thương mọi người cách chung chung như chúng ta yêu thương người thân thuộc nhất và thân cận nhất; nhưng đòi hỏi chúng ta dành thì giờ với cái nhìn chính xác và một sự hướng dẫn chính xác của ý chí hướng về mọi người, bất kể họ là ai.

Vậy thì agapè là gì? Phân đoạn Kinh thánh quan trọng nhất giải thích ý nghĩa agapè là Mathiơ 5:43-48. Trong đó chúng ta được lịnh yêu thương kẻ thù. Tại sao? Mục đích để chúng ta được giống Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã làm gương mẫu như thế nào? Đức Chúa Trời đã ban mưa cho người công bình và không công bình, kẻ ác và người lành. Đó là điều Chúa Jêsus muốn nói bất kể người đó là ai, Đức Chúa Trời không làm điều gì ngoài sự tốt lành nhất cho người đó.

Dù người đó là người thánh hoặc một tội nhân, sự mong đợi duy nhất của Đức Chúa Trời là làm điều tốt lành nhất cho người đó. Bây giờ, đó là ý nghĩa thật của agapè. Agapè là tinh thần: “Bất cứ ai làm gì cho tôi, tôi sẽ không bao giờ tìm cách gây tổn hại cho họ; tôi sẽ không bao giờ xếp đặt để trả thù; tôi sẽ luôn luôn không làm điều gì ngoài sự tốt lành nhất cho người đó”. Đó là tình yêu Cơ-Đốc, agapè, là lòng nhân từ không thể bị chinh phục, là ý muốn tốt lành không thể bị đánh bại. Nó không đơn giản là làn sóng cảm xúc, nó là một sự tin quyết có cân nhắc của lý trí ra từ một đời sống khôn ngoan thận trọng; nó là một thành quả chín chắn và là một sự chinh phục, một đắc thắng của ý chí. Nó khiến tất cả mọi điều thuộc một người đạt được tình yêu Cơ-Đốc; nó khiến không phải chỉ tấm lòng người đó, mà cả tâm trí và ý muốn của người đó được thành.

Nếu như vậy, có hai điều cần ghi nhận:

(1)         Agapè thuộc con người, tình yêu của chúng ta hướng về những người đồng công của chúng ta, chắc chắn trở nên một kết quả của Đức Thánh Linh. Tân Ước nói rõ ràng điều đó (Rôma 15:30; Gal. 5:22; Côl. 1:8). Agapè Cơ-Đốc trái với cảm xúc tự nhiên nên nó không thể có trong người thiên nhiên. Con người chỉ có thể thực hiện lòng nhân từ, chỉ có thể được tẩy sạch khỏi hận thù và cay đắng khi Đức Thánh Linh chiếm hữu người đó, làm cho tình yêu của Đức Chúa Trời tràn ngập trong lòng.

Agapè Cơ-Đốc không khả thì đối với một người trừ khi người đó là Cơ-Đốc nhân. Không ai có thể thực hiện luân lý Cơ-Đốc được trừ khi trở nên Cơ-Đốc nhân. Người đó thấy rõ lòng khao khát luân lý Cơ-Đốc; người đó có thể thấy nlà đáp án cho những vấn đề của thế giới; trong lòng người đó muốn nhận nó; thực tế người đó không thể sống theo nó cho đến khi Đấng Christ sống trong người đó.

(2)         Khi chúng ta hiểu ý nghĩa agapè là gì thì gặp sự phản đối rằng xã hội đặt nền tảng trên tình yêu nầy sẽ là Thiên đàng cho tội ác, đơn giản là cho phép kẻ ác có một con đường phạm tội. Nếu chúng ta không tìm điều gì ngoài sự tốt lành nhất của con người, chúng ta có thể cần phải kháng cự, hình phạt, phải cứng rắn với người đó – vì sự tốt lành cho linh hồn đời đời của người đó.

Những sự kiện gợi nhớ rằng bất cứ điều gì chúng ta làm cho người đó sẽ không bao giờ trở thành sự trả thù, nó sẽ không bao giờ trở thành một sự trả thù đơn thuần, nó sẽ luôn phải làm trong tình yêu tha thứ, luôn tìm điều tốt nhất của người đó. Trong những trường hợp khác, agapè có nghĩa là đối xử với con người cũng như Đức Chúa Trời đối xử với họ - và không có nghĩa là cho phép họ làm điều họ thích mà không bị kềm chế.

