You are hereLỖI TRONG KINH THÁNH

LỖI TRONG KINH THÁNH


By admin - Posted on 26 February 2014

CÂU HỎI: Tôi bắt gặp tài liệu của một người sưu tầm được nhiều chỗ họ cho là lỗi trong sách Thánh. Tôi chưa tìm thấy ai giải thích cho mấy ‘lỗi’ nầy. Xin Mục sư giúp tôi hiểu đúng vì tôi rất thích học hỏi từ những thắc mắc của người khác. Cảm ơn Mục sư rất nhiều [Ông thị Minh Tuyển]

(Mời nghe với CON ĐƯỜNG VĨNH PHÚC số 52)

TRẢ LỜI:

Cảm ơn Chúa cho Vị thính giả đã gởi tôi một loạt những cái gọi là ‘lỗi’ trong Kinh thánh từ tài liệu sưu tầm của ai đó. Tôi sẽ nhờ ơn Chúa góp ý những cái ‘lỗi’ đã nêu. Tuy nhiên, trước hết trong thì giờ hôm nay, tôi xin được nói đến những nguyên nhân khiến có những cái ‘lỗi’ có thể xảy ra trong Kinh thánh.

NGUYÊN NHÂN THỨ 1 khiến cái lỗi xảy ra trong Kinh thánh: là Vì đó là các Bản Dịch.

Chúng ta biết nguyên bản Kinh thánh ngày nay không còn, chúng ta chỉ còn được những bản nhiều lần cổ sao. Chúng ta phải cảm ơn Chúa vì Đức Chúa Trời đã không để cho dân Chúa phạm tội thờ hình tượng ngay cả thờ lạy sách Thánh của Chúa. Giới răn của Đức Chúa Trời cấm như sau: Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ thờ lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến đời thứ ba bốn đời, và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta”(Xuất. 20:4-6).

Bài học từ Con Rắn Bằng Đồng mà Môi-se làm treo lên cây sào nơi đồng vắng để cứu người nào bị rắn lửa cắn trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên đã thờ Con Rắn Bằng Đồng đó mãi đến đời vua Ê-xê-chia mới bị phá bỏ đi, tức là gần 800 năm sau (II Vua 18:4). Khi Môi-se qua đời, chính Đức Chúa Trời phải giấu xác Môi-se, vì Chúa biết dân Y-sơ-ra-ên có thể sẽ thờ lạy xác Môi-se như các dân ngày nay thờ lạy các lãnh tụ của họ.

Rồi chúng ta cũng thấy, nhiều người đã thờ lạy các vật được gọi là Thánh Tích mà họ lượm được, từ miếng gỗ được cho là gỗ cây thập tự mà Chúa Jêsus bị đóng đinh; họ thờ lạy miếng vải được cho là vải liệm xác Chúa Jêsus…

Vì vậy, nếu những nguyên bản Kinh thánh không được Chúa cho phép mất đi, chắc chắn con người sẽ bị ma quỉ cám dỗ thờ lạy quyển Kinh thánh. Do đó, trong quá trình sao chép và chuyển dịch, chắc chắn sẽ có những lỗi xảy ra. Dù vậy, tôi xin ghi lại kết luận của các nhà nghiên cứu Kinh thánh sau khi đối chiếu khoảng 4.000 bản cổ sao đáng tin cậy còn có được: ‘Kinh thánh có hơn một triệu hai trăm năm mươi ngàn từ trong Tân Ước, nhưng chỉ có độ 1.300 từ bị xem là đáng nghi ngờ. Trong sách Mathiơ có 17.000 từ, nhưng sau khi tính toán chọn lọc, chỉ có 17 từ đáng nghi ngờ, còn lại 16.983 từ là chân chính tuyệt đối. Theo nguyên văn Hi Lạp, Mathiơ đoạn 24 có 830 từ, nhưng chỉ có 5 từ trong số đó là được đưa ra để tranh luận, như thế còn lại 825 từ. Điều đó cho chúng ta thấy rằng có rất ít tài liệu để tranh luận hoặc để bất đồng ý kiến. Các tác giả đó quả quyết: Không có một từ nào được đưa ra có tánh cách quan trọng chủ yếu đến nỗi đánh đổ được ý nghĩa của Kinh thánh. Một nhà phê bình đã tự thú với các môn sinh của mình rằng: Chúng ta cứ lấy ra cho hết tất cả những gì có thể lấy ra được, thì vẫn còn lại sự kiện nầy: đó là sứ điệp duy nhất thỏa mãn được nhu cần của nhân loại’ (Trích Thần học cho Người VN của Mục sư TTS, tr. 46).

Trong quá trình sao chép, có thể có những người sao chép ghi lời giải thích của cá nhân họ vào, nhưng những lời đó khi được dịch ra và phổ biến cũng được ghi chú cẩn thận để xác định không thuộc phạm vi Kinh Điển (Thí dụ: Mác 16:9; Giăng 5:3-4).

NGUYÊN NHÂN THỨ 2 xảy ra cái lỗi trong Kinh thánh: VÌ SỰ HẠN CHẾ CỦA NGÔN NGỮ.

