You are here300 Thắc Mắc II (52-100)

300 Thắc Mắc II (52-100)


By admin - Posted on 16 November 2008

 

III. CHỨNG ĐẠO

52. Tôi không tin có Thượng đế, không tin có thiên đàng, địa ngục. Chết là hết.

+ Đối với người hỏi câu nầy, chúng ta để ý họ có thể thuộc một trong hai hạng:

  1. Hạng người nói ngang, nói cho qua chuyện.
  2. Hạng người có thành kiến về tôn giáo, hay mặc cảm vì bị những thất bại trong cuộc sống.

Căn bản của vấn đề là thuyết phục họ tin có Đức Chúa Trời, thì những vấn đề còn lại sẽ dễ dàng.

-    Bạn là người có lập trường rõ ràng (khởi sự bằng lời khen).

Tôi tin rằng lập trường rõ ràng như vậy là do bạn có những bằng cớ rõ ràng.

Tôi đề nghị bạn cho tôi trưng những bằng cớ chứng minh có Đức Chúa Trời, rồi xin bạn cho tôi biết những bằng cớ khiến bạn không tin có Đức Chúa Trời.

(Dùng những bằng cớ chứng minh có Đức Chúa Trời qua thiên nhiên, qua con người, qua tôn giáo, qua Kinh thánh, Đức Chúa Giêxu, Cơ đốc giáo. Điều chắc chắn là người nầy không có bằng cớ phủ nhận Đức Chúa Trời. Đến đây, chứng đạo viên có thể biết người nghe thuộc hạng nào).

-    Sau khi chứng minh có Đức Chúa Trời, chúng ta kết luận có thiên đàng để ban thưởng, có địa ngục để hình phạt, và sau cái chết là đối diện với Đức Chúa Trời (Hêbơrơ 9:27).

-    Nếu họ thuộc loại ngang, chứng đạo viên hãy đọc cho họ nghe vài câu Kinh thánh sau đây rồi từ giả (Những câu Kinh thánh sau đây nói đến số phận những người chối bỏ Đức Chúa Trời, vừa đọc vừa áp dụng nhẹ nhàng).

  • Xuất 5:1-2 Vua Aicập không tin có Đức Chúa Trời.
    Số phận 14:26-28.
  • Đaniên 5:22-23 Vua Babylôn không tin có Đức Chúa Trời.
    Số phận 5:24, 28, 30.
  • Công. 26:9, Sứ đồ Phao lô không tin có Đức Chúa Giêxu.
    Số phận 26:6 -11.

Nếu người nghe thuộc hạng thành kiến hay mặc cảm, hãy an ủi họ sau khi biết rõ có Đức Chúa Trời, thì nên chọn con đường đến thiên đàng, đừng tiếp tục chối bỏ Đức Chúa Trời mà bị đoán phạt.

53. Nếu Đức Chúa Trời yêu thương loài người, không muốn con người phạm tội, thì tại sao Ngài đặt cây cấm ở vườn Êđen để tổ phụ con người phạm tội? Phải chăng Ngài đã gài bẫy con người?

+ Bạn dùng chữ 'gài bẫy, tôi đề nghị dùng chữ 'thử nghiệm.'

+ Bạn hãy đọc lại Sáng 2:15-17 Đức Chúa Trời đặt con người trong vườn Phước hạnh, ban cho con người TỰ DO là điều chỉ con người mới có, và Đức Chúa Trời đã tôn trọng sự tự do đó, nên Ngài đặt cây 'Biết điều thiện điều ác', để thử nghiệm cách sử dụng tự do của con người với lời dặn bảo.

+ Rồi đọc Sáng 3:11, 13 Bạn sẽ thấy loài người bị phạt không phải vì ăn trái cấm {Chúa không hề tuyên án phạt liền, mà Ngài mở một con đường cho con người ăn năn, nên Chúa đã hỏi người nam, rồi hỏi người nữ (Ngài không hề hỏi con rắn)}.

Chỉ sau khi loài người không ăn năn, án phạt mới công bố.

+ Cho nên vấn đề không phải là bạn phạm tội gì, nhưng là bạn có ăn năn không?

54. Tại sao Thượng đế Toàn năng lại để nhân loại đau khổ như ngày nay (bịnh tật, chiến tranh)?

+ Điều đáng mừng là bạn nhận ra đời người là đau khổ, vì đó là bước đầu tiên khiến chúng ta dễ quay về tìm kiếm Thượng đế. Trái với một số người có điều kiện sống khả dĩ, lại cho rằng mình sung sướng rồi nên không lo tìm kiếm Thượng đế.

