You are hereENERGEIA, ENERGEIN, ENERGÈMA, ENERGÈS HÀNH ĐỘNG TRONG QUYỀN NĂNG THIÊN THƯỢNG

ENERGEIA, ENERGEIN, ENERGÈMA, ENERGÈS HÀNH ĐỘNG TRONG QUYỀN NĂNG THIÊN THƯỢNG


By admin - Posted on 17 January 2014

ENERGEIA, ENERGEIN, ENERGÈMA, ENERGÈS

HÀNH ĐỘNG TRONG QUYỀN NĂNG THIÊN THƯỢNG.

Ai cũng biết từ ngữ energy (năng lượng, năng lực tiềm tàng) trong tiếng Anh có gốc từ những từ từ ngữ Hi Lạp nầy. Trong Tân Ước, những từ ngữ nầy không bao giờ được dùng diễn tả quyền năng của con người. Nó luôn luôn được dùng mô tả hành động một vài quyền năng vượt xa hơn quyền năng của con người và của thế gian. Trong những trường hợp hiếm hoi, những từ nầy mô tả hành động của một quyền năng độc ác, thuộc ma quỉ, thù địch với Đức Chúa Trời; nhưng thông thường từ ngữ được dùng mô tả hành động của Đức Chúa Trời nhiều hơn.

 Vì vậy, đây là những từ ngữ rất quan trọng, bởi vì qua đó, chúng ta sẽ học vài điều về quyền năng của Đức Chúa Trời qua hành động của Chúa Jêsus Christ, trong thế gian và trong đời sống của con người.

Những từ ngữ nầy du nhập vào Cơ-Đốc giáo với lịch sử lâu dài và quan trọng, qua một chặng đường dài giúp chúng ta hiểu hương vị và cách dùng Cơ-Đốc của nó. Vậy thì trước nhất chúng ta hãy nghiên cứu cách dùng của những từ ngữ nầy trong Hi văn cổ.

Chúng ta biết ý nghĩa cổ xưa của những từ ngữ nầy rõ nhất qua sự nghiên cứu từ ngữ energos, một từ không xuất hiện trong Tân Ước, nhưng nó là mầm móng ý nghĩa của tất cả những từ ngữ khác. Energos là một tính từ.

Trong tác phẩm Memorabilia của Xenophon (1:4.4), có một đoạn Socrate đang thảo luận những hành động của  một người đã được chuẩn bị để tôn kính các văn sĩ, nghệ sĩ quan trọng, nhưng không được chuẩn bị để tôn kính các thần. Socrate đòi hỏi, ‘Bạn nghĩ điều nào xứng đáng với sự khâm phục hơn, những bóng ma tạo hóa không lý trí và không cử động, hay là những tạo hóa hằng sống khôn ngoan, những bản chất con người chủ động?’ Energos diễn tả cái sống rạng rỡ và sống động.

Herodotus (8.26) nói về những người Arcadi đào ngũ đến với những người Pherơsơ, bởi vì họ cần lương thực và muốn được làm việc (energos). Energos diễn tả hoạt động phản nghĩa với sự không hoạt động.

Energos được dùng diễn tả một người đang làm việc. Plato xác nhận trong The Laws (674b): ‘Chức vụ suốt năm của các quan tòa là dẫn dắt và phân xử, trong khi đang làm việc sẽ không được uống một chút rượu nào’. Energos diễn tả một người đang làm việc chuyên môn hay sự kêu gọi.

Energos thường có liên hệ với quân sự. Thucydites nói về trường hợp hạm đội người Athen có số lượng tàu lớn nhất. Những người Athen bao giờ cũng có sự phục vụ tích cực (energos) (Thucydites, 3.17).

Xenophon nói về cách Cyrus làm một điển hình về một số người nào đó, và nói rằng nếu chúng ta muốn giữ energos - sự siêng năng hiệu quả, thích hợp với sự phục vụ tích cực của quân đội chúng ta, thì những người như vậy phải bị loại trừ (Xenophon, Cyripoedia, 2.2.23). Polibius dùng energos để diễn tả một cuộc tấn công mãnh liệt (4.63.8); một khí giới hiệu quả (1.40.12); một bước chân nhanh lẹ (5.8.34).

Energos thường được dùng về loại đất được cày cấy và vì cớ đó sản xuất được rất nhiều. Plutarch nói về một cánh đồng sản xuất đủ đểnuôi hằng ngàn người (Caesar 58). Plutarch nói về luật Peisistratus chống lại sự lười nhác ‘từ kết quả của xứ đã sản xuất nhiều (energos) hơn và thành phố thanh bình hơn’ (Solon 31). Xenophon dùng energos để mô tả đất được cày cấy phản nghĩa với đất không được cày cấy.

