You are hereGIẢI ĐÁP THẮC MẮC

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC


By admin - Posted on 12 March 2014

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC

Cảm ơn Chúa cho thời gian qua, Hội Thánh của Chúa tại Virginia có giao cho tôi phụ trách Giải Đáp Giáo Lý trong Chương Trình Con Đường Vĩnh Phúc hằng tuần. Lúc đầu tôi rất e ngại vì tánh chất tế nhị của mục nầy, rất dễ gây bất đồng ý kiến với các Tôn giáo, hoặc với các Hệ Phái, hoặc với những chủ trương xã hội. Nhưng cảm ơn Chúa đã yêu thương cùng được Mục sư và anh chị em trong Hội Thánh tại Virginia khích lệ, tôi đã đi qua chặng đường khá dài. Nay vì sức khỏe và bịnh nhiều nên phải xin được tạm nghỉ.

Nhìn lại thời gian qua, tôi rất mong Quý vị thính giả cùng anh chị em trong các Hội Thánh cảm thông. Có lẽ một số Vị không đồng ý với cách trả lời của tôi, nhưng tôi thường nói với anh chị em rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời là viên kim cương quý giá, còn những lời giải thích là những mặt cắt của viên kim cương đó. Gom tất cả các mặt cắt lại sẽ làm viên kim cương rực rỡ và giá trị. Kinh thánh là Chân lý, còn những ý kiến giải thích chỉ là có lý.

Có thể anh chị em không đồng ý với cách giải thích của tôi, hoặc có người muốn "thử" các mục sư, nên gởi câu hỏi đến vị mục sư nầy vị mục sư khác, và chắc chắn sẽ nhận được cách giải thích khác nhau. Người học Kinh thánh khôn ngoan nhất là biết chọn cho mình lời giải thích nào có lý theo mình, hoặc nhờ các ý kiến đó, cá nhân mình tìm ra một cách giải thích hợp lý hơn. Cách giải hợp lý là những lời giải thích làm cho chúng ta yêu mến Chúa và Lời Chúa nhiều hơn, yêu mến anh em trong Hội Thánh hơn, yêu thương linh hồn tội nhân đến nỗi sẵn sàng tìm cách chia sẻ Lời Chúa cho người chưa biết Chúa. Đây cũng là lý do tôi không hồi âm với với những ý kiến phản hồi, nhưng tôi xin tạ lỗi bởi vì tôi không có ý tranh luận ai đúng ai sai, chỉ mong anh em nào cho rằng mình đúng hơn thì càng yêu mến Chúa hơn.

Bây giờ, tôi xin đưa vào Website tim-ai.net nầy phần trả lời những câu hỏi của người có tên là ÔNG THỊ MINH TUYỂN (?), có thể người nầy cũng đã hỏi vài người khác. Rất mong Ông thị Minh Tuyển (?) tham khảo tất cả và có câu trả lời hợp lý nhất cho chính mình. Tôi cũng sẽ đưa vào Website nầy ý kiến của tôi cho một người đang hầu việc Chúa trong nước, hi vọng góp cái bánh nhỏ đỡ lòng trên đường phục vụ Chúa vậy.

Mục sư Trần Thái Sơn - ngày 12 tháng 3 năm 2014

TRẢ LỜI ÔNG THỊ MINH TUYỂN.

Vì tôi phải vào Bịnh Viện để điều trị vài bịnh sẽ phải hạn chế làm việc, nên tạm thời xin trả lời ngắn những câu hỏi về Kinh Thánh của Ông thị Minh Tuyển. Mong Ông thị Minh Tuyển thông cảm. Có điều gì chưa thỏa lòng cũng xin cho tôi biết. Tôi cũng xin lỗi vì không biết xưng hô thế nào khi chỉ biết nickname.

Về câu hỏi Những Lỗi Trong Kinh thánh và Con Lạc Đà, tôi đã góp ý trong 2 Chương trình Con Đường Vĩnh Phúc, bây giờ tôi xin có ý kiến về những câu hỏi còn lại.

Đức Chúa Trời dặn Nô-ê đem vào tàu mỗi loại chim một đôi hay bảy đôi(Sáng. 619-20 so với 7:2-3).

TRẢ LỜI:

Đoạn 6 là kế hoạch tổng quát ban đầu và đoạn 7 là kế hoạch chi tiết. Như vậy, các loài đều được bảo tồn sự sống và giống để phát triển, nhưng loài cần yếu thì nhiều hơn loài không cần yếu.

Con người phạm tội tổ tông từ khi ở trong lòng mẹ? Có đứa trẻ nào biết nói dối từ khi mới lọt lòng mẹ? (Thi. 58:3)

Vua Đa-vít xác nhận: Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi (Thi. 51:5). Chúng ta được sanh ra và hưởng di truyền từ thể xác đến tinh thần, linh hồn, trong đó cũng hưỏng di truyền tội lỗi từ cha mẹ, ông bà. Như con rắn khi nó đẻ con thì rắn con cũng mang nọc độc từ trong lòng rắn mẹ. Đây là lời giải thích nguồn gốc nguyên tội trong loài người, chưa sanh ra đã mang lấy tội từ tổ phụ, không phải đợi đến khi biết nói dối, biết phạm tội hay không.

Giê-hô-gia-kin lên ngôi năm mười tám tuổi hay tám tuổi? Trị vị ba tháng hay ba tháng mười ngày? (II Vua 24:8 so với II Sử. 36:9)

TRẢ LỜI:

Tôi không biết Bạn dùng Bản Dịch Kinh thánh nào, nhưng Bản Dịch tôi đang sử dụng cả hai phần Kinh thánh đều ghi là ‘3 tháng’. Còn chuyện ’10 ngày’ thì tôi nghĩ người viết hai sách có hai cách nhìn thời gian khác nhau, thí dụ có thể nói: ‘độ 3 tháng’. Nếu Bạn đòi chính xác 10 ngày, e rằng lại đòi ‘mấy giờ, mấy phút’ nữa thì khó quá, tôi nghĩ chỉ có mấy ông thầy bói tử vi cần như thế.

A-khát-gia-hu lên ngôi vua khi được hai mươi hai tuổi hay bốn mươi tuổi?