+ Vì bạn dùng chữ NGÀY NAY, điều đó ám chỉ bạn đồng ý ngày xưa hay ngày trước con người không đau khổ như vậy. Bạn đã dùng chữ rất đúng. Kinh thánh cho chúng ta biết khi Đức Chúa Trời dựng nên con người thì Ngài ban phước cho (Sáng 1:28), đặt người vào vườn Phước hạnh (Sáng 2:8).

+ Và Kinh thánh trả lời cho bạn lý do con người bị đau khổ:

  • Sáng 3:16-19, Vì con người làm theo ý riêng, phạm tội không vâng lời Chúa, mà lại không chịu ăn năn.
  • Truyền đạo 7:29, Tại con người phạm tội tìm mưu kế hại nhau, nên mới đau khổ.
  • Rôma 1:21-32, Bạn hãy bình tỉnh đọc hết những câu nầy.

+ Tuy nhiên, xin Chúa cho bạn đã nhìn thấy đau khổ như vậy, thì cũng nhìn thấy đau khổ đời sau mà mau mau tránh xa, bằng cách ăn năn tội với Đức Chúa Trời, quay về tiếp nhận Đức Chúa Giêxu để được tha tội. Khi bạn làm như vậy thì Chúa hứa với bạn:

  • Ê sai 63:9; Thi 23:; Hêbơrơ 4:14-16. Chúa sẽ an ủi, ở cùng và bảo hộ cho bạn trong đời nầy.
  • Giăng 3:16; 3:36; 5:24; Rôma 8:1. Chúa ban cho bạn sự sống đời đời ngay bây giờ và trong cả đời sau không còn bị đoán phạt nơi địa ngục.

55. Tin Lành nói: 'Chúa đến để giải thoát người đời khỏi đau khổ, tội lỗi.' Sao trong cuộc sống vẫn còn quá nhiều bất công? Chúa có nhìn thấy không?

+ Bạn hãy đọc Giăng 1:11; Ê xêchiên 33:11 để biết tại sao con người vẫn còn đau khổ, tội lỗi, bất công: Tại con người không nhận sự yêu thương, cứu chuộc của Chúa.

+ Giăng 3:16 Đức Chúa Trời yêu thương, nhưng con người có bằng lòng nhận tình yêu thương của Chúa không? Như chính bạn bây giờ có nhận không?

+ Bạn hỏi: 'Chúa có nhìn thấy không?'

Bạn hãy nghe Chúa trả lời: Xuất 3:7-9; Mathiơ 9:36.

+ Bây giờ Chúa hỏi bạn: Bạn có nhìn thấy Chúa thương bạn không? Sao ngươi muốn chết?

56. Có người nói: Nhờ sự gian ác của loài người mới có sự công bình của Đức Chúa Trời (cũng như nhờ bóng tối mới có ánh sáng). Trong khi đó thì Kinh thánh nói Đức Chúa Trời là Công bình?

+ Câu nầy có hai phần: Kinh thánh nói và có người nói.

Phần Kinh thánh nói Đức Chúa Trời là Đấng Công bình là đúng (Exơra 9:15; Thi 119:142; I Giăng 1:9).

Phần có người nói, thì người đó nói chưa đúng. Đáng lẽ phải nói: 'Nhờ sự gian ác của con người, chúng ta mới thấy được sự công bình của Đức Chúa Trời', chớ không phải nhờ sự gian ác của con người, thì Đức Chúa Trời mới trở nên công bình.

Thi 119:142 nói: Sự công bình của Đức Chúa Trời là đời đời, nghĩa là dầu không có con người, chưa có con người, Đức Chúa Trời vẫn là công bình.

Ngay câu người đó nói: 'Nhờ bóng tối mới có ánh sáng' cũng đã sai. Aùnh sáng ra từ nguồn sáng chớ không ra từ nguồn tối, nhưng nhờ chúng ta ở trong tối mới nhận ra nhu cần ánh sáng.

+ Nói về hiện tượng quang học thấy được mà bạn còn nói sai, chắc chắn câu bạn nói về Đức Chúa Trời không thấy được, không thể đúng.

+ Gióp 42:5-6; I Timôthê 1:13-15.

Hai vị thánh này nhờ gặp Nguồn Sáng Đức Chúa Trời thánh khiết, công bình; họ đã thấy được địa vị tối tăm, bất nghĩa của chính mình.

57. Tôi nghĩ tôn giáo nào cũng đều nhắm mục đích là đạo đức hóa con người, làm cho con người tốt hơn.Cho nên đạo nào cũng vậy! Tin lành có lẽ cũng không ngoài điều đó?