Chúng ta biết Kinh thánh nguyên ngữ được viết bằng 3 thứ ngôn ngữ cổ xưa là tiếng Hi-bru (hay tiếng Y-sơ-ra-ên cổ), tiếng Hi Lạp và tiếng A-ram. Đành rằng 3 ngôn ngữ nầy rất phong phú ý nghĩa, nhưng cũng có nhiều hạn chế khi nói đến một số vấn đề Thần học. Đến khi dịch sang những ngôn ngữ khác ngày nay thì sự hạn chế đó lại nhiều hơn.

Ví dụ trong tiếng Việt khi dịch những từ ngữ Đức Chúa Trời tự trách, buồn rầu (Sáng. 6:5-6), hối hận (I Sam. 15:10-11). Đặc biệt khi dùng những từ ngữ mô tả Đức Chúa Trời dường như có hình dạng như con người, như trong sách tiên tri Êsai 59:1, “Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được; tai Ngài cũng chẳng nặng nề gì mà không nghe được”. Nhất là phần Cựu Ước dùng tiếng Hi-bru cổ chỉ có phụ âm mà không có nguyên âm lại viết liền nhau, nên khi đọc dễ bị nhầm lẫn, trong đó ngôn ngữ nầy lại dùng chữ thay số càng dễ đọc sai. Mãi đến năm 500 SC, mới có một số học giả Y-sơ-ra-ên đã đặt thêm nguyên âm ghép vào.

Tiếng Hi Lạp đã dùng từ “Logos” trong sách Tin Lành Giăng 1:1 vừa chỉ lời nói vừa chỉ một Ngôi Vị để chứng minh Chúa Jêsus Christ là Đức Chúa Trời Tạo Hóa, không phải là một thần tưởng tượng, vì vậy các dịch giả VN đã dịch là Ngôi Lời, nghĩa là Lời Nói có Ngôi Vị.

Một từ ngữ khác là từ ngữ yêu thương. Trong khi tiếng Việt chỉ có một từ yêu thương thì tiếng Hi Lạp có 4 từ yêu thương phân biệt 4 loại yêu thương:

·  Tình yêu giữa 2 phái tính

·  Tình yêu dùng cho tình cảm trong gia đình

·  Loại tình yêu chỉ về tình bạn, tình chồng vợ

Nhưng khi nói đến tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với nhân loại thì tiếng Hi Lạp lại dùng từ Agape thường được giải thích là Tình yêu thương mặc dầu,

·  mặc dầu loài người là tội nhân đáng bị hình phạt đời đời nơi địa ngục, nhưng Đức Chúa Trời vẫn yêu thương, Ngài bằng lòng đến thế gian tìm và cứu con người là Chúa Jêsus Christ, đến nỗi tự hạ mình chịu chết trên cây thập tự đổ huyết đền tội cho con người (Rôm 5:6-8)

·  mặc dầu loài người tiếp tục phạm tội chối bỏ không yêu Chúa, nhưng Chúa vẫn yêu thương nhịn nhục không muốn một người nào chết mất, nhưng muốn mọi người ăn năn để được cứu (II Phi. 3:9).

Vì sự hạn chế của ngôn ngữ nên để con người chúng ta có thể hiểu được phần nào tình yêu thương Agape hay tình yêu thương mặc dầu của Đức Chúa Trời, Chúa đã sử dụng tất cả các loại tình yêu thương của con người như:

·  Tình cha mẹ thương con, Chúa phán: “Đức Giê-hô-va thương xót kẻ kính sợ Ngài, khác nào cha thương xót con cái mình vậy… Đờn bà há dễ quên con mình cho bú, không thương đến con trai ruột mình sao? Dầu đờn bà quên con mình, ta cũng chẳng quên ngươi” (Thi. 103:13; Êsai 49:15).

·  Tình bạn hữu thương nhau, Chúa phán: “Ta chẳng gọi các ngươi là đầy tớ nữa, vì đầy tớ chẳng biết điều chủ mình làm; nhưng ta đã gọi các ngươi là bạn hữu ta, vì ta đã từng tỏ cho các ngươi biết mọi điều ta đã nghe nơi Cha ta” (Giăng 15:15).

·   Chúa dùng tình yêu chồng vợ, Chúa phán: “Ta sẽ cưới ngươi cho ta đời đời; ta sẽ cưới ngươi cho ta trong sự công bình và chánh trực, nhơn từ và thương xót” (Ôsê 2:19).

Tổng hợp tất cả các loại tình yêu của conngười chúng ta mới khả dĩ cảm nhận được Tình yêu Agape hay tình yêu mặc dầu của Đức Chúa Trời đối với chính mình. Quý Vị thính giả mà không nhận ra tình yêu thương lớn lao của Chúa đối với chính mình thì Chúa sẽ buồn lắm để phải thốt lên những lời nầy: “bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mẹ túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!” (Math. 23:37).

NGUYÊN NHÂN THỨ 3 XẢY RA CÁI LỖI TRONG KINH THÁNH: Vì do phải thích ứng với phong tục văn hóa.