TRẢ LỜI:

Một lần nữa, tôi thắc mắc không biết Bạn sử dụng Bản Dịch nào, tôi để nghị Bạn liên lạc với Hội thánh Tin Lành gần nhất, hoặc nếu Bạn ở Mỹ vui lòng gọi điện thoại số: (703) 232.6457, hoặc cho tôi biết địa chỉ, chúng tôi sẽ gởi đến Bạn quyển Kinh thánh khác, hoàn toàn miễn phí. Bạn đừng ngại. Hoặc Bạn liên lạc với P. O. Box 4568, Anaheim, CA 92803 USA (Tel. 714.758.8767, có nhiều loại Kinh thánh để Bạn lựa chọn mua.

Bản dịch của tôi đang sử dụng đều ghi Hai Mươi hai.

Bà Mi-canh con gái của vua Sau-lơ không có con cho đến ngày chết hay có năm con với ông Át-ri-ên? (II Sam. 6:23 so với 21:8).

TRẢ LỜI:

Theo vài thủ bản Kinh thánh tiếng Hi-bru và tiếng Hi Lạp, và bản Sy-ri thì đoạn 21:8 thì năm con trai đó là con của Mê-ráp, con gái vua Sau-lơ. Bạn có thể tham khảo trong I Sam. 18:19, Mê-ráp được gả cho Át-ri-ên người Mê-hô-la.

Đa-vít chiếm của  Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba, một ngàn bảy trăm kỵ binh hay bảy ngàn kỵ binh? (II Sam. 8:3-4 so với I Sử. 18:3-4)

TRẢ LỜI:

Câu hỏi nầy cũng giống như những câu hỏi tiếp sau đây, liên quan đến những con số:

·         Vua Sa-lô-môn có bốn vạn tàu ngựa hay bốn ngàn tàu ngựa? (Xem I Vua 4:26 so với II Sử. 9:25).

·         Quan chỉ huy thị vệ Nê-bu-xa-ra-đan cận thần của vua Nê-bu-cát-nết-sa vào Giê-ru-sa-lem ngày mồng bảy tháng năm hay ngày mồng mười tháng năm (II Vua 25:8 so với Giêrêmi 52:12).

Tiếng Hi-bru thời Cựu Ước chỉ có phụ âm mà không có nguyên âm, lại viết liên tiếp nhau nên việc đọc dễ bị nhầm lẫn. Ví dụ: Trong sách Sáng thế ký 47:31 ghi: “Đoạn Y-sơ-ra-ên quì lạy nơi đầu giường mình”. Từ ngữ ‘cái giường’ trong tiếng Hi-bru cũng có đọc là ‘cây gậy’, nhất là tiếng Hi-bru dùng chữ thay số, do đó dễ đọc sai. Vì vậy, người đọc có thể là 7 trăm cũng có thể là 7 ngàn; và ở câu nói về vua Salômôn có thể đọc là 4 vạn, mà có thể đọc là 4 ngàn. Việc nhầm lẫn do các ký lục sao chép Kinh thánh cũng có thể xảy ra, ngay cả Vị thính giả ghi địa chỉ Kinh thánh để hỏi cũng sơ sót khi ghi sách Giêrêmi đoạn 25 thay vì ghi đúng là 52, câu hỏi trong sách Gio-an đoạn 8 thay vì 18.

Dù vậy, những sơ sót kỹ thuật do sao chép nầy rõ ràng không quan trọng, trong khi những con số quan trọng thì không bao giờ sai sót, như Đức Chúa Trời dựng nên vũ trụ trong 7 ngày, mỗi ngày dựng nên vật gì; như dân Y-sơ-ra-ên bị Chúa phạt lưu đày 70 năm thì không sai…

Mãi đến năm 500 SC, một số học giả người Do thái họp tại Trung tâm Tibêriát đã đặt thêm nguyên âm cho Kinh thánh tiếng Hi-bru với các nguyên tắc:

1.      Không thêm phụ âm nào

2.      Nguyên âm chỉ là những dấu thêm vào dưới phụ âm.

3.      Những gì cần sửa, họ sẽ ghi ngoài lề.

4.      Những ghi chú của các nhà thông giáo từ trước cũng được ghi lại phía dưới hay đầu trang.

Nếu Chúa Jêsus tự làm chứng về chính Ngài thì lời chứng có đáng tin hay không? (Xem Giăng 5:31 so với Giăng 8:13-14)

TRẢ LỜI:

Bạn Thính giả hãy đọc kỹ lời của Chúa Jêsus phán trong những câu Kinh thánh mà Bạn đã trích dẫn để nêu câu hỏi.

Câu thứ 1 mà Bạn đã trích dẫn như sau (Giăng 5:31), Chúa Jêsus phán: Nếu ta tự làm chứng lấy, thì sự làm chứng ấy không đáng tin, Chúa Jêsus không ngừng ở đó như phán cắt ngang câu nói của Ngài, Chúa Jêsus phán tiếp: Có người khác làm chứng cho ta và ta biết rằng chứng người đó làm cho ta là đáng tin. Chúa Jêsus đã nêu tên Giăng Báp-tít làm chứng về Ngài (Giăng 1:29; 3:27-31), và Chúa Jêsus phán, Nhưng ta có một chứng lớn hơn chứng của Giăng… chính Cha, là Đấng đã sai ta, cũng làm chứng về ta (Math. 3:17; 17:5; II Phi. 1:17).

Câu Kinh thánh thứ 2 mà Bạn trích dẫn ghi (Bạn ghi sai địa chỉ câu nầy nhé), Chúa Jêsus đáp rằng: Dẫu ta tự làm chứng về mình, nhưng lời chứng ta là đáng tin, vì ta biết mình đã từ đâu mà đến và đi đâu… Một lần nữa Bạn đã cắt ngang câu nói của Chúa Jêsus là điều rất nguy hiểm, những người học Kinh thánh gọi việc cắt ngang đó là ‘Đoạn chương thủ nghĩa’, hoạc Kinh thánh phải đọc thượng hạ văn, Chúa Jêsus phán tiếp, “Ta tự làm chứng cho ta và Cha là Đấng đã sai ta đến cũng làm chứng cho ta” (Giăng 8:14, 18).