Khi nghiên cứu Tân Ước, chúng ta thấy tình yêu là nền tảng của mọi mối tương giao trọn vẹn trên trời dưới đất.

i.              Tình yêu là nền tảng tương giao giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, giữa Đức Chúa Trời với Chúa Jêsus Christ. Chúa Jêsus có thể nói đến tình yêu của Cha dunù yêu thương “Con” (Giăng 17:26), Chúa Jêsus là “Con yêu dấu” của Đức Chúa Trời (Giăng 3:35; 10:17; 15:9; 17:23-24; Côl. 1:13).

ii.            Tình yêu là nền tảng tương giáo giữa Đức Chúa Con với Đức Chúa Cha. Mục đích trọn đời sống của Chúa Jêsus trên đất là tỏ cho thế giới biết Ngài yêu mến Cha (Giăng 14:31).

iii.          Tình yêu là thái độ của Đức Chúa Trời đối với con người (Giăng 3:16; Rôma 5:8; 8:37; II Côr. 13:14; Êph. 2:4; I Giăng 3:1, 16; 4:9-10). Đôi khi Cơ-Đốc giáo được giới thiệu như một phương pháp hiền lành và yêu thương của Chúa Jêsus để làm êm dịu sự nghiêm khắc và giận dũ của Đức Chúa Trời, như Chúa Jêsus đã làm  một điều thay đổi thái độ của Đức Chúa Trời đối với con người. Cựu Ước không biết về điều đó. Toàn thể tiến trình cứu rỗi bắt đầu vì Đức Chúa Trời quá yêu thương thế gian.

iv.          Bổn phận của con người là yêu thương Đức Chúa Trời (Math. 22:37; Mác 12:30; Luca 10:27; Rôma 8:28; I Côr. 2:9; II Tim. 4:8; I Giăng 4:19). Cơ-Đốc giáo không nghĩ về con người qui phục quyền năng của Đức Chúa Trời; mà nghĩ về con người đầu phục tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Không phải là ý muốn của con người bị nhồi nhét, nhưng là một tấm lòng tan vỡ.

v.            Động cơ quyền năng từ sự sống của Chúa Jêsus là yêu thương con người (Giăng 15:9; Gal. 2:20; Êph 5:2; II Tês. 2:16; Khải.1:5). Quả thật Chúa Jêsus là Đấng yêu thương con người.

vi.          Bản chất niềm tin Cơ-Đốc là tình yêu thương của Chúa Jêsus (Giăng 21:15-16; Êph. 6:24; I Phi. 1:8). Như chính Chúa Jêsus là Đấng yêu thương con người, thì Cơ-Đốc nhân cũng là người yêu thương của Đấng Christ.

vii.        Dấu hiệu sự sống Cơ-Đốc là tinh yêu thương của Cơ-Đốc nhân đối với người lân cận (Giăng 13:34; 15:12-17; I Phi. 1:22; I Giăng 3:11, 23; I Giăng 4;7). Cơ-Đốc nhân là người yêu thương Chúa Jêsus và là người yêu thương tha nhân..

Nền tảng của mọi mối tương giao thật có thể nhận thức được trên trời dưới đất là sự yêu thương. Tất cả mối tương giao giữa người với trời được lập trên tình yêu thương.

Tân Ước nói rất nhiều với chúng ta về sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với con người.

(i)           Yêu thương là bản tánh của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là sự yêu thương (II Côr. 13:11; I Giăng 4:7-8).

(ii)         Sự yêu thương của Đức Chúa Trời là yêu thương muôn vật. Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, không phải chỉ yêu thương một quốc gia được chọn (Giăng 3:16).

(iii)       Sự yêu thương của Đức Chúa Trời là sự yêu thương tăng tiến. Bằng cớ là Đức Chúa Trời đã ban Con của Ngài cho loài người (Giăng 3:16; I Giăng 4:9-10). Chúa Jêsus bảo chứng tình yêu của Ngài đối với chúng ta bằng cách phó chính Ngài vì chúng ta (Gal. 2:20; Êph. 5:2; Khải 1:5).

