You are hereĐỨC TIN hay NIỀM TIN

ĐỨC TIN hay NIỀM TIN


By admin - Posted on 12 March 2014

Như tôi đã trình bày trong bài GIẢI ĐÁP THẮC MẮC, đây là phần ý kiến của tôi gởi người hầu việc Chúa trong nước đã hỏi tôi, cũng chỉ là ý kiến và một góp ý nhỏ tiếp sức với anh em đang hầu việc Chúa. Nếu có ý kiến giải thích khác, tôi cũng rất mong được nghe và sẽ ghi nhận, nếu Chúa còn cho tôi có dịp, tôi cũng sẽ đưa thêm vào cách giải thích đó để người học Kinh Thánh mở rộng tầm nhìn Lời Chúa.

Mục sư Trần Thái Sơn

CÂU HỎI: Con xin hỏi mục sư vài điều mong có thêm kiến thức về Kinh thánh trong việc giảng dạy Lời Chúa cho con dân Chúa tại VN.

Câu 1: Đức tin và Niềm tin khác nhau như thế nào? Bây giờ con nghe nhiều người cầu nguyện dùng chữ ‘niềm tin’ quá.

TRẢ LỜI:

Cảm ơn Chúa cho có người đang hầu việc Chúa tin cậy chức vụ của tôi đã gởi đến những câu hỏi về Kinh thánh. Tôi xin được thưa trước vài lời tôi không có địa vị gọi là dạy, chỉ xin góp những gì Chúa cho tôi học biết được, xin Chúa dùng như chiếc bánh nhỏ giúp Ê-li đỡ lòng trên hành trình theo Chúa.

CÂU 1:

Tôi có tra Từ Điển Việt Nam tôi có được thì ‘Đức tin’ là lòng tin sâu xa; còn ‘Niềm tin’ là Lòng tin, như vậy, cả hai đều đồng nghĩa. Theo quyển Từ Điển Nghiên Cứu Từ ngữ (phần Tân Ước) [The Complete Word Study Dictionary, của Spiros Zodhiates Th.D.] trang 214, thì hai từ ‘Đức tin’ [apeithés] và ‘Niềm tin’ [ápistos] trong Hi văn là đồng nghĩa.

Hiện nay nhiều người thích dùng từ ‘mới’ để hợp thời hơn, nhưng cũng có khi không đúng.

Ví dụ 1: “Nhơn Danh” hay “Trong Danh Chúa Jêsus Christ”?

Thật ra thì nói cách nào cũng không sai, và tôi tin rằng không phải vì người cầu nguyện nói Nhơn Danh hay nói Trong Danh mà Chúa nhậm lời cầu nguyện. Kinh thánh : “Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta” (Rô. 8:26).

Điều quan trọng là người cầu nguyện đừng quên lời Chúa Jêsus dạy: “Các ngươi nhơn danh ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh nơi Con. Nếu các ngươi nhơn danh ta xin điều chi, ta sẽ làm cho” (Giăng 14:13-14), và Chúa Jêsus cũng dạy: “Quả thật, ta lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ. Vì nơi nào có hai ba người nhơn danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ” (Math. 18:19-20).

Rõ ràng Chúa dạy lời cầu nguyện được nhậm có 2 điều kiện: (1) nhơn danh Chúa Jêsus Christ và (2) hiệp một nhau dưới đất, một đường rầy xe lửa song song không thể thiếu. Nếu trong khi cầu nguyện, những người cầu nguyện không đồng ý nhau giữa “Nhơn Danh” và “Trong Danh” thì làm sao Chúa nhậm lời; ngược lại những người cầu nguyện hiệp một nhưng không ‘Nhơn Danh Chúa Jêsus Christ” hay không cầu nguyện “Trong Danh Chúa Jêsus Christ”, nhơn danh hoặc trong danh ai đó thì chắc chắn Chúa không nhậm lời.

Ví dụ 2: Từ Tin Lành.

Trong thời gian qua, trong Hội thánh có người muốn dùng từ Tin Mừng có người lại dùng từ Tin Lành. Có người đã viết thư hỏi chuyên gia An Chi: Tôi được biết hiện nay có nhiều người dùng từ “Phúc âm”, đồng thời nhiều người dùng từ “Tin Mừng” để diễn tả từ euaggelioncủa tiếng Hy Lạp. Xin ông An Chi cho biết ý kiến. Tôi xin trích nguyên văn lời đáp của ông An Chi được ghi trong Chuyện Đông Chuyện Tây, tập 2, trang 57, câu 251 [đã được in trong Kiến Thức Ngày Nay số 176 ngày 10 tháng 6 năm 1995].

