You are hereEKKLÈSIA - HỘI THÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

EKKLÈSIA - HỘI THÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI


By admin - Posted on 28 December 2013

EKKLÈSIA

HỘI THÁNH của ĐỨC CHÚA TRỜI

 

Ekklèsia là từ ngữ trong Tân Ước chỉ về “Hội thánh”, và vì vậy là một trong tất cả những từ ngữ Tân Ước quan trọng nhất. Giống như nhiều từ ngữ Tân Ước khác, nó có hai bối cảnh.

(i)  Ekklèsia có một bối cảnh Hi Lạp.

Trong những ngày cổ xưa tại Athens, ekklèsia là một Hội đồng dân sự được tập hợp lại. Nó gồm tất cả những thị dân của thành phố là những người không mất quyền công dân. Trừ khi những quyết định phải làm cho phù hợp với luật pháp của Bang, những quyền lực của Hội Đồng thị dân thành phố hầu như không giới hạn. Hội Đồng tuyển chọn và giải tán những quan tòa, điều khiển nền chính trị của thành phố, tuyên bố chiến tranh hay hòa bình, ký kết hiệp ước và sắp xếp liên minh. Hội Đồng nầy tuyển chọn các tướng lãnh, các sĩ quan quân đội khác. Hội Đồng phân bổ quân vào các chiến dịch khác nhau, điều quân từ các thành phố. Hội Đồng có trách nhiệm tối hậu để điều khiển tất cả hoạt động quân sự. Hội Đồng đề xuất và phân phối công quỹ. Có hai điều đáng chú ý trong bản ghi chú. Thứ nhất, tất cả cuộc họp của Hội Đồng bắt đầu với sự cầu nguyện và dâng tế. Thứ hai, nó là một nền dân chủ thật sự. Hai khẩu hiệu quan trọng của nó là: Công bằng và Tự do (eleutheria). Hội Đồng là một hội chúng mà mọi người có quyền lợi và bổn phận như nhau dự phần. Khi một trường hợp yêu cầu đúng của bất cứ cá nhân nào đưa ra trước Hội Đồng – như trong trường hợp sa thải hoặc trục xuất – ít nhất 6.000 công dân phải hiện diện. Trong thế giới Hi Lạp rộng hơn, ekklèsia trở thành ý nghĩa của bất cứ cuộc họp công dân đúng đắn nào. Chú ý ghi nhận rằng thế giới La Mã không cố dịch từ ngữ ekklèsia; nó được chuyển ngữ thành ecclesia và dùng cùng một cách. Có một thủ bản song ngữ đáng chú ý được tìm thấy tại Athens (năm 103-104 SC.). Thủ bản có thể được đọc dựa vào bối cảnh Công vụ 18. Một Caius Vibius Salutaris nào đó đã giới thiệu cho thành phố một tượng nữ thần Đi-anh và những tượng khác. Thủ bản xác nhận rằng những tượng đó được dựng trên những bệ tại những nơi ekklèsia trong Hí viện của thành phố. Đối với người Hi Lạp và người La Mã, từ ngữ tương đương ý nghĩa một hội chúng được họp lại. Vì vậy, khi chúng ta chú ý từ ngữ dựa vào bối cảnh nầy, như Deissmann dùng nó, Hội thánh là hội chúng của Đức Chúa Trời, một tập hợp của Đức Chúa Trời, và Đấng triệu tập là Đức Chúa Trời.

(ii) Ekklèsia có một bối cảnh Hi-bru.