Energos được dùng mô tả một cái mỏ sản xuất khoáng sản chưa được khai thác hết. Nó được dùng chỉ về tiến bạc, tiền vốn không nằm ì nhưng được đem dùng sản xuất hấp dẫn. Trong cây chỉ thảo, energos được dùng diễn tả một cối xay đang hoạt động. Bản 70 dùngenergos chỉ về một ngày làm việc phản nghĩa với ngày Sa-bát cấm làm việc (Êx. 46:1).

Do đó, ở đây chúng ta có toàn bộ một loạt ý tưởng góp phần cách dùng những từ ngữ của Tân Ước. Những từ ngữ nầy có ý nghĩa sống động phản nghĩa với sự bất động; hoạt động phản nghĩa với vô dụng; hoạt động hiệu quả phản nghĩa với vô tích sự. Tất cả những ý nầy làm sáng tỏ quan niệm về hoạt động thiêng liêng của Đức Chúa Trời.

Nhưng trước khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu cách Tân Ước dùng những từ ngữ nầy, chúng ta phải chú ý vào cách dùng cổ xưa của các từ ngữ khác.

Chúng ta hãy chú ý từ ngữ energeía trong cách dùng cổ xưa. Energeía là một danh từ có nghĩa hoạt động hay hiệu quả. Khi chúng ta tiếp tục xem xét hoạt động và hiệu quả nầy có hương vị đặc biệt.

Aristotle (Rhetonic 1141b 28) dùng energeía mô tả phong cách mãnh liệt. Trong văn phạm Hi văn, energeía có một ý nghĩa kỹ thuật: nó có nghĩa là trạng thái chủ động của động từ tương phản với thụ động. Energeía dùng về sức mạnh to lớn của động cơ, một phiến gỗ phá thành (Diodorus Siculus, 20.95). Từ ngữ được dùng chỉ về hiệu suất thật sự của những công việc thích hợp với một người (Philodemus 1.91).

Galen là một tác giả y học có hai cách dùng từ ngữ rất hấp dẫn và rõ ràng. Galen mô tả nó là ‘hành động sản sinh ra từ một kết quả’ (On the Natural Faculties, í.2, 4-5). Và ông dùng(Works, ed. Kuhn, Vol. 6, p.647) chỉ về hành động và hoạt động của một dược phẩm, hay viên thuốc, trong cùng ý nghĩa như chúng ta nói về một dược phẩm đang hoạt động hay tác động.

Một điều đã trở nên rõ ràng. Toàn bộ của energeía hành động hiệu quả; không đơn giản là hành động; nó luôn luôn là hành động với mong muốn và có ý định đạt kết quả.

Aristotle có cách dùng energeía rất ý nghĩa, nó biểu lộ đặc điểm những tác phẩm luân lý của ông. Aristotle dùng energeía về điều gì thật sự tương phản với những điều chỉ là khả năng. Một người có thể xuất hiện với mọi ân tứ và tài năng, nhưng những điều đó chỉ là tiềm năng, chúng có thể vẫn còn đó, nhưng chúng không bao giờ có thể nổi bật lên thành hành động hiệu quả, nó chỉ đạt được khi những ân tứ, tài năng nầy thật sự được biểu thị qua hành động, khi đó energeía hiện hữu.

Aristotle viết trong Nicomachean Ethics (1098b 33): ‘Không nghi ngờ gì có một sự khác nhau rất lớn, chúng ta nhận thức Cái Thiện Siêu Cấp tùy thuộc vào Sở Hữu Đạo Đức, hoặc phô bày nó – trong hành động (energeía) qua sự sắp đặt, hoặc biểu thị của sự sắp đặt.

Aristotle viết (1101a 15): ‘Vậy thì, chúng ta không thể tuyên bố cách chắc chắn rằng, người hạnh phúc là người nhận thức đạo đức trọn vẹn trong hành động (energeía). Aristotle viết (1098a 16): ‘Cái Thiện của một người là thực hành những khả năng của người đó thích hợp với đạo đức và sở trường’.

Đây là điều có tánh chất gợi ý. Energeía không phải là hành động có thể của một người; mà là hành động thật sự. Energeía là sự thể hiện đặc điềm bên trong những việc làm nó là một sự nhơn từ cộng với hiệu quả, thật ra nó sức mạnh hiệu quả nhất trong thế gian. Nó không đơn giản là khả năng, không phải là khả năng chỉ dẫn sai, không hiệu quả; nó là hành động tập trung, có mục đích, có ý nghĩa, hiệu quả, năng động.