“Ngoài hai cách dịch mà bạn đã nêu (Phúc âm, và Tin Mừng), từ lâu người ta còn dùng từ tổ Tin Lành để dịch tiếng Pháp (Evangile) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp euaggelionvì, như bạn biết, euaggelion có nghĩa là tin tức tốt lành. Do đó mà có những cách nói như “đạo Tin Lành”, Nhà thờ Tin Lành” v.v… Các bản dịch Kinh thánh Tân Ước của Thánh Kinh Hội tại Việt Nam (Sàigòn, 1975) và của Hội Ghi-đê-ôn Quốc tế (bản nhuận chánh 1965) cũng đều dịch Evangile là Tin Lành. Còn Phúc âm là cách dịch sang tiếng Hán mà người Việt Nam đã mượn bằng cách đọc theo âm Hán Việt. Thực ra trong tiếng Hán, đồng nghĩ với euaggelion của tiếng Hy Lạp, vốn đã có một cách diễn đạt thông dụng và quen thuộc hơn. Đó là giai âm, mà Mathew’s Chinese-English Dictionary đã dịch là “good news”. Có lẽ vì muốn tạo ra thuật ngữ riêng và muốn cho trang trọng hơn nên các nhà truyền giáo đã dịch euaggelion sang tiếng Hán thành Phúc âm. Riêng về cách gọi “Tin Mừng” -nếu đây là cách dùng và quy định cứng rắn trong giáo phái thì chúng tôi không dám có ý kiến – chúng tôi muốn lưu ý bạn rằng nó còn đồng âm với lời nói thông dụng của toàn xã hội hiện nay để chỉ sự thông báo về việc tiến hành hôn lễ nữa.

Ví dụ 3: Từ “mặc khải” haymạc khải

Một độc giả đã hỏi ông An Chi: Một bài trên Kiến thức ngày nay số 104, trang 47-51, có dùng từ “mặc khải”. Từ này không thấy có trong từ điển của cụ Đào Duy Anh và của ông Nguyễn văn Khôn. Từ “mặc khải” có liên quan gì đến thuyết linh ứng bên đạo Thiên Chúa không?

Ông AN CHI trả lời: [Chuyện Đông Chuyện Tây, tập 1, trang 244-246]

“Mặc khải là một từ Hán Việc mà người ta đã dùng để dịch danh từ Révélation của tiếng Pháp (tiếng Anh: Revelation) với tính cách là một thuật ngữ tôn giáo. Danh từ Thần học và Triết học của Ban giáo sư Đại chủng viện Bùi Chu do Trí-đức-thư-xã (Hà Nội) xuất bản năm 1952 đã ghi như sau:

Révélation: Mặc khải, Révélation divine: Mặc khải Thiên Chúa. Révélation formelle: Mặc khải mô thức. Révélation primitive: Mặc khải sơ khai (…)”.

Đồng nghĩa với mặc khải mặc thị mà người Nhật đọc thành mokuji. Họ dùng từ này để dịch tên sách Apocalypse (là sách cuối cùng trong Kinh thánh, phần Tân Ước) thành Mokuji roku (Mặc thị lục). Kinh thánh, bản tiếng Việt của Thánh Kinh Hội tại Việt Nam, in năm 1975 cũng dùng từ này, chẳng hạn “Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ” (Sách khải huyền, 1:1). Nhưng bản tiếng Việt của Hội Ghi-đê-ôn Quốc tế năm 1965 thì lại dùng từ khải thị, chẳng hạn “Sự Khải thị của Jésus Chirst” (Sách Khải thị của Giăng, 1:1).

Danh từ Thần học và Triết học đã dịchRévélation thành mặc khải và dịch Apocalypse thành Khải huyền thư. Thực ra, nghĩa của apocalypse cũng là révélation vì đó là tiếng Pháp – và cả tiếng Anh - của tiếng Hy Lạp apokalupsis, có nghĩa là … révélation, tức mặc thị, mặc khải, khải thị hoặc khải huyền. Đây đều là những từ đồng nghĩa.