Bây giờ chúng ta hãy xem Chúa Jêsus tự làm chứng về Ngài qua những bằng cớ nào nhé:

1.      Sự giáng sanh kỳ diệu của Ngài làm chứng. Chính các thiên sứ, các nhà bác học từ phương Đông làm chứng Chúa Jêsus là Cứu Chúa và Chúa.

2.      Công việc Chúa Jêsus thi hành trong chức vụ từ khi chiụ báp-têm tại sông Giô-đanh, Chúa Jêsus đã làm bao nhiêu là phép lạ cứu giúp, chữa lành đuổi quỉ, quở yên sóng gió, những người đang chất vấn Chúa Jêsus mắt thấy, tai nghe, chắc chắn cá nhân họ cũng nhìn nhận như một người trong số họ là Ni-cô-đem (Giăng 3:1-2; 7:50-52), tại lòng cứng cỏi. Tôi hi vọng là Bạn đừng đứng trong phía họ bởi vì lời Chúa phán: Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin (hay là kẻ vô tín), kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai” (Khải. 21:8). Chúa Jêsus phán: Ví bằng ta không làm những việc của Cha ta, thì các ngươi chớ tin ta. Còn nếu ta làm, thì, dầu các ngươi chẳng tin ta, hãy tin những việc ta, để các ngươi hiểu và biết rằng Cha ở trong ta và ta ở trong Cha” (Giăng 10:37-38). Bạn nên nhớ rằng chính ma quỉ cũng làm chứng rằng Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời.

Tôi chưa nói đến sự chết kỳ diệu của Chúa Jêsus trên thập tự giá đền tội cho chúng ta, rồi sự sống lại mầu nhiệm, sự thăng thiên, tất cả chưa hề có thần nào, người nào làm được như vậy.

Còn về phần Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha làm chứng về Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế. Bạn gởi tôi những câu hỏi hoàn toàn từ Kinh thánh mà ra, chứng tỏ Bạn tra cứu Kinh thánh rất tốt, cho nên tôi tin rằng Bạn dễ dàng tìm thấy mỗi sự kiện, mỗi lời của Kinh thánh đều bày tỏ hình ảnh của Chúa Jêsus. Cả Kinh thánh đều làm chứng về Chúa Jêsus! Bạn hãy nghe thánh Phierơ nói về Kinh thánh là lời của Đức Chúa Trời làm chứng về Chúa Jêsus: “Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời này: Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, tức là Người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ ở giữa các ngươi, để làm chứng cho Người trong vòng các ngươi, như chính các ngươi đều biết. Người đó bị nộp, theo ý định trước và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi. Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó. Bởi vì vua Đa-vít có nói về Người rằng: Tôi từng thấy Chúa ở trước mặt tôi luôn, Vì Ngài ở bên hữu tôi, để cho tôi chẳng bị rúng động chút nào” (Công vụ 2:22-25).

Bạn biết không Thánh Phierơ vốn là người nhát sợ đã sợ liên lụy với Chúa Jêsus, sự sợ hãi đó khiến Phierơ phải chối Chúa Jêsus 3 lần, thế mà bây giờ Phierơ dám đứng giữa dân Giê-ru-sa-lem để làm chứng về Chúa Jêsus. Chẳng những vậy, Phierơ còn mạnh dạn nói: Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nhe lời nầy: Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét… các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi. Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại…Nếu những lời làm chứng đó không đáng tin thì Bạn nghĩ, dân Y-sơ-ra-ên lúc bấy giờ sẽ làm gì? Họ dám giết Chúa Jêsus thì sợ gì mà không một lần nữa đè bẹp những môn đồ của Chúa Jêsus. Thế mà Kinh thánh ghi lại: Chúng nghe bấy nhiêu lời, trong lòng cảm động, bèn hỏi Phierơ và các sứ đồ khác rằng: Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?...trong ngày ấy, có độ ba ngàn người thêm vào Hội thánh (Công vụ 2:37, 41)

Rồi khi Chúa Jêsus thi hành chức vụ, thánh Phierơ làm chứng về Chúa Jêsus được Đức Chúa Trời làm chứng: “Vì Ngài đã nhận lãnh sự tôn trọng vinh hiển từ Đức Chúa Trời, Cha Ngài, khi Đấng Tôn Nghiêm rất cao phán cùng Ngài rằng: Này là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường". Chính chúng tôi cũng từng nghe tiếng ấy đến từ trời, lúc chúng tôi ở với Ngài trên hòn núi thánh. Nhân đó, chúng tôi càng tin lời các đấng tiên tri chắc chắn hơn, anh em nên chú ý lời đó, như cái đèn soi sáng trong nơi tối tăm, cho đến chừng nào ban ngày lộ ra, và sao mai mọc trong lòng anh em” (II Phi. 1:17-29).

Thật ra, những người Pharisi thời ấy đã đọc trong Kinh thánh biết sự giáng sanh của Chúa Jêsus làm ứng nghiệm lời Kinh thánh Cựu Ước dự ngôn (Math. 2:4-6). Rồi khi Chúa Jêsus được 12 tuổi, Ngài vào Đền thờ vừa nghe vừa hỏi các bậc thông thái của người Y-sơ-ra-ên khiến họ ngạc nhiên (Luca 2:46-47). Đến khi Chúa Jêsus chịu báp-têm, những người Pharisi cũng có mắt tại đó, lỗ tai họ nghe Giăng Báp-tít giới thiệu Chúa Jêsus là Chiên Con của Đức Chúa Trời là họ hiểu ngay Chúa Jêsus là Cứu Chúa được dự ngôn; mắt họ chứng kiến cảnh quang kỳ diệu xảy ra khi Chúa Jêsus chịu báp-têm, nghe tiếng phán từ trời xác nhận Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời. Suốt 3 năm Chúa Jêsus thi hành chức vụ, những người chống đối nầy luôn đi theo Chúa Jêsus để tìm cách bắt lỗi, buộc tội Ngài. Tôi tin rằng họ từng ăn bánh của Chúa Jêsus hóa ra, từng được chữa lành bịnh, từng nghe những lời kỳ diệu Chúa Jêsus giảng - ấy là tôi chưa kể họ nhìn thấy Chúa Jêsus bị đóng đinh và sống lại, đến nỗi thánh Phierơ khẳng định với người Y-sơ-ra-ên: Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu (Công vụ 4;12).  Thế thì, tại sao họ không tin Chúa Jêsus làm Cứu Chúa và Chúa của họ? Tôi nghĩ Bạn Thính giả có thể trả lời vì chính bạn cũng chưa tin Chúa Jêsus. Bạn hãy suy nghĩ xem, rõ ràng chỉ tại lòng người cứng cỏi, không phải tại thiếu bằng cớ, phải không Bạn?