+ Mục đích của hầu hết tôn giáo đều giống như bạn nói. Aáy là 'Đạo đức hóa' con người. Nói theo thông thường là 'Đạo nào cũng dạy làm lành lánh dữ.'

+ Nhưng cách thực hiện 'Đạo đức hóa' sẽ khác nhau giữa Tin lành và các tôn giáo.

Các tôn giáo dạy cho con người biết cái gì lành, cái gì thiện . . . theo quan điểm của con người. Rồi khuyến khích cho con người tự lực cứu mình, hạn chế làm ác.

+ Riêng Tin lành dạy cho con người:

  1. Lành, ác theo quan điểm của Đức Chúa Trời (Xuất 20:1-17).
  2. Con người không thể tự cứu (Rôma 7:21).
  3. Giải pháp duy nhất để được cứu là tin Đức Chúa Giêxu (Giăng 3:16, 36; Công vụ 4:12).

+ Vấn đề là người muốn sống đạo đức, dầu không có tôn giáo, nhưng không đạo đức trọn được. Do đó, con người cần tin nhận Đức Chúa Giêxu để được tha tội, giải quyết được cái căn bản, thì sẽ sống đạo đức được.

Một người chưa tin Đức Chúa Giêxu, là người mất Nguồn Sống từ Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa (Rôma 3:23), nên những việc làm gọi là đạo đức sẽ chỉ là những trái giả gắn vào cây chết (Êsai 64:6).

Bây giờ bạn tin nhận Đức Chúa Giêxu, tội bạn được tha, bạn được lập lại sự tương giao với Đức Chúa Trời (Côlôse 1:20), tiếp được sự sống từ Chúa (Giăng 1:4; 3:16b; 5:24). Tự nhiên cây đó sẽ sinh hoa kết trái.

58. Việc giác ngộ đạo giáo để trở thành một tín đồ ngoan đạo, có lẽ tôn giáo sẽ biến họ thành một con người xơ cứng, tin vào cái gì huyền bí. Nhận xét nầy đúng hay sai?

+ Vì bạn dùng câu: 'Tin vào cái gì huyền bí!' Chứng tỏ bạn từng nghiên cứu nhiều tôn giáo và đã thấy sự mơ hồ của những loại niềm tin đó.

+ Tuy nhiên, cũng chính vì câu đó, cho thấy bạn chưa biết về niềm tin của Cơ đốc nhân đối với Chúa.

Kinh thánh giải thích niềm tin của Cơ đốc nhân như sau:

  1. Hêbơrơ 11:1 Đức tin là sự biết chắc, biết rõ ràng điều họ tin (đối tượng tin).
  2. II Timôthê 1:12 Phaolô xác nhận ông biết rõ, biết chắc Đấng mà ông tin.

Do đó, Tin lành không dạy con người tin vào cái gì huyền bí, mà tin vào một thực thể.

+ Về chữ 'xơ cứng' của bạn, Giăng 8:36 Đức Chúa Giêxu giải thích người tin Ngài là người được tự do, sống một đời như gió muốn thổi đâu thì thổi (Giăng 3:8).

Một người tin nhận Đức Chúa Giêxu là người được sự sống và sự sống dư dật, đầy bông trái như Galati 5:22.

59. Tôn giáo chỉ dành cho kẻ tuyệt vọng, yếu đuối. Con người phải tự cứu lấy mình và tin vào khả năng vô tận của con người.

+ Câu hỏi của bạn có hai phần. Phần thứ nhất bạn nói rất đúng. Nhưng bạn biết kẻ tuyệt vọng và yếu đuối là ai không? Kinh thánh chép: Rôma 3:23. Duy có một điều quan trọng về sự khác nhau giữa tôn giáo và đạo của Đức Chúa Giêxu ấy là Đạo của Chúa chẳng những chỉ cho con người địa vị tuyệt vọng (Rôma 7:24) mà còn chỉ cho con người phương pháp để được giải cứu (Rôma 7:25).

+ Về phần thứ hai của câu hỏi, tôi không biết bạn có khả năng thế nào (chắc chắn không vô tận), nhưng tôi biết nhiều danh nhân, bác học có khả năng rất lớn, nhưng đã nói :

  • Loài người phải học cách dùng quyền năng của mình, Quyền năng chứ không phải vạn năng (André Mauroix).
  • Nhảy được từ đất lên mặt trăng, hay là lên được hỏa tinh, kim tinh, hoặc tới các sao chổi, tới các giải ngân hà đi nữa, kể ra cũng là rất mực tài tình và can đảm thật đấy, nhưng so với vũ trụ thì có đáng kể là bao đâu! (André Mauroix).
  • Đừng thấy cái bóng to của mình trên vách mà tưởng mình vĩ đại.