Từ điển của Đào Duy Anh hoặc của Nguyễn văn Khôn không ghi nhận từ mặc khải một phần vì đây không phải là một từ thông dụng, một phần vì đó cũng không phải là từ điển cỡ lớn. Đầy đủ hơn nhiều như Từ hải cũng chỉ ghi nhận có khải thị mà không có mặc khải, mặc thị hoặc khải huyền.

Trong bài ông đã nêu, tác giả chỉ dùng từ mặc khải theo nghĩa thông thường là bộc lộ, biểu lộ… mà thôi”.

Rồi một độc giả tranh luận với ông AN CHI: “KTNN số 141, mục CĐCT có giải thích rằng mặc khải là một từ Hán Việt mà người dùng để dịch từ Révélationcủa tiếng Pháp. Xin mạn phép có đôi lời góp ý:

“Ta biết rằng Révélation (tiếng Pháp) và Revelation(tiếng Anh) có nguồn gốc bởi một từ trong tiếng La Tinh là Revelatio. Trong từ Revelatio có chữ Velum nghĩa “bức màn”. Revelatio dịch sang tiếng Hán Việt là mạc khải, bởi chữ mạc nghĩa là “bức màn” và khải nghĩa là “mở ra”. Còn chữ mặctrong từ mặc khảithì lại có nghĩa là “sự tối tăm” (mặc nghĩa “mực”) nên hai từ mặc khải mạc khải tuy đồng nghĩa với nhau nhưng cách dùng chữ có khác biệt. Vậy có nên dùng từ mạc khải thay cho từ mặc khải hay không?

Ông AN CHI trả lời:

“Về phần từ nguyên tiếng La Tinh, bạn đã phân tích rất đúng. Nhưng khi đối dịch từ thứ tiếng này sang thứ tiếng khác, người ta chỉ căn cứ theo nghĩa (hoặc những nghĩa) thực tế mà mỗi từ có thể có trong thứ tiếng đang xét. Chẳng hạn người ta chỉ dịch bridegroom của tiếng Anh thành (chàng, chú) rể; không ai dịch thành người giữ ngựa của cô dâu, viện lẽ rằng bride là cô dâu còn groom là người giữ ngựa (Vả lại, nghĩa từ nguyên của bridegroom vốn lại là người anh hùng của cô dâu. Người ta chỉ dịch woman là phụ nữ, đàn bà; chẳng ai dịch thành người (làm vợ mặc dù xét theo từ nguyên thì wo chính là tha hình (allomorph) của hình vị (morpheme) wife có nghĩa là vợ còn man thì có nghĩa là (người) đàn ông.

“Ngay cả trong tiếng La Tinh, người nói thứ tiếng này cũng chẳng cần biết rằng revelatio có liên quan đến velum là bức màn. Người La Mã ngày xưa chỉ cần biết revelatio có nghĩa là gì, huống chi người Trung Hoa khi dịch Revelation (<revelatio) sang tiếng Hán. Vì vậy mà họ đã dịch nó thành mặc khải. Chữ mặc ở đây chẳng có liên quan gì đến “sự tối tăm” vì nghĩa đen của nó cũng chẳng phải là “mực”. Tự hình của nó gồm chữ hắc và chữ khuyển) còn nghĩa của nó là im lặng, không nói gì. Đây cũng là chữ mặc trong mặc thị mà người Nhật đã mượn và đọc thành mokuji. Từ này cũng được họ viết bằng Kanji (Hán tự) gồm chữ hắc khuyển. Các vị trong Ban giáo sư Đại chủng viện Bùi Chu, nhóm biên soạn quyển Danh từ Thần học và Triết học (Trí-đức thư-xã, Hà Nội, 1953), đã không nhầm lẫn khi họ dịch Révélation mặc khải. Vả lại, tiếng Hán chỉ có khải mạc đồng nghĩa vớikhai mạc mà nghĩa đen là mở màn chứ không có “mạc khải”. Vậy xin cứ yên tâm dùng từ mặc khải để dịch Révélation như vẫn làm lâu nay”.