CÂU HỎI: Những câu hỏi của Ông thị Minh Tuyển (Phần 4)

Chúa Jêsus chữa lành một người cùi trước hay sau khi vào nhà Si-môn Phierơ? (Math. 8:1, 14 so với Mác 1:29, 40)

TRẢ LỜI:

Cảm ơn Chúa cho Vị thính giả có lòng đọc Kinh thánh rất cẩn thận, tìm ra được những chỗ có thể gây hiểu lầm cho người đọc nếu không nắm bắt qui luật giải thích Kinh thánh. Qui luật giải thích Kinh thánh cho chúng ta biết rằng các sách Tin Lành như Ma-thiơ, Mác, Luca, và Giăng chỉ có mục đích ghi lại sự kiện mà không có mục đích về thứ tự thời gian. Do đó nếu muốn sắp xếp sự kiện xảy ra theo thứ tự thời gian thì chúng ta chỉ đạt được tương đối. Với một tương đối chừng mực, chúng ta có thể sắp xếp thứ tự theo đòi hỏi của Vị Thính giả như sau:

·         Câu chuyện ghi lại theo câu hỏi của Vị Thính giả về một người cùi hay phung. Theo luật của người Y-sơ-ra-ên từ Kinh Cựu Ước thì người bị bịnh phung là người ô uế, là chứng bịnh dễ lây nhiễm, do đó, người mắc bịnh phung hay cùi không được ở chung trong cộng đồng mà phải ở khu tập trung riêng, thường phải ở ngoại thành, nơi vắng người.

·         Địa điểm Chúa Jêsus giảng Bài Giảng Trên Núi là bên một sườn núi hay đồi gần thành Ca-bê-na-um. Sau khi Chúa Jêsus giảng xong, Ngài đã đi đến thành Ca-bê-na-um nơi có nhà của Phierơ, hoặc ngược lại Chúa Jêsus từ thành Ca-bê-na-um đến sườn núi vùng đó giảng bài giảng Trên Núi.

Như vậy, trên đường sau khi giảng hoặc đến nơi giảng, Chúa Jêsus đã gặp người bịnh phung nầy, chắc chắn không gặp trong thành phố nơi đông người. Vì người viết sách Tin Lành Mathiơ và Mác không có mục đích theo thứ tự thời gian, cả hai chỉ quan tâm tình yêu thương và quyền năng của Chúa Jêsus. Khi đọc hai truyện nầy, tôi thắc mắc là tại sao Vị thính giả không thấy được tình yêu thương của Chúa Jêsus qua người phung và qua gia đình Phierơ.

(1)   Người phung là người bị xã hội thời đó sợ đến nỗi đi đâu người phung phải la lên ‘ô uế’ để người khác tránh, thế mà Chúa Jêsus thấy thì động lòng thương, chính Chúa Jêsus giơ tay rờ người phung khi chữa lành, Chúa không hề xua đuổi, cũng không chữa lành chỉ vì quyền năng mà vì yêu thương, chẳng những chữa lành cho người bịnh phung, Chúa Jêsus cũng không hề sợ lây nhiễm, cũng không để người phung mặc cảm bị xa lánh. Thật Chúa Jêsus đầy yêu thương! Sao bạn không thắc mắc những điều đó?

(2)   Trong các sứ đồ, Kinh thánh ghi lại câu chuyện của bà gia Phierơ là rất đặc biệt. Hình vẽ Thánh Phierơ là người lớn tuổi và Kinh thánh cho thấy Phierơ là người trực tánh. Thế mà Phierơ bằng lòng nuôi mẹ vợ trong nhà. Những truyện cười của xã hội ngày nay thường xem mẹ vợ là người vợ khó tánh thứ hai, vậy mà Phierơ vẫn yêu thương bà, nhất là bà đã lớn tuổi lại đang bịnh sẽ gây nhiều phiền phức. Tôi tin rằng vì Chúa Jêsus thấy tấm lòng hiếu thảo của Phierơ nên Chúa Jêsus đã vào nhà của ông, chữa lành cho mẹ vợ của ông và đã sử dụng ông cho công việc lớn sau nầy. Câu chuyện nầy nhắc tôi nhớ đến nàng Ru-tơ hiếu thuận với mẹ chồng Na-ô-mi. Phierơ và Ru-tơ, cả hai đã biết vì Chúa mà yêu thương người khó thương nhất trên thế gian: mẹ chồng và mẹ vợ. Sao Bạn không thấy được cái quý của Kinh thánh chỗ nầy nhỉ? Có thể, đối với Phierơ, việc mẹ vợ của ông được Chúa Jêsus chữa lành gây ấn tượng nhất nên ông đã thuật lại trước khi thuật truyện người phung; còn đối với Mathiơ cần chứng minh Chúa Jêsus có quyền năng chữa lành ngay cả bịnh phung nên Mathiơ thuật trước.

CÂU HỎI: Làm sao Chúa Jêsus có thể rời thành Ty-rơ xuyên qua ngả Si-đôn để đến biển hồ Galilê? Nếu nhìn bản đồ, chúng ta sẽ thấy Si-đôn nằm ở một hướng khác với hướng đi từ Ty-rơ đến biển hồ Galilê (Mác 7:31)

TRẢ LỜI:

Phải nhìn nhận Vị thính giả rất có lòng tra cứu Kinh thánh, bằng cớ là đã chịu khó tra cứu cả trên bản đồ khi đọc một câu Kinh thánh. Nhưng tôi không biết theo Vị thính giả thì tại sao Chúa Jêsus không thể từ Si-đôn đến biển hồ Galilê? Nói theo ngày nay thì có thể Chúa Jêsus không đến biển Galilê được vì không có tuyến đường xe lửa, tàu thủy hay máy bay, nhưng thời Chúa Jêsus, người ta đi đường bộ và đi bộ mà. Tại sao không đi được?