(iv)       Sự yêu thương của Đức Chúa Trời là yêu thương con người không xứng đáng. Trong khi chúng ta là tội nhân và là thù nghịch, thì Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta và Chúa Jêsus đã chết thay chúng ta (Rôma 5:8; I Giăng 3:1; 4:9-10).

(v)         Sự ỳt của Đức Chúa Trời là sự yêu thương  thương xót (Êph. 2:4), không phải là chiếm hữu độc tài, áp bức, mà là yêu thương nóng cháy từ tấm lòng thương xót.

(vi)       Sự yêu thương của Đức Chúa Trời là sự yêu thương giảic ứu và thánh hóa (II Tê. 2:13), nó giải thoát con người khỏi hoàn cảnh quá khứ và làm cho họ tiếp nhận những hoàn cảnh tương lai.

(vii)     Sự yêu thương của Đức Chúa Trời là yêu thương làm cho vững mạnh. Trong và qua sự yêu thương đó, một người trở nên dắc thắng có thừa (Rôma 8:37), nó không phải là sự yêu thương làm mềm yếu và nương dựa khiến con người thành yếu đuối, ủy mị; nó là tình yêu khiền trở nên những anh hùng.

(viii)   Sự yêu thương của Đức Chúa Trời là sự yêu thương bất phân ly (Rôma 8:39) Trong sự yêu thương của con người thiên nhiên thì đưa đến sự kết thúc, ít nhất là một thời gian, nhưng tình yêu của Đức Chúa Trời tồn tại qua những hòn cảnh, những đổi thay và những đe dọa cuộc sống.

(ix)       Sự yêu thương của Đức Chúa Trời là yêu thương có thưởng (Gia cơ 1:12; 2:5). Trong cuộc sống hiện tại, yêu thương là điều quý báu, những lời hứa của yêu thương vẫn quan trọng hơn đối với sự sống hầu đến.

(x)       Sự yêu thương của Đức Chúa Trời là sự yêu thương sửa phạt (Hêb. 12:6). Một sự yêu thương biết rằng kỷ luật là phần yếu tố cần thiết của sự sống.

Tân Ước nói nhiều về tình yêu của loài người đối với Đức Chúa Trời phải là:

(i)       Tình yêu đó phải trở nên độc nhất (Math. 6:24; Luca 16:13). Chỉ có duy nhất một phòng cho một lòng trung tín trong đời sống Cơ-Đốc.

(ii)       TÌnh yêu đó là sự yêu thương độc lập trên lòng biết ơn (Luca 7:42, 47). Những sự ban cho yêu thương của Đức Chúa Trời đòi hỏi tấm lòng báo đáp trọn vẹn của chúng ta.

(iii)       Tình yêu là sự yêu thương biết vâng lời. Một lần nữa Tân Ước xác nhận con đường duy nhất để chúng ta có thể chứng minh rằng chúng ta yêu Đức Chúa Trời là qua sự dâng hiến cho Chúa sự vâng lời tuyệt đối (Giăng 13:35; 14:15, 21, 23, 24; 15:10; I Giăng 2:5; 5:2-3; II Giăng 6). Sự vâng lời là bằng cớ tối hậu của yêu thương.

(iv)       Tình yêu thương là sự yêu thương ban ra. Sự kiện chúng ta yêu thương Đức Chúa Trời được chứng minh bằng sự kiện chúng ta yêu thương và giúp đỡ những người đồng công (I Giăng 2:20; 3:14; 4:12, 20). Không làm được việc giúp đỡ mọi người chứng tỏ sự yêu thương của chúng ta đối với Đức Chúa Trời không đúng và không thật (I Giăng 3:17).

Vâng lời Đức Chúa Trời và giúp đỡ mọi người là hai điều chứng minh tình yêu thương của chúng ta.

Bây giờ chúng ta trở lại phương diện khác của bức tranh – tình yêu thương của con người đối với con người.