Xin lỗi, sở dĩ tôi phải dài dòng và mượn lời của ông An Chi giải thích vì ông là người chưa tin Chúa, lại là một chuyên gia trong việc giải thích nhiều vấn đề, như vậy sẽ khách quan hơn. Đây là điều tôi nhiều lo nghĩ việc dịch các sách trong Hội thánh và dịch Kinh thánh.

Chúng ta cảm ơn Chúa vì từ những ngày các vị mục sư tiền bối nội ngoại hiệp nhau dịch Kinh thánh ra tiếng Việt, các vị ấy đã nhìn thấy cần có một quyển Kinh thánh tiếng Việt đạt tiêu chuẩn tiếng Việt tối thiểu, nên đã mời nhà văn Phan Khôi góp phần cố vấn văn phong tiếng Việt, điều mà các dịch giả Kinh thánh ngày nay thiếu. Tôi mạn phép nghĩ một người dịch bất kỳ sách cần ít nhất 3 tiêu chuẩn: biết ngoại ngữ sách muốn dịch, biết ngôn ngữ cần dịch ra (ví dụ như tiếng Việt), và người dịch cũng phải am tường văn hóa phong tục của dân tộc có sách cần dịch cũng như am tường văn hóa phong tục dân tộc có tiếng cần dịch ra, ấy là chưa nói người dịch cần một kiến thức tối thiểu văn chương, lịch sử, văn minh,… thế giới. Quan trọng nhất là nếu dịch Kinh thánh, ngoài ba tiêu chuẩn trên, người dịch cần vững vàng về Thần học và ngôn ngữ trong Hội thánh nữa. Tôi xin nêu vài ví dụ:

·         Có người đã dịch tựa đề một quyển sách: “Có phải là Ngài, Lạy Chúa?” Văn phạm tiếng Việt không cho phép dịch câu văn như vậy.

·         Tôi đang đọc quyển “Dân Do-thái với Thế Giới và Tiền Bạc”. Quyển sách có giá trị về tài liệu lịch sử hai ngàn năm của dân Do thái, nhưng rất tiếc ngoài vấn để lỗi kỹ thuật ấn loát, dịch giả là không nắm bắt được những sự kiện lịch sử nêu ra trong sách nên dịch cách mù mờ.

·         Tôi đọc quyển “Chừng Đạo Bùng Nổ”, dịch giả lại dùng từ quá nhiều, lúc nào, trang nào cũng bắt gặp rất nhiều từ ngữ nầy một cách dư thừa, phí phạm.

·         Trong một bản dịch Kinh thánh, dịch giả đã dịch theo ý mình để cho lịch sự câu nói của Chúa Jêsus nói với Ma-ri trong đám cưới tại Ca-na là “Thưa mẹ…” theo văn hóa Việt Nam, rủi thay phép lịch sự đó làm sai lệch thần học Thần tánh của Chúa Jêsus lúc đó. Hội thánh Việt Nam đã từng muốn dịch lại Kinh thánh tiếng Việt cho sát với nguyên ngữ, nên đã cho dịch Tân Ước được gọi là Bản Ghi-đê-ôn hay Bản Nhuận Chánh. Sau khi phổ biến thì bản dịch gặp khó trong cách dùng danh xưng của Chúa, ví dụ như chỉ gọi tên Jêsus mà không có từ tôn kính đệm theo như ‘Đức Chúa’, ngoài ra cũng không giống văn phạm tiếng Việt. Do đó đã phải bỏ đi.

Về Danh xưng Đức Chúa Trời cũng là một việc cần lưu ý. Thật sự về phương diện ngôn ngữ học, Danh xưng ‘Đức Chúa Trời’ có hai âm ch tr đi chung là một nghịch âm khó phát âm cho đúng, nhưng đã được thông dụng cả trăm năm nên ít ai còn quan tâm. Có người muốn dùng những Danh xưng khác thay thế như: Thiên Chúa, Thượng Đế.

Tuy nhiên, nếu dùng Thiên Chúa thì văn chương quá và nhất là đa số người Việt Nam sẽ ngộ nhận là Đạo Thiên Chúa một danh từ chỉ về Đạo Công giáo La Mã.Còn nếu dùng Danh Thượng Đế thì người Việt Nam bình dân sẽ dễ ngộ nhận với danh Ngọc Hoàng Thượng Đế là một sai lầm quá lớn trong giới bình dân, ấy là chưa kể đồng bào Việt Nam ở vùng ảnh hưởng của tôn giáo Cao Đài sẽ nghĩ đến một Thượng Đế theo giáo lý của họ.