Hành trình của Chúa Jêsus là từ Ty-rơ lên phía Bắc thì đến Si-đôn, rồi trở lại phía Nam, không cần trở lại Ty-rơ, có thể đi vòng qua phía Đông đến biển Galilê nơi có thành Đê-ca-bô-lơ mà Vị thính giả gọi là miền Thập Tỉnh. Tôi không biết Vị Thính giả thấy có gì trở ngại cho hành trình như vậy.

Tôi lại thắc mắc là Vị thính giả lại không tìm thấy những việc làm đầy yêu thương của Chúa Jêsus khi Ngài là người Y-sơ-ra-ên lại bằng lòng đến với những thành phố không thuộc người Y-sơ-ra-ên, là điều người Y-sơ-ra-ên không chịu làm vì khinh dể người không phải dân Y-sơ-ra-ên. Chúa Jêsus đã đến những nơi đó cứu giúp và giảng Tin Lành yêu thương của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus đã đuổi quỉ, chữa cho kẻ điếc được nghe, kẻ câm nói được. Chúa Jêsus đã không phân biệt chủng tộc, Chúa Jêsus không nệ nhọc nhằn đi bộ một đoạn đường rất xa, như Ngài đã bằng lòng đi vào địa phận của người Samari để cứu người đàn bà bị khinh ghét và cứu dân Samari làng Si-kha. Có người nói: Nếu Bạn muốn nhìn thấy bầu trời đẹp, Bạn hãy tháo cặp kính râm khỏi mắt Bạn. Tôi không biết điều gì khiến Vị thính giả và người sưu tầm những lỗi trong Kinh thánh, khiến cả hai không thấy tình yêu thương tuyệt vời của Chúa Jêsus, mà chỉ thấy những điểm gọi là ‘lỗi’, có lẽ cặp kính các Vị mang đang dính nhiều bụi rác chăng?

CÂU HỎI: Chúa Jêsus bị đóng đinh trước hay sau Lễ Vượt Qua? Sách Tin Lành theo thánh Giăng nói khác ba sách kia.

TRẢ LỜI:

Tôi không biết Vị thính giả  đọc những bản dịch Kinh thánh nào, nhưng Bản Kinh thánh tôi đang có ghi như sau:

·         Theo Thánh Mathiơ: Đến ngày mai (là ngày sau ngày sắm sửa), các thầy tế lễ cả và người Pharisi cùng nhau đến Phi-lát (Math. 27:62).

·         Theo Thánh Mác: Bấy giờ là ngày sắm sửa, nghĩa là hôm trước ngày Sa-bát, khi đã chiều tối… (Mác 15:42).

·         Theo Thánh Luca: Bấy giờ là ngày sắm sửa, và ngày Sa-bát gần tới… (Luca 23:54)

·         Theo Thánh Giăng: Vì bấy giờ là ngày sắm sửa về ngày Sa-bát, mà Sa-bát nầy là rất trọng thể, … (Giăng 19:31)

Tất cả 4 sách đều ghi rõ Chúa Jêsus chịu đóng đinh và chết vào ngày sắm sửa trước ngày Sa-bát quan trọng vì cũng là ngày Lễ Vượt Qua (Giăng 19:14), rõ ràng không có gì khác nhau cả.

Một lần nữa tôi thắc mắc là sao Vị Thính giả và người sưu tập lỗi của Kinh thánh không thấy Chúa Jêsus đang chịu đóng đinh trên thập tự giá vì tội của nhân loại và của chính mình trong khi đó lại đặt một cái lỗi ảo nào đó vào câu chuyện yêu thương vĩ đại của Chúa Jêsus rồi thắc mắc để không tin? Xin Chúa cho Vị Thính giả và người sưu tập lỗi trong Kinh thánh gỡ cặp kính râm xuống để thấy được Chúa Jêsus yêu thương Quý Vị.

CÂU HỎI: Chúa Jêsus bị đóng đinh vào giờ thứ ba hay giờ thứ sáu? (xem Mác 15:25 so với Giăng 19:14)

TRẢ LỜI:

Có hai cách giải thích như sau:

(1)   Cách giải thích thứ nhất cho rằng Mác tính theo cách tính giờ của người Y-sơ-ra-ên, còn Giăng tính theo giờ của La Mã nên có sự sai lệch cách 3 tiếng.

(2)   Cách giải thích thứ hai là Mác tính từ lúc tội nhân được đưa đến pháp trường. Khi đến rồi, những người thi hành án phải thực hiện nhiều công đoạn như đào lỗ chôn thập tự, còn đóng đinh hai tên trộm cướp,… cũng cần một thời gian chuẩn bị xong mọi thủ tục và việc cần, nên mãi đến giờ thứ sáu mới hoàn thành cuộc hành hình. Như vậy, Giăng ghi lại giờ chính thức treo tội nhân lên, đó cũng là lúc Mathiơ ghi lại trời đất tối tăm (Math. 27:45-46).

Đó là lý do Chúa cho phép phải có tới bốn sách Tin Lành ghi thuật đời sống của Chúa Jêsus Christ trên đất để chứng ninh những gì được ghi thuật chính xác từng giờ phút. Vị Thính giả đã thấy rõ sự kiện Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá là một sự kiện lịch sử chính xác, đến nỗi Thánh Phierơ mạnh mẽ tuyên bố: Vì về phần chúng tôi, không có thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe (Công vụ 4:20). Thánh Phaolô nói: Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự (I Côr. 2:2), và Phaolô khuyên: Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng trọn vẹn mà nhận lấy (I Tim. 1:15). Vấn đề quan trọng bây giờ là Vị thính giả và người sưu tầm lỗi của Kinh thánh có đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy Chúa Jêsus là Cứu Chúa và Chúa cho cuộc đời mình không?