(i)        Sự yêu thương phải trở nên chính bầu không khí sự sống của Cơ-Đốc nhân (I Côr. 16:14; I Tê. 1:3; 3:6; II Tê. 1:3; Êph. 5:2; Khải. 2:9). Tình yêu thương là biểu hiện của xã hội Cơ-Đốc. Một Hội thánh có sự cây đắng và xung đột, có thể gọi đó là Hội thánh của loài người, không phải Hội thánh của Đấng Christ, nó phá hủy bầu không khí sự sống Cơ-Đốc và sẽ bị bóp chết; nó đánh mất biểu hiện sự sống Cơ-Đốc và không còn được công nhận là Hội thánh.

(ii)         Yêu thương là điều bởi đó Hội thánh được xây dựng lên (Êph. 4:16), là chất xi-măng kết hiệp Hội thánh lại, là môi trường để Hội thánh lớn lên, là thức ăn nuôi dưỡng Hội thánh.

(iii)       Động lực của người lãnh đạo Cơ-Đốc phải là yêu thương (II Côr. 11:11; 12:15; 2:4; I Tim. 4:12; II Tim. 3:10; II Giăng 1; III Giăng 1). Không có chỗ trong Hội thánh đối với người chiềm một chức vụ trong Hội thánh vì danh, lợi, quyền. Động cơ duy nhất của người lãnh đạo Cơ-Đốc phải là yêu thương và phục vụ Đức Chúa Trời với những người đồng công.

(iv)       Cùng thái độ như vậy, Cơ-Đốc nhân đối với những người lãnh đạo phải là thái độ yêu thương (I Tê. 5:13). Rất thường khi là thái độ chỉ trích, bất mãnh và oán giận. Mối liên kết đội quân Cơ-Đốc là liên kết yêu thương giữa tất cả các cấp bậc trong quân đội.

Yêu thương Cơ-Đốc bao giờ cũng là vòng tròn phát triển rộng ra.

(i)           Yêu thương Cơ-Đốc bắt đầu trong gia đình (Êph. 5:25, 28, 33). Sự kiện không được quên là gia đình Cơ-Đốc chính là bằng cớ tốt nhất của Cơ-Đốc giáo trong thế gian. Sự yêu thương Cơ-Đốc bắt đầu tại nhà riêng. Một người đã không làm cho gia đình mình trở thành một trung tâm Cơ-Đốc yêu thương, thì không thể thực hiện quyền lực trong gia đình lớn hơn là Hội thánh.

(ii)         Tình yêu Cơ-Đốc ra đi với tình anh em (I Phi. 2:17). Những người ngoại trong những ngày đầu tiên đã ngạc nhiên kêu lên, “Hãy xem các những Cơ-Đốc nhân nầy yêu thương người khác”. Một trong những trở lực lớn nhất của Hội thánh hiện nay là đối với người ngoài, thường xuất hiện những Hội thánh như một tập thể tranh cãi cách cay đắng về những điều không đáng. Một Hội thánh bao phủ trọn vẹn trong sự hòa thuận yêu thương lẫn nhau, là việc phi thường hiếm có. Hội thánh không phải là một nơi mọi người cùng nghĩ, việc gì cũng đồng ý; Hội thánh là một tập thể nhiều người khác nhau mà vẫn yêu thương nhau.

(iii)       Tình yêu thương Cơ-Đốc đi ra với những láng giềng (Math. 19:19; 22:39; Mác 12:31; Luca 10:27; Rôma 13:9; Gal. 5:14; Giacơ 2:8). Định nghĩa người láng giềng các đơn giản là bất cứ người nào có những nhu cần. Như một thi sĩ La Mã đã nói: “Tôiq uan tâm một người không phải như một khách lạ”. Sự kiện đơn giản đem nhiều người vào Hội thánh là bởi lòng nhân ái từ tình yêu Cơ-Đốc thật hơn là bởi tất cả những cuộc tranh cãi thần học trên thế giới. Nhiều người rời bỏ Hội thánh bởi sự cứng cỏi, xấu xa của cái gọi là Cơ-Đốc giáo hơn là bởi những hoài người trên thế giới.