Trong bản 70 dịch từ ngữ Hi-bru aqual một lần nữa từ nghĩa gốc là ‘triệu tập, mời đến’. Nó thường được dùng chỉ về ‘hội chúng’ hoặc ‘hội đồng’ của dân Y-sơ-ra-ên. Trong Phục. 18:16; Quan. 20:2, được dịch là ‘hội, nhóm hiệp’; và trong Lê-vi 10:17; Dân 1:16; I Vua 8:14, được dịch là ‘hội chúng’. Từ ngữ rất thông dụng trong bản 70, xuất hiện trên 70 lần. Do đó, theo ý nghĩa tiếng Hi-bru, nó có nghĩa là dân sự của Đức Chúa Trời được Đức Chúa Trời kêu gọi hiệp lại, để lắng nghe hay làm việc cho Đức Chúa Trời. Trong ý nghĩa nào đó, từ ngữ ‘hội chúng’ mất đi phần nào ý nghĩa chủ yếu. Một ‘hội chúng’ là một hội dân sự ‘những người đến hiệp lại’; một aqual hay một ekklèsia là một nhóm dân chúng ‘được kêu gọi hiệp lại’. Hai từ ngữ gốc, Hi-bru và Hi văn, dùng nhấn mạnh hành động của Đức Chúa Trời.

F. J. A. Hort chỉ ra một cách chính xác, ban đầu từ ngữ không có nghĩa như thường nói là một nhóm người được ‘đem (biệt) ra’ khỏi thế gian. Nó không có nghĩa riêng biệt đó. Nó có nghĩa một nhóm người được ‘gọi (mời) ra’ khỏi ‘nhà của họ đến gặp Đức Chúa Trời’. Cả hai nguồn gốc Hi-bru hoặc Hi văn đều dùng, ý đó không phải là riêng biệt, nhưng bao gồm những sự triệu tập (gọi, mời), không có sự chọn lựa, vì nó là sự triệu tập của Nhà Nước để mọi người đến gánh vác trách nhiệm; nó là những sự triệu tập từ Đức Chúa Trời để mọi người đến nghe, làm theo lời của Đức Chúa Trời.

Vì vậy, thực chất, Hội thánh ekklèsia là một nhóm người, không phải tập hợp lại vì họ được chọn để họp lại, nhưng họp lại vì Đức Chúa Trời đã gọi họ đến với chính Ngài; không phải tập hợp để chia sẻ những tư tưởng hoặc quan điểm, nhưng tập hợp lại nghe tiếng của Đức Chúa Trời.

Trong Tân Ước, ekklèsia có thể được dùng trong 3 cách khác nhau:

(i)  Nó có nghĩa ‘Hội thánh phổ thông’ (I Côr. 10:32; 12:38; Philíp 3:6)

(ii)  Nó có nghĩa là ‘Hội thánh địa phương cá biệt’ (Rôma 16:1; I Côr. 1:2; Gal. 1:2)

(iii)  Nó có nghĩa là ‘cuộc họp hiện tại’ của những người tin ở bất cứ nơi nào, gặp nhau để thờ phượng (I Côr. 11:18; 14:19, 23).

Trong vấn đề nầy hình như được Phaolô triển khai. Trong những thư rất sớm, Phaolô đã nghĩ như vậy hơn là những hội chúng cá biệt. Thí dụ, Phaolô nói về ekklèsia tại Tê-sa-lô-ni-ca (I Tês. 1:1; II Tês. 1:2). Nhưng sau đó Phaolô nói về ekklèsia của Đức Chúa Trời tại thành Cô-rin-tô (I Côr. 1:2). Phaolô suy nghĩ về Hội thánh, không phải trong phạm vi những hội chúng riêng lẻ, nhưng trong phạm vi một Hội thánh phổ thông mà mỗi hội chúng là một phần. Sir William Ramsay đã thấy trong Đế quốc La Mã một sự dự báo rõ ràng ảnh hưởng đến tư tưởng của Phaolô. Bất cứ một nhóm công dân La Mã nào, hội họp bất cứ nơi nào khắp thế giới, là một conventus civium Romanorum “một cuộc họp của các công dân La Mã”. Bất cứ nơi nào họ được họp lại, họ được dự phần quan niệm của La Mã. Họ không phải là một phần từ La Mã, mà dự phần trong tổng thể lớn. Và bất cứ một công dân nào bước vào thành phố đó thì tự động trở nên một thành viên trong nhóm mà không cần giới thiệu. là một nhóm cách biệt với La Mã về không gian, nhưng về tinh thần, họ là một phần của La Mã. Đó là quan điểm chính xác của Phaolô về Hội thánh. Một người phải là thành viên của hội chúng địa phương, trong một nhóm qui định nào đó; nhưng nếu tư tưởng người ấy dừng lại ở đó, y bị xa rời quan điểm thật của Hội thánh.