CÂU HỎI: Trên thập tự giá, Chúa Jêsus kêu Ê-li hay Ê-lô-i? Từ ngữ Ê-li là tiếng Hi-bri, từ lê-ma-xa-bác-tha-ni là tiếng A-ram; Từ Ê-lô-i là tiếng A-ram (Math. 27:46), từ lê-ma-xa-bác-tha-ni cũng là tiếng A-ram (Mác 15:34).

Đúng như Vị thính giả đã dẫn chứng, sở dĩ có sự khác nhau khi sử dụng ngôn ngữ xưng gọi Đức Chúa Trời trong hai sách là do hai người viết cho hai hạng người đọc khác nhau.

·         Mathiơ viết sách cho đọc giả là người Y-sơ-ra-ên, nên ông đã sử dụng tiếng Hi-bri là ngôn ngữ chính của người Y-sơ-ra-ên khi xưng hô Danh Đức Chúa Trời, còn ngôn ngữ nói với nhau trong xã hội lúc bấy giờ là tiếng A-ram.

·         Còn Mác viết cho đọc giả là người La Mã, nên ông đã dùng tiếng A-ram là ngôn ngữ phổ thông lúc bấy giờ để xưng Danh Chúa là Ê-lô-i.

Nếu căn cứ vào câu nói tiếp theo lê-ma-xa-bác-tha-ni (Bản dịch của tôi đang có phiên âm là: lam-ma-sa-bách-ta-ni)của hai sách đều dùng tiếng A-ram, thì có thể Chúa Jêsus đã dùng tiếng A-ram thông dụng thời bấy giờ để xưng Danh Đức Chúa Trời là Ê-lô-i.

Tuy nhiên, điều quan trọng không phải Chúa Jêsus nói ngôn ngữ gì và kêu cứu với Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha vì Ngài bị đánh đập, bị đòn roi, bị đóng đinh, mà vì Ngài đang mang lấy tội lỗi của cả nhân loại và tội lỗi của nhân loại lớn, nặng và đen đậm đến nỗi Đức Chúa Cha phải ngoảnh mặt với Đức Chúa Con. Nhiều lần Kinh thánh đã mô tả tội lỗi của loài người chúng ta như sau: “như hồng điều, đỏ như son… như mây đậm,… như đám mây…(Êsai 1:18, 44:22).

Tại chúng ta quá quen thuộc với tội lỗi đến nỗi mất cảm giác với tội lỗi, nên nghĩ rằng tội của chúng ta chỉ cần tu thân tích đức, tụng vào câu kinh, dâng vài lễ vật, thì được hết tội, đến nỗi có người còn nói đùa: ‘Có tội lội xuống sông hết tội’. Nguy hiểm hơn nữa là có người còn cảm thấy mình tốt hơn người kia. Bằng cớ là Vị Thính giả và người sưu tầm lỗi của Kinh thánh chỉ quan tâm dò tìm Chúa Jêsus nói loại ngôn ngữ gì mà không nhìn thấy hình ảnh đau đớn, khủng khiếp của chính mình mà Chúa Jêsus đang mang thế cho.

Trong tình yêu thương của Chúa, tôi thiết tha mong Vị thính giả và người sưu tầm lỗi của Kinh thánh mau lẹ gỡ cặp kính râm đang che khuất tình yêu thương của Chúa đối với Quý Vị.

CÂU HỎI: Câu nói cuối cùng của Chúa Jêsus trên thập tự giá là gì:Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha!” (Luca 23:46) hay:“Mọi việc đã được trọn” (Giăng 19:30)?

TRẢ LỜI:

Theo các nhà nghiên cứu Kinh thánh sắp xếp thì khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá, Chúa Jêsus có nói 7 lời theo thứ tự như sau:

(1)   Lời thứ 1: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì (Luca 23:34). Lời nầy thật kỳ diệu, Chúa Jêsus đã làm đúng như lời dạy của Ngài: Hãy yêu thương kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi (Math. 5:44).

(2)   Lời thứ 2 là lời Chúa Jêsus phán với tên cướp cùng chịu đóng đinh với Ngài trên thập tự giá. Lúc đầu cả hai tên cướp đều mắng nhiếc Chúa Jêsus, chế nhạo Ngài, nhưng sau đó một trong hai tên cướp biết ăn năn nói với bạn cùng bị đóng đinh như hắn: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy (tức là Chúa Jêsus) không hề làm một điều gì ác. Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi! Ngay khi ấy, Chúa Jêsus đã đáp lời của tên cướp biết ăn năn: “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay  ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi” (Luca 23:43). Ngay khi tên cướp ăn năn, Chúa Jêsus đã tha thứ cho hắn và lập tức hắn được cùng ở với Chúa.

(3)   Lời thứ 3 đầy tình cảm giữa Chúa Jêsus với gia đình trên đất của Ngài, đó là lời của Chúa Jêsus phán với Ma-ri người đã sanh ra Ngài về phần xác và lời Chúa Jêsus phán với môn đồ Ngài yêu thương là Giăng. Chúng ta hãy nghe Kinh thánh mô tả bức tranh đẹp nhất trong giờ phút bi đát nhất: “Tại một bên thập tự giá của Đức Chúa Jêsus, có mẹ Ngài đứng đó, với chị mẹ Ngài là Ma-ri vợ Cơ-lê-ô-ba, và Ma-ri Ma-đơ-len nữa. Đức Chúa Jêsus thấy mẹ mình, và một môn đồ Ngài yêu đứng gần người, thì nói với mẹ rằng: Hỡi đàn bà kia, đó là con của ngươi! Kế đó, Ngài lại phán cùng người môn đồ rằng: Đó là mẹ ngươi! Bắt đầu từ bấy giờ, môn đồ ấy rước người về nhà mình” (Giăng 19:25-27).

Bức tranh thật đẹp, phải không Bạn? Với những từ ngữ thật thân thương, Chúa Jêsus nói với ‘mẹ mình’, và Chúa Jêsus nói với ‘môn đồ mà Ngài yêu thương’. Tôi thích cách dịch của Bản dịch Kinh thánh mà tôi đang có khi dùng từ mẹ mình, môn đồ mà Ngài yêu thương, cả hai đều là người thân thương với Chúa Jêsus. Và Chúa Jêsus đã không quên bổn phận làm con trong phần xác của Ngài dù Ngài đang trong giờ phút đau thương hơn hết, Chúa Jêsus đã gởi gắm mẹ mình lại cho môn đồ mình yêu thương. Không có bức tranh yêu thương nào đẹp và cảm động bằng.