Và bạn có biết triết gia Nietzsche chủ trương thuyết Siêu nhân gần giống như bạn đã chết trong sự mất trí, điên loạn.

+ Con người chúng ta không phải là Siêu nhân, nhưng cũng đừng bi quan, tuyệt vọng vì Đức Chúa Trời đã cho bạn một giải pháp để bạn từ tội nhân tuyệt vọng thành thánh nhân đầy hy vọng (Công vụ 26:18).

60. Nan đề thì ai cũng có, người tin có Chúa cũng như người không tin có Chúa. Vì vậy, cách giải quyết nan đề của mỗi người mỗi khác. Người tin Chúa thì nhờ Chúa giải quyết và vấn đề nhiều khi được trả lời một cách rõ ràng cụ thể. Tuy nhiên cũng có lúc nan đề cứ nằm ì ra đó, hoặc theo thời gian nan đề cũng dần dần bị lãng quên . . . mà người tin Chúa không thấy sự can thiệp của Chúa. Còn người không tin Chúa bởi niềm tin họ đặt nơi các vị thần của họ như Phật bà Quan âm, Đức mẹ . . ., họ thấy cũng nhận được cách giải quyết và được cứu giúp. Còn nếu họ 'CHƯA' nhận được sự cứu giúp thì họ cũng tự nhủ: mình chưa đủ 'Nhân duyên', hay chưa đủ lòng thành để nhận sự cứu giúp của ơn trên.

Vậy, những nan đề được giải quyết của người tin Chúa và người không tin Chúa đâu có khác gì nhau? Khác chăng chỉ là đối tượng của lòng tin nơi mỗi người mà thôi (hay đó là do 'Tự kỷ ám thị?')

+ Thật ra câu kết luận của bạn đã nói lên sự khác nhau của 2 hạng người tin và không tin Chúa: 'Khác chăng chỉ là đối tượng của lòng tin.' Cho nên có 3 điểm khác nhau như sau:

(1)   Khác về đối tượng để đặt niềm tin giải quyết:

  • Người không tin Chúa đặt niềm tin vào một đối tượng không chắc chắn như con người (Ê sai 2:22), hoặc một thần mà họ không biết rõ hay họ biết rõ là một thần mơ hồ (như Quan âm là một thần tưởng tượng), giải thích khác nhau, có khi là nữ như Trung Quốc và Việt Nam, có khi là nam như Tây tạng . . . Đức mẹ mà bạn gọi thì bạn biết rõ chỉ là người như chúng ta (Luca 1:27, 38, 46; Công vụ 1:14).
  • Còn người tin Chúa thì họ biết rõ Chúa là ai (Giăng 1:1-3, 14) qua Kinh thánh và qua kinh nghiệm trong đời sống của họ (I Giăng 1:1) và Chúa giải quyết cho họ (I Phierơ 5:7).

Vì vậy, khi người tin Chúa đặt nan đề của họ cho Chúa, họ biết rõ, biết chắc nan đề của họ sẽ được giải quyết một cách tốt nhất theo ý Chúa của họ, chứ không do may rủi.

(2)   Khác về thái độ đối với kết quả giải quyết:

  • Người không tin, như bạn nói, khi kết quả không đúng ý họ (nghĩa là chưa giải quyết), thì tự an ủi là chưa đủ 'Duyên', chưa đủ lòng thành. Đó cũng là một cách tự kỷ ám thị. Đó là họ còn biết nghĩ, nếu không họ sẽ khốn khổ mà tự tử chết.
  • Người tin Chúa, vì họ biết rõ Chúa của họ là Thực hữu, Toàn năng nên họ sẽ sống lúc nào cũng vui mừng (I Tês. 5:18, Philíp 4:6,7) nhất là vì họ biết rõ tại sao nan đề của họ không được giải quyết như ý họ muốn (Giacơ 4:3).

+ Xét về mặt tâm lý, bạn thấy rõ người tin Chúa ổn định hơn, bình an hơn, về mặt tín ngưỡng thì họ đúng là có đức tin; còn người không tin Chúa, bạn phải nhận là mê tín. Bạn có thể chọn chỗ đứng cho bạn rồi đó!

(3)   Khác về mục đích giải quyết nan đề: Không phải chỉ giải quyết nan đề đời nầy mà thôi (điều người khác và tự bạn có thể giải quyết) nhưng còn cần giải quyết đời sau (chỉ có Chúa mới giải quyết được).

61. Tôi có thể tin tưởng nhiều đạo giáo trong cùng một lúc không? (Vì thấy mỗi đạo đều có cái đúng, cái hay