Hội thánh là một vũ trụ bao quát, mà những hội chúng nhỏ của Phaolô được tạo thành là một phần, điều quan trọng không phải ông là thành viên của một hội chúng nào đó, hay một nhóm đạo nào đó, nhưng ông là một thành viên của Hội thánh Đức Chúa Trời. Lấy một sự so sánh với quân đội - một người phải hãnh diện được làm một người lính thuộc những dân tộc vùng cao nguyên Argyll và Sutherland; nhưng đoàn quân đó là một phần của đội quân thứ 8, việc đó sẽ đem đến cho người lính một sự hãnh diện lớn hơn; đội quân đó là một phần của đội quân quê hương, nó phải là sự hãnh diện lớn nhất trong tất cả.

Hãnh diện về một hội chúng là điều tốt; nhớ truyền thống của một Giáo hội cũng là một điều tốt. Tốt nhất trong tất cả là biết rõ mình được làm thành viên của Hội thánh Đức Chúa Trời.

Trong Tân Ước, Hội thánh đặt trước chúng ta ba sự liên hệ:

(i)  Thỉnh thoảng – không thường xuyên - diễn tả trong những giới hạn con người. Thí dụ, Phaolô nói về Hội thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca (I Tês. 1:1; II Tês. 1:2). Trong một phương diện, Hội thánh là sản phẩm của con người và thuộc con người; con người là những viên gạch được xây trong công trình vĩ đại của Hội thánh.

Phải chú ý, trong suốt Tân Ước, từ ngữ Hội thánh không bao giờ được dùng chỉ về một ‘tòa nhà’. Từ ngữ luôn luôn chỉ về một nhóm người nam nữ đã dâng tấm lòng cho Đức Chúa Trời.

(ii) Quen thuộc hơn, từ ngữ được diễn tả trong phạm vi thiêng liêng. Sự mô tả phổ thông nhất là “Hội thánh của Đức Chúa Trời” (I Côr. 1:2; II Côr. 1:1; Gal. 1:13; I Tês. 2:14; I Tim. 3:5, 15). Hội thánh thuộc về Đức Chúa Trời và đến từ Đức Chúa Trời. Nơi nào không có sự yêu thương của Đức Chúa Trời, nơi đó sẽ không phải là Hội thánh; nơi nào Đức Chúa Trời truyền đạt chính Ngài, nơi đó sẽ có sứ điệp và sự vùa giúp trong Hội thánh.

(iii)  Đôi khi Hội thánh được mô tả là Hội thánh của Đấng Christ. (a) Trong sự liên hệ nầy, Đấng Christ là đầu của Hội thánh (Êph. 5:23-24). Hội thánh phải sống và hoạt động theo tâm chí tư tưởng và ý muốn của Đấng Christ. (b) Hội thánh là thân thể Đấng Christ (Côl. 1:24). Đấng Christ hành động qua Hội thánh. Hội thánh phải là những cánh tay làm việc cho Đấng Christ, là những bàn chân chạy việc của Chúa; giọng nói để nói về Đấng Christ. Một người Ấn Độ diễn tả Hội thánh như sau: “Hội thánh là sự tiếp tục đời sống Đấng Christ”.

Một điểm cuối cùng cần được ghi nhận. Trong thời kỳ Tân Ước, Hội thánh không có những công trình kiến trúc. Các Cơ-Đốc nhân nhóm trong một nhà nào đó có một phòng đủ rộng chứa được họ. Những sự nhóm họp nầy được gọi là “Hội thánh nhà riêng” (Rô. 16:5; I Côr. 16:19; Côl. 4:15; Philêmôn 2). Mỗi nhà phải có nghĩa thật sự là Hội thánh, Chúa Jêsus là Chúa của Bàn Tiệc Thánh; Hội thánh là nơi tốt nhất để cầu nguyện một mình và cùng nhau cầu nguyện.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 4 guests online.

Hosting by