Chúng ta phải cảm ơn Chúa cho Kinh thánh được viết ra từ người Á châu, nên có rất nhiều điều gần gũi với văn hóa VN chúng ta. Ví dụ, như câu Kinh thánh Chúa phán về tình yêu thương của Ngài đối với con người như người mẹ thương con, Chúa phán: “Đờn bà há dễ quên con mình cho bú, không thương đến con trai ruột mình sao? Dầu đờn bà quên con mình, ta cũng chẳng quên ngươi”. Người Âu Mỹ rất khó hiểu vì đối với họ con nào cũng con, đôi khi con gái còn quý hơn. Nhưng đối với người Y-sơ-ra-ên hay người VN chúng ta thì lại quý con trai ruột hơn, bởi có câu: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô.

Tuy nhiên, có vài điểm cũng phải bắt buộc chuyển đổi cho thích hợp với ngôn ngữ quốc gia được dịch. Ví dụ,

·  Chúa Jêsus phán với các môn đồ của Ngài: “… Hãy nhướng mắt lên và xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt” (Giăng 4:35). Một bác nông dân VN sẽ cười nếu dịch theo nguyên ngữ Hi Lạp là ‘đã trắng cho mùa gặt’, vì người Y-sơ-ra-ên trồng lúa mì nên khi chín sẽ có màu trắng. Trong khi đó người VN trồng lúa tẻ nên ‘chín trắng’ là lúa lép, thất mùa; phải dịch là ‘đã vàng sẵn cho mùa gặt’. Do đó, bản dịch tiếng Việt cần được chú thích rõ là: nguyên bổn nói: Đã trắng.

Thật sự dùng màu trắng của lúa mì sẽ hợp với hoàn cảnh lúc Chúa Jêsus đang phán, vì dân trong làng Si-kha sau khi nghe lời của người đàn bà Samari giới thiệu Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế mà bà đã tiếp nhận, nhờ đó đời sống của bà được biến đổi từ mặc cảm tội lỗi, u buồn, sang vui mừng, không còn mặc cảm nữa, thì dân trong làng chạy ùa ra gặp Chúa Jêsus. Vì họ là dân Trung Đông, xứ nóng, họ thường khoác áo màu trắng để tránh sức nóng giữa trưa, cho nên màu trắng sẽ hợp với lời Chúa Jêsus so sánh đoàn người áo trắng với lúa mì chín màu trắng.

·  Khi Kinh thánh được dịch sang tiếng của một dân tộc ở vùng miền trung Phi châu, người dân nơi đó suốt đời chỉ thấy sa mạc, không hề biết biển thế nào. Vì vậy khi dịch câu Kinh thánh nói: “Chúng ta hãy giữ điều trông cậy nầy như cái neo của linh hồn” (Hêb. 6:19)thì dân xứ đó không hiểu vì chưa bao giờ thấy cái neo. Bắt buộc người dịch Kinh thánh phải đổi Cái Neo sang Cái Nọc để căng Trại trong sa mạc giúp dân xứ đó dễ hiểu.

Điều sau cùng trong câu góp ý hôm nay, tôi là người VN, tôi thật sự tin rằng các dịch giả dịch Kinh thánh ra tiếng Việt đều là người kính sợ Chúa và có lòng muốn dân tộc VN chúng ta được trực tiếp đọc được Lời Đức Chúa Trời phán hầu tìm được Con Đường Vĩnh Phúc trong Chúa Jêsus Christ. Dù vậy, có thể vì lẽ vô tình nào đó, có thể vì mặt hạn chế ngôn ngữ, hoặc vì muốn dễ hiểu, hoặc vì trí óc con người làm sao hiểu hết ý Chúa, đã phạm vào điều Chúa phán trong Kinh thánh: “Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách nầy: nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách nầy. Và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh, mà đã chép ra trong sách nầy” (Khải. 22:18-19), nên tôi thấy một vài vị đáng kính đã gặp phải điều không hay như: Chết bất đắc kỳ tử, như tuyệt tự không con, kể cả nhà văn Phan Khôi mất sự sống Vĩnh Phúc mà đáng lẽ ông phải nhận được khi tham dự dịch Kinh thánh đầu tiên cho người VN. Dù Chúa thật thương Môi-se, không ai được như Môi-se trò chuyện mặt đối mặt với Chúa, làm được những kỳ tích cho Chúa, nhưng khi Môi-se vi phạm lời Chúa, Chúa vẫn phạt ông không được vào Đất Hứa (Dân. 20:9-12). Chúng ta hãy bắt chước vua Đa-vít thưa với Chúa: “Ai biết được sự sai lầm mình? Xin Chúa tha các lỗi tôi không biết” (Thi. 19:12).

Tôi cũng có lời gởi Vị Thính giả và vị nào viết tài liệu sưu tầm lỗi của Kinh thánh: thắc mắc để khích lệ học Kinh thánh là điều tốt, chắc chắn Chúa sẽ ban phước; nhưng nếu học Kinh thánh chỉ để tìm cái lỗi của Kinh thánh trở thành cứng lòng không tin thì quả thật không nên. Xin Chúa ban phước lành trên Quý Vị.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 3 guests online.

Hosting by