(4)   Lời thứ tư là lời Chúa Jêsus cảm nhận được Đức Chúa Cha lìa bỏ Ngài trong giờ phút mà Ngài đang mang lấy tội của toàn nhân loại trên thân Ngài. Đây chính là chén đắng mà Chúa Jêsus đã cảm nhận khi Ngài cầu nguyện trong Vườn Ghết-sê-ma-nê (Math. 26:39).

Tại chúng ta quá quen với tội lỗi, có chồng chất thêm bao nhiêu tội nữa cũng vậy thôi, giống như tử tội đã kết án rồi, có tố cáo thêm tội gì nữa thì cũng là tử hình. Trong khi Chúa Jêsus là Đấng Thánh, trong Ngài không có chút chi dối trá (I Phi. 2:22) lại mang lấy không phải chỉ tội của một người mà mang tất cả tội lỗi của toàn nhân loại. Điều khủng khiếp nhất là giờ phút đó Cha Ngài cũng lánh xa, khi ấy Chúa Jêsus phải thốt lên: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi” (Math. 27:46; Mác 15:34), Vị Cha yêu thương duy nhất cũng lìa bỏ Ngài bởi cớ trên Ngài đầy tội của loài người.

(5)   Lời thứ 5 trên thập tự giá mà Chúa Jêsus kêu lên là: Ta khát! (Giăng 19:28), một lời rất con người với những nhu cần của thân thể bị treo giữa trời không bóng che trong buổi trưa nóng cháy của vùng Trung Đông, đang lúc những dòng máu từ những vết thương chảy ra khỏi thân thể, đã tạo nên cái khát khô cháy. Chúa Jêsus bằng lòng chịu đến cái đau đớn cùng cực của con người để đền trả tội lỗi của con người. Bạn hiểu không, không phải một vị thần với bao nhiêu quyền phép mà là một con người hoàn toàn chịu khổ vì tôi với Bạn.

(6)   Lời thứ sáu là lời gần kết thúc, đúng ra không phải là lời than hay nói bình thường mà lời Chúa Jêsus tuyên bố đầy đắc thắng: Mọi việc đã được trọn! (Giăng 19:30). Chúa Jêsus đã làm trọn lời Đức Chúa Trời phán với ma quỉ vừa sau khi tổ phụ loài người phạm tội: Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người (Sáng. 3:15). Chúa Jêsus đã hoàn thành kế hoạch cứu rỗi loài người đến từng chi tiết, Ngài giày đạp đầu con rắn, dù con rắn có cắn gót chân Ngài, ngay cả đến giờ phút cuối cùng trên thập tự giá. Cảm ơn Chúa, cuối cùng Chúa Jêsus là Đấng Đắc Thắng như Chúa Jêsus đã phán: Ta đã bảo các ngươi… nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! Chúa Jêsus đã làm xong mọi lời tiên tri về Đấng Cứu Thế từ trời đến thế gian chịu chết.

Tôi không biết Vị thính giả và người sưu tầm lỗi trong Kinh thánh nghĩ thế nào, riêng tôi cứ cho là chủ quan đi, tôi phải thốt lên lời: Quả là kỳ diệu! Quý vị có nghe lời nào như thế không? Chỉ vì tội tôi và tội chúng ta.

(7)   Lời sau cùng Chúa Jêsus phán khi Ngài chịu đóng đinh trên thập tự giá là: Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha! (Luca 23:46).

CÂU HỎI: Giăng Báp-tít nói: “ta không đáng xách giày Ngài” (Math. 3:11) hay nói: “ta không đáng cúi xuống mở dây giày Ngài” (Mác 1:7;  Luca 3:16; Giăng 1:27; Công vụ 13:25).

TRẢ LỜI:

Nếu tôi hỏi Bạn: ‘Lời nào đúng?’ thì Bạn sẽ trả lời theo đa số, tức là lời: Ta không đáng mở dây giày Ngài. Cho tôi hỏi tiếp: Tại sao đúng? Chắc chắn Bạn sẽ gặp lúng túng vì trước khi xách giày phải mở dây giày chứ. Người VN chúng ta cũng có nhiều câu như: ‘ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng’, cũng có người nói: ‘ăn cơm nhà lo chuyện thiên hạ’; hoặc ‘ướt như chuột lột’, có người lại nói: ‘ướt như chuột lụt’… Nói chung cả hai đều có cùng một ý.

Câu nói của Giăng Báp-tít bày tỏ dù ông là người được dân Y-sơ-ra-ên thời đó từ thường dân đến các quan chức, người làm tôn giáo, kể cả vua, thảy đều tôn trọng, Giăng Báp-tít lại là vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước, nhưng khi tự so với Chúa Jêsus thì ông nhận biết là ông không xứng đáng làm một nô lệ phục vụ giày dép cho Chúa Jêsus.

Điều chúng ta ngày nay phải học nơi Giăng Báp-tít là biết mình là ai trước mặt Chúa là Đức Chúa Trời, là Chúa Jêsus Christ. Các thánh đồ đều biết rõ thân phận mình trước mặt Chúa:

·         Tổ phụ đức tin như Áp-ra-ham thưa với Chúa: “…tôi đây vốn là tro bụi…” (Sáng. 18:27).

·         Vua Đa-vít nói với Chúa: “Nhưng tôi là một con trùng, chớ chẳng phải người đâu… (Thi. 22:6).

·         Thánh Phaolô nói về ông: “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu” (I Tim. 1:15). Phaolô là người được cả nước khen đến nỗi không chỗ trách được, có uy quyền giết ai tùy ý, giữ đạo cổ truyền đúng mực, thế mà đứng trước sự hi sinh chịu chết chuộc tội của Chúa Jêsus trên thập tự giá, Phaolô nhận ra ông là người đứng đầu danh sách tội nhân.