Trong Hi văn cổ, từ ngữ energein có tất cả những biểu thị đặc điểm của danh từ energeía cùng gốc. Nó có nghĩa là hành động hay hoạt động, nhưng luôn luôn với ý hiệu quả phía sau. Như chúng ta đã thấy, Aristotle dùng nó chỉ về hành động hiệu quả của đạo đức tương phản với khả năng không nhận thức của đạo đức. Polybius (1.13, 5) dùng chỉ về sự mãnh liệt và hiệu quả của một chiến dịch.

Có hai cách dùng về kỹ thuật y khoa. Nó dùng chỉ về công hiệu của dược phẩm; và là một từ Hi văn kỹ thuật thay cho hoạt động trong khoa phẫu thuật. Energeía có ý hành động song lập và hiệu quả, hành động đạt được kết quả mong muốn.

Danh từ energèma nghĩa là chủ động hoạt động hay sự hành động. Nó có nghĩa một việc làm chủ động, tương phản với điều chỉ đơn thuần chịu đựng, cam chịu. Có lẽ cách dùng gợi ý quan trọng nhất là dùng cho những công việc đòi hỏi sức lực phi thường, một nhóm công việc được kiểm soát và đưa đến một kết thúc thành công.

Energès là hình thức Tân Ước của tính từ energos cổ. Trong Hi văn cổ, nó không thông dụng, nhưng khi xuất hiện nó có nghĩa là công hiệu. Nó được dùng chỉ về những dược phẩm công hiệu; được dùng về những cổ máy bao vây công phá các tường thành.

Chúng ta càng nghiên cứu nhóm từ nầy, ý tưởng giống nhau càng tiếp tục trở lại, ý tưởng hành động, sự mạnh mẽ và quyền lực trên mọi hiệu quả. Ý tưởng quyền năng lặp đi lặp lại, ý tưởng đạt được mục đích bắt gặp trong nhóm từ nầy. Đó là tất cả sự gợi ý khi chúng ta tiếp tục xem xét những đặc điểm nhóm từ nầy trong Tân Ước, đối với hành động của Đức Chúa Trời.

Energeía xuất hiện trong Tân Ước chín lần, và chỉ xuất hiện trong thư tín của Phaolô. Trong Êph. 1:19, Phaolô nói về quyền phép tối thượng của năng lực Đức Chúa Trời, được tỏ ra trong Đấng Christ, khi Đức Chúa Trời khiến Đấng Christ sống lại từ trong kẻ chết. Trong Êph. 3:7, Phaolô nói rằng chức vụ của ông được ban cho bởi ân điển của Đức Chúa Trời qua công hiệu của quyền phép Ngài.

Trong Êph. 4:16, Phaolô mô tả thân thể Đấng Christ kết hiệp cách hài hòa, theo lượng sức mạnh của từng phần. Trong Philíp 3:21, Phaolô nói cách chắc chắn rằng Chúa Jêsus Christ sẽ biến đổi thân thể hèn mạt của chúng ta trở nên giống như thân thể vinh hiển của Ngài, theo quyền phép Ngài có thể bắt phục muôn vật.

Trong Côl. 1:29, Phaolô nói về sự giảng dạy của cá nhân ông chiến đấu nhờ sức của Đức Chúa Trời, là sức (energein) hành động có quyền trong ông. Trong Côl. 2:12, Phaolô nói về Cơ-Đốc nhân được chôn với Đấng Christ trong báp-têm, và sống lại đời sống mới, bởi đức tin trong quyền phép của Đức Chúa Trời đã khiến Đấng Christ từ kẻ chết sống lại.

Trong thư II Têsalônica, chúng ta thấy hai sự ám chỉ về quyền lực địch lại Đức Chúa Trời, là kẻ ác, và ma quỉ. Trong 2:9, chúng ta đọc về quyền của quỉ Satan tỏ ra dấu kỳ, phép lạ mà kẻ địch lại Đấng Christ có thể làm; và trong 2:11, chúng ta đọc về một energeía của sự lầm lạc, được Đức Chúa Trời ban cho những kẻ vô tín.