(iv)       Tình yêu Cơ-Đốc ra đi đến với kẻ thù chúng ta (Luca 6:27; Math. 5:44). Chúng ta đã thấy rằng tình yêu Cơ-Đốc là lòng nhân ái không thể bị chinh phục và ý nhân từ không thể bị bắt phục. Cơ-Đốc nhân sẽ không bao giờ ngừng nghỉ tìm sự tốt lành nhất cho một người, chớ không phải người đó làm gì cho mình. Dù bị sỉ nhục, bị xúc phạm, bị thiệt hại, bi vu khống, Cơ-Đốc nhân sẽ không bao giờ ghét và không bao giờ để sự cay đắng trong lòng. Khi Lincoln bị tố cáo cư xử với những kẻ thù chống đối ông quá ưu đãi, tử tế, khi được chỉ ra tất cả bổn phận của ông là tieu diệt họ, ông trả lời: “Bộ không phải tôi tiêu diệt những kẻ thù của tôi khi tôi khiến họ thành bạn của tôi sao?” Phương pháp duy nhất của Cơ-Đốc nhân để tiêu diệt kẻ thù là hãy yêu thương họ, biến họ thành bạn.

Bây giờ chúng ta phải chú ý những đặc điểm tình yêu Cơ-Đốc.

(i)           Yêu thương phải thành thật (Rôma 12:9; II Côr. 6:6; 8:8; I Phi. 1:22). Không có lý do gì không nói ra, không phải là sự tính toán. Không phải vui bên ngoài để che giấu sự cay đắng bên trong. Nó là sự yêu thương với đôi mắt và tấm lòng rộng mở

(ii)        Yêu thương phải trong sạch (Rôma 13:10). Tình yêu Cơ-Đốc không bao giờ làm hại bất cứ người nào. Cái gọi là yêu thương có thể làm hại người qua hai cách: Nó có thể dắt người vào tội lỗi, hoặc có thể trở thành quá lệ thuộc, quá chắt lót. Sự yêu thương của người mẹ có thể trở nên yêu thương mù quáng.

(iii)       Yêu thương phải rộng lượng (II Côr. 8:24). Có hai loại yêu thương – yêu thương dòi hỏi và yêu thương ban cho. Tình yêu Cơ-Đốc là tình yêu ban cho, bởi vì nó là bản sao yêu thương từ Chúa Jêsus Christ (Giăng 13:34), và động cơ chính của tình yêu là tình yêu ban cho của Đức Chúa Trời (I Găng 4:11).

(iv)       Yêu thương phải thực tế (Hêb. 6:10; I Giăng 3:18). Tình yêu không đơn thuần là cảm giác tử tế, nó không tự giới hạn muốn làm một người ngoan đạo tốt, nó là sự yêu thương phát ra hành động.

(v)         Yêu thương phải nhịn nhục (Êph. 4:2). Tìh yêu Cơ-Đốc là chứng cớ chống lại những điều rất dễ xoay yêu thương thành ghen ghét, cho nên yêu thương bao giờ cũng phải nhịn nhục.

(vi)       Yêu thương là ban phát sự tha thứ và khôi phục (II Côr. 2:8). Tình yêu Cơ-Đốc có thể tha thứ và trong sự tha thứ sẽ làm cho người làm sai quay về nẻo chánh.

(vii)     Yêu thương không ủy mị (II Côr 2:4). Tình yêu Cơ-Đốc không nhắm mắt trư1ơc khuyết điểm người khác. Yêu thương không mù quáng. Yêu thương sẽ dùng sự quở trách và kỷ luật khi có cần. Yêu thương mà nhắm mắt trước các khuyết điểm, lãng tránh sự không kỷ luật, đó không phải là tình yêu thật, cuối cùng không làm gì chính là làm hại người được yêu thương.

(viii)    Yêu thương kiểm soát sự tự do (Rôma 14:15; Gal. 5:13). Thật là trọn vẹn nếu để một Cơ-Đốc nhân có quyền làm bất cứ điều gì không phải là tội. Nhưng có những điều mà Cơ-Đốc thấy vô hại lại xúc phạm đến Cơ-Đốc nhạn khác; hoặc có thể vô hại cho một người mà lại phá nát người khác. Cơ-Đốc nhân không bao giờ quên sự tự do Cơ-Đốc của mình, nhưng cũng không bao giờ quên sự tự do Cơ-Đốc được kiềm soát bởi tình yêu Cơ-Đốc và bởi trách nhiệm Cơ-Đốc đối với người khác.