Tại ngày nay, loài người chúng ta giống như người Pharisi nói với Chúa: “Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác… (Luca 18:11), dù trước mặt Chúa là Đấng các thiên binh, thánh đồ trên trời dưới đất phải quỳ lạy tôn vinh, nhiều người vẫn cho rằng họ đáng bậc cao trọng hơn người khác, do đó không chịu hạ mình trước Chúa. Nói như tiên tri Đaniên đã quở trách vua của nước Babylôn: “dầu vua đã biết hết các việc ấy, mà lòng vua cũng không chịu nhún nhường chút nào… vua không thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng cầm trong tay Ngài hơi thở và hết thảy các đường lối của vua…” Hậu quả lòng kiêu ngạo đó là ngay đêm đó Đế quốc Babylôn bị tiêu diệt (Đaniên 5:22-31).

Tôi xin Chúa cho Quý Vị thính giả, và riêng Vị Thính giả cùng người sưu tầm lỗi trong Kinh thánh sẽ bắt chước Giăng Báp-tít và các thánh đồ, hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa đã yêu thương loài người trong đó có Quý Vị qua Chúa Jêsus Christ chịu chết đền tội cho chúng ta. Đừng nhìn xuống đôi giày, đôi dép, xin Chúa cho Quý Vị nhìn vào chính Đấng yêu thương mang đôi giày đôi dép ấy.

CÂU HỎI: Viên đội trưởng nhờ Chúa Jêsus chữa cho người đầy tớ bị bại liệt gần chết bằng cách nào: Viên đội trưởng đến gặp Chúa Jêsus hay nhờ người khác đến gặp Chúa Jêsus? (Xem Math. 8:5-8 so với Luca 7:1-6).

TRẢ LỜI:

Thật ra chúng ta có thể ráp hai cách thuật truyện của hai người viết sách là sứ đồ Mathiơ và Thánh Luca lại thì có thể thấy đầu đuôi câu chuyện.

TRƯỚC HẾT.

Viên đội trưởng đã nhờ các trưởng lão người Giu-đa giúp ông gặp Chúa Jêsus và xin Ngài chữa bịnh cho đầy tớ của ông. Lý do vị sĩ quan La Mã nầy không trực tiếp gặp Chúa Jêsus có nhiều lý do mà ông là sĩ quan phụ trách khu vực đó chắc chắn biết, trong đó có lý do người Y-sơ-ra-ên ghét người La Mã đang đô hộ họ. Viên đội trưởng đã nhờ các trưởng lão là những người có cảm tình đối với ông, và ông nghĩ các trưởng lão Y-sơ-ra-ên nói với Chúa Jêsus cũng là người Y-sơ-ra-ên thì việc sẽ dễ hơn. Nhất cận lân, nhì cận thân.

KẾ TIẾP.

Sau khi Chúa Jêsus đồng ý theo thỉnh cầu của các trưởng lão, Chúa Jêsus đã tuyên bố sẽ đích thân đến nhà của viên đội trưởng La Mã. Lời tuyên bố của Chúa Jêsus rõ ràng cố ý cho mọi người và viên sĩ quan La Mã nầy nghe, vì một người Y-sơ-ra-ên dám vào nhà của một người ngoại bang là một cấm kỵ, giống như Chúa Jêsus vào vùng đất Samari để gặp người đàn bà Samari và người làng Samari. Chắc chắn viên đội trưởng dù đang ở nhà trông tin cũng sẽ được những người dưới quyền khẩn cấp báo tin Chúa Jêsus sẽ đến nhà. Tin nầy đã làm cho ông bối rối, vì cảm biết đó là đặc ân quá lớn đối với ông, nên ông đã sai người nhà chạy đến để chuyển lời của ông không đáng rước Chúa Jêsus vào nhà, không phải vì nhà của ông nghèo mà vì ông cảm biết ông không xứng đáng trước đặc ân Chúa Jêsus vào nhà ông.

CUỐI CÙNG

Có thể Chúa Jêsus cũng cứ đi vì Chúa muốn trực tiếp gặp viên đội trưởng chẳng những vì muốn chữa lành cho người bịnh mà vì Chúa Jêsus muốn ông nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, cứu ông khỏi tội lỗi. Và tôi tin rằng khi Chúa Jêsus trên đường cứ đến nhà của ông, viên đội trưởng đã không thế làm gì khác hơn là đích thân ra gặp Chúa Jêsus để nghe Chúa Jêsus phán: “Hãy về, theo như điều ngươi tin thì sẽ được thành vậy (Math. 8:13).

Điều mà người đọc Kinh thánh thay vì thắc mắc viên đội trưởng hay ông nhờ người thay ông gặp Chúa Jêsus, thì người đọc Kinh thánh nên đặt mình vào địa vị của viên đội trưởng La Mã, ông đã vượt qua hàng rào chủng tộc, hàng rào quyền thế, hàng rào tôn giáo… để gặp cho được Chúa Jêsus. Chúa Jêsus đã từ Thiên đàng nghìn trùng xa cách hạ mình xuống thế giới ô tội tìm và tạo cơ hội cho viên đội trưởng, cũng cho Vị thính giả và người sưu tầm lỗi trong Kinh thánh gặp Ngài. Viên đội trưởng đã gặp được Chúa Jêsus và hưởng được quyền năng chữa lành của Chúa Jêsus cũng như được Chúa Jêsus khen ngợi. Xin Chúa cho Vị Thính giả và người sưu tầm lỗi trong Kinh thánh cũng nhận ra cơ hội gặp Chúa Jêsus hôm nay để quyết tâm gặp Ngài, không cần nhờ trung gian nữa. Hãy gọi điện thoại cho Ban Phát Thanh Tin Lành chúng tôi hoặc tiếp xúc ngay Hội thánh Tin Lành nào gần nhất. Bạn hãy nghe một người gặp Chúa Jêsus thuật lại những phước hạnh trong đời sống mình:

Gặp gỡ Chúa Jêsus, biến đổi cuộc đời mình. Gặp gỡ Chúa Jêsus, đón nhận ơn tái sinh

Gặp gỡ Chúa Jêsus chân thành mình gặp mình. Gặp gỡ Chúa Jêsus, nảy sinh tình đệ huynh.

Hãy phá bỏ những rào cản, Bạn nhé, để gặp Chúa Jêsus hôm nay. Muốn thật hết lòng!

Tags

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 4 guests online.

Hosting by