Từ ngữ energeía xuất hiện 19 lần trong Tân Ước. Ba lần dùng cho quyền lực kẻ ác và ma quỉ. Nó được dùng trong Rô. 7:5 cho tình dục tội lỗi đang hành động trong các chi thể chúng ta sanh ra sự chết. Trong Êph. 2:2, nó được dùng chỉ về linh (Bản Việt ngữ dịch là thần – ND) hành động trong các con bạn nghịch. Trong II Tês. 2:7 nói về sự mầu nhiệm của sự bội nghịch đang hành động.

Thông thường hơn, nó được dùng về công việc quyền năng của Đức Chúa Trời. Nó được dùng về quyền năng phi thường được làm qua những phép lạ của Chúa Jêsus (Math. 14:2; Mác 6:14) và vẫn hành động qua những phép lạ của Hội thánh (Gal. 3:5), qua những ân tứ và ân điển là những trang thiết bị và những tô điểm cho đời sống Cơ-Đốc.

Energeía được dùng về quyền năng hành động trong đời sống Cơ-Đốc. Êph. 3:20 nói về Đức Chúa Trời tác động trong chúng ta khiến chúng ta vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.

Energeía được dùng về việc thực hiện đời sống Cơ-Đốc. Sư cứu rỗi được thực hiện đạt hiệu quả, bởi sự nhịn nhục (II Côr. 1:6). Energeía được dùng chỉ về quyền năng của Đức Chúa Trời trong chức vụ của nhà truyền đạo. Đức Chúa Trời đã làm việc trong Phaolô khiến ông trở nên sứ đồ cho dân ngoại; Đức Chúa Trời đã làm việc trong Phierơ khiến ông làm sứ đồ cho người Do-thái.

Energeía được dùng về quyền năng mạnh mẽ của tình yêu thương (Gal. 5:6), quyền năng của sự cầu nguyện (Giacơ 5:16). Energeía được dùngvềhành động hiệu quả của Lời Đức Chúa Trời trong người tin (I Tês. 2:13). Energeía được dùng về sự kiểm soát của Đức Chúa Trời, qua đó Ngài làm mọi sự theo ý Ngài (Êph. 1:11).

Energeía được dùng về sự chết làm trong Phaolô để người Côrintô được sống (II Côr. 4:12). Energeía được dùng về quyền năng của Đức Chúa Trời khiến Đấng Christ sống lại (Êph. 1:20).

Từ ngữ energèma xuất hiện hai lần trong Tân Ước, nó được dùng hai lần trong I Côr. 12:6, 10, về những ân tứ khác nhau gây dựng Hội thánh, các ân tứ được quyền năng Đức Chúa Trời tác động trong bản chất và trong hành động.

Từ ngữ energẻs được dùng ba lần trong Tân Ước. Trong I Côr. 16:9, nó được dùng về cánh cửa truyền giáo được mở cho Phaolô. Trong Philêmôn 6, nó được dùng về hiệu quả đức tin đầy trọn. Trong Hêb. 4:12 được dịch là linh nghiệm chỉ về hiệu quả của Lời Đức Chúa Trời.

Bây giờ chúng ta phải tiếp tục tóm lại cách dùng những nhóm từ nầy trong Tân Ước.

Tân Ước không tránh né sự thật trong thế giới nầy có một quyền lực của kẻ ác hành động (II Tês. 2:7, 9, 11; Êph. 2:2; Rô. 7:5). Tân Ước không phải là một quyển sách lý thuyết không kết thúc để bàn cãi và tranh luận về nguồn gốc quyền lực kẻ ác; quyền lực đó hiện hữu; Tân Ước giới thiệu quyền năng lớn hơn có thể đánh bại quyền lực kẻ ác đó.

Chúng ta nhớ rằng toàn bộ nhóm từ nầy không phải chỉ mô tả quyền năng, nhưng quyền năng hiệu quả, quyền năng đạt được mục đích và kết thúc, mục đích nó đề ra để đạt thành. Bây giờ đối với Đức Chúa Trời, những từ ngữ nầy áp dụng chính thức. Vì vậy, nó mang sứ điệp về hiệu quả quyền năng của Đức Chúa Trời. Do đó, chúng ta hãy xem xét những phương diện mà qua đó quyền năng của Đức Chúa Trời có hiệu quả.

(i) Quyền năng Đức Chúa Trời có hiệu quả trong sự phục sinh. Quyền năng đó bởi Đấng Christ sống lại từ trong kẻ chết (Êph. 1:19-20; Côl. 2:12). Vì vậy, thật sự quyền năng của Đức Chúa Trời có hiệu quả đánh bại sự chết. Không có một người nào, một kẻ thù nào có thể chống lại quyền năng của Đức Chúa Trời.