(ix)       Yêu thương kiểm soát sự thật (Êph. 4:15). Cơ-Đốc nhân yêu mến lẽ thật (II Tês. 2:10), nhưng không bao giờ nói sự thật cách hung dữ, thiếu cảm thông để làm tổn hại tha nhân. Người ta nói rằng Florence Allshorn, một giáo sư quan trọng, khi cô có lý do khiển trách một sinh viên nào của cô, cô luôn làm như với một vòng tay ôm lấy người bị khiển trách. Cơ-Đốc nhân không bao giờ lừa dối sự thật, nhưng luôn nhớ rằng yêu thương và sự thật phải đi song song.

(x)         Yêu thương là dây ràng buộc giữ mối thông công Cơ-Đốc (Philíp 2:2; Côl. 2:2). Phaolô nói về các Cơ-Đốc nhân được liên kết trong sự yêu thương. Quan điểm thần học của chúng ta có thể khác nhau; quan điểm về phương pháp của chúng ta khác nhau, nhưng qua những sự khác nhau đó sẽ đưa đến điều phải nhớ là chúng ta cùng yêu Đấng Christ, vì vậy, chúng ta yêu mọi người.

(xi)       Yêu thương cho phép Cơ-Đốc nhân có quyền yêu cầu sự giúp dỡ hay sự chiếu cố từ Cơ-Đốc nhân khác (Philêmôn 9). Nếu chúng ta thật sự cùng nhau hướng về tình yêu như chúng ta đáng phải làm, chúng ta sẽ tìm thấy rất dễ yêu cầu và tự nhiên ban cho khi có nhu cần.

(xii)     Yêu thương là động lực của niềm tin (Gal. 5:6). Nhiều người bị chinh phục cho Đấng Christ bởi sự kêu gọi của con tim hơn là bởi cái đầu. Niềm tin được sanh ra không nhiều từ sự tìm hiểu thuộc trí óc, như sự nâng đỡ của thập tự giá Đấng Christ. Sớm hay muộn chúng ta cũng phải nghĩ những điều bên ngoài, nhưng trong Cơ-Đốc giáo, trái tim phải cảm nhận trước khi trí óc có thể nghĩ đến.

(xiii)   Sự yêu thương là sự trọn vẹn của đời sống Cơ-Đốc (Rôma 13:10; Côl. 3;14; I Tim. 1:5; 6:11; I Giăng 4:12). Trong thế gian không có gì cao cả hơn tình yêu. Nhiệm vụ quan trọng của bất cứ Hội thánh nào không phải chủ yếu là làm hoàn hảo những cơ sở hoặc nghi lễ, hoặc âm nhạc, hoặc những lễ phục, mà là làm hoàn hảo sự yêu thương.

Cuối cùng, Tân Ước xác nhận có những cách nào đó sự yêu thương có thể bị hướng dẫn sai.

(i)           Yêu thương của thế gian là yêu thương chỉ dẫn sai (I Giăng 2:15). Như Đê-ma yêu thương thế gian nên đã lìa bỏ Phaolô (II Tim. 4:10). Một người có thể quá yêu thương thì giờ mà quên cõi đời đời, quá yêu thương những phần thưởng của thế gian mà quên những phần thưởng cuối cùng, quá yêu thương thế gin để nhận những tiêu chuẩn của thế gian và từ bỏ tiêu chuẩn của Đấng Christ.

(ii)         Yêu thương sự tối tăm và sợ sự sáng là hậu quả tất nhiên của tội lỗi (Giăng 3:19). Ngay khi một người phạm tội, làm điều kín giấu, thì người đó thích sự tối tăm, nhưng sự tối tăm có thể che giấu loài người, không thể che giấu Đức Chúa Trời.

(iii)       Vì vậy, để kết thúc, chúng ta thấy hai điều mà đời sống Cơ-Đốc được xây trên đó như một cặp song sinh là yêu thương Đức Chúa Trời và yêu thương con người.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by