Có một điều lạ là ngày nay rất nhiều người dùng danh xưng Đức Chúa Trời dù họ không phải là người Tin Lành theo Chúa Jêsus Christ, trong khi đó người thuộc nhiều giáo phái Tin Lành lại thích dùng Danh Thiên Chúa.

Nhân nói về Danh Đức Chúa Trời, mới đây có người gởi thư cho tôi lấy làm thích ý khi nghe ai đó lý giải không nên dùng Danh Giê-hô-va, mà thay bằng Danh “Chúa”. Lý do họ đưa ra là vì dân Y-sơ-ra-ên rất kính trọng danh Giê-hô-va, do đó chúng ta cũng phải kiêng nói đến Danh Giê-hô-va. Họ muốn bắt chước một số người Mỹ thay Danh Giê-hô-va bằng Danh “Chúa” [Lord].

Theo tôi thì không nên. Rõ ràng dân Y-sơ-ra-ên rất kính trọng Danh Giê-hô-va vì đó là Đặc Danh của Đức Chúa Trời, nhưng họ vẫn nói đến Danh Giê-hô-va. Điều quan trọng là không phải lúc nào cũng dùng Danh Giê-hô-va, đó là điều cấm kỵ được 10 Điều Răn quy định, bình thường người Y-sơ-ra-ên sẽ dùng một Danh khác thay, nhưng họ vẫn xưng Danh Giê-hô-va. Nếu người Y-sơ-ra-ên vì tôn kính mà không nói đến Danh Giê-hô-va thì làm sao ngày nay người tin Chúa biết Đức Chúa Trời có một Danh đặc biệt đó. Tóm lại Danh Giê-hô-va là một Danh Xưng Không Thể Thay Thế và Không Phải Lúc Nào Cũng Nói Đến.

Qua phân tích như vậy, tôi đề nghị, người hầu việc Chúa vài ý kiến:

(1)   Nhờ ơn Chúa, cố gắng có vài loại Từ Điển bên cạnh, gồm tiếng Việt, Hán-Việt, nếu có điều kiện thì thêm vài Từ Điển ngoại ngữ. Đừng thỏa mãn với những từ hiện ra trong trí, hãy cân phân chọn lựa càng chính xác, càng thích hợp với tình huống muốn giảng càng tốt.

(2)   Cũng phải nhớ văn hay nhất là văn giản dị, nói ra ai cũng hiểu, hãy giảng cho đa số hiểu thì mọi người cùng hiểu. Hãy xem các lãnh tụ cao cấp của thế giới, các nguyên thủ quốc gia, các vị luôn có những bài diễn văn với ngôn từ giản dị. Thật có những tín đồ đáng thương nói về bài giảng của vị mục sư mà họ nghe mỗi tuần: “Mục sư của tôi giảng rất cao, tại tôi ít học nên không hiểu được”. Thế thì vị mục sư giảng cho ai nghe? Vô tình mục sư đã giết một người nghe. Có người một tuần mới được nghe giảng Lời Chúa một lần, có người một tháng mới được nghe giảng Lời Chúa một lần, có người một năm, thậm chí có người cả đời mới được nghe một lần, nếu mục sư giảng ra mà người nghe không hiểu hoặc không phải giảng Lời Chúa, thì sẽ làm người nghe đánh giá Lời Chúa cũng giống bao loại kinh sách khác và họ sẽ không bao giờ trở lại với Lời Chúa, họ sẽ hư mất đời đời.

(3)   Ngoài văn phong giản dị, người giảng cần tập phát âm rõ ràng, ngắt câu đúng chỗ, diễn tả thích hợp câu văn giảng, tạm gọi là Nhịp văn.

Tôi đề nghị người giảng Lời Chúa tránh dùng những sáo ngữ, tránh câu văn cầu kỳ, cũng đừng tìm trích đọc lời tác giả nầy tác giả kia thật nhiều mà chính mình chưa thưởng thức, chỉ cần nói với giọng thân tình, lời giản dị, sẽ dễ đi vào lòng người nghe.

Muốn Thật Hết Lòng!

Tags

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 4 guests online.

Hosting by