(ii) Quyền năng Đức Chúa Trời có hiệu quả trong chức vụ. Đức Chúa Trời phán qua những phát ngôn nhân của Ngài và hành động qua những người hành động nhân danh Ngài (Êph. 3:7; Côl. 1:29; Gal. 2:8) – khi một người bước vào chức vụ, người đó không phải chỉ nghĩ, nhưng cũng lắng nghe một tiếng nói; không chỉ mang lấy quyền năng của riêng mình đối với nhiệm vụ, người cũng mặc lấy quyền năng của Đức Chúa Trời.

(iii) Quyền năng của Đức Chúa Trời có hiệu quả trong Hội thánh. Hội thánh được xây dựng và được giữ gìn bởi quyền năng Đức Chúa Trời (Êph. 4:16). Những ân tứ đặc biệt như chức vụ chữa bịnh đến từ quyền năng Đức Chúa Trời (Gal. 3:5); và tất cả những ân tứ  khác cần thiết cho sự điều hành, quản lý Hội thánh được cung cấp bởi việc làm từ quyền năng Đức Chúa Trời (I Côr. 12:6, 10, 11).

(iv) Quyền năng của Đức Chúa Trời có hiệu quả trong việc đánh bại tội lỗi. Bởi quyền năng qua Đấng Christ và trong Đấng Christ có thể biến đổi bản chất hèn mạt của con người ra giống bản thể vinh hiển của Đấng Christ (Philíp 3:21). Sự hèn mạt, hư hỏng và thất bại của tội lỗi đã bị quyền năng Đức Chúa Trời nuốt mất.

(v) Quyền năng của Đức Chúa Trời có hiệu quả trong thế gian. Đây không phải là một thế giới vượt tầm kiểm soát, nhưng là thế giới mà Đức Chúa Trời thực hiện mọi sự (Êph. 1:11). Có một mô hình phía sau mạng lưới chuyển động mọi sự; kinh nghiệm biến ảo có một kiểu mẫu, Đấng lập mô hình kiểu mẫu là Đức Chúa Trời.

(vi) Quyền năng Đức Chúa Trời có hiệu quả bên trong. Không phải quyền lực ép buộc con người từ bên ngoài; mà là quyền năng tràn ngập bản chất từ bên trong (Êph. 3:20; Philíp 2:13). Quyền năng làm cho con người đầy dẫy quyền năng cách đúng nghĩa nhất.

(vii) Có nhiều cách chắc chắn và trung gian qua đó quyền năng Đức Chúa Trời trở nên hiệu quả.

a. Quyền năng Đức Chúa Trời trở nên hiệu quả qua Lời Ngài (I Tês. 2:13; Hêb. 4:12). Lời Chúa là nguồn quyền năng. Qua Lời Đức Chúa Trời phán với con người, quyền năng Đức Chúa Trời đến với con người. Kinh thánh không phải chỉ là một sách lịch sử, nhưng cũng là kho báu quyền năng.

b. Quyền năng Đức Chúa Trời trở nên hiệu quả qua sự yêu thương (Gal. 5:6). Sự yêu thương là quyền năng mạnh mẽ xoay chuyển sự hiểu biết vào sự hiến dâng, xoay chuyển đức tin vào sự phục vụ thánh. Quyền năng đến với một người tức thì, và đồng thời quyền năng ngự trị cũng như tỏa ra.

c. Quyền năng Đức Chúa Trời trở nên hiệu quả qua sự cầu nguyện (Gia-cơ 5:16). Cầu nguyện là quyền được tiếp xúc với Đức Chúa Trời. Cầu nguyện không phải chỉ là một cánh cổng thay chúng ta đến với Đức Chúa Trời; nó là một kênh dẫn Đức Chúa Trời đến với chúng ta.

d. Quyền năng Đức Chúa Trời trở nên hiệu quả qua việc truyền giảng (I Côr. 16:9). Việc truyền giảng của con người cho con người trở nên kênh dẫn quyền năng của Đức Chúa Trời đến cho con người.

e.  Quyền năng Đức Chúa Trời trở nên hiệu quả qua sự nhịn nhục (II Côr. 1:6). Quyền năng Đức Chúa Trời không đến với người bắt đầu và bỏ cuộc, nhưng đến với người nhịn nhục đến cùng.

Vinh hiển của đời sống Cơ-Đốc là đời sống được mặc lấy energeía, năng lực, quyền năng, hiệu quả của chính Đức Chúa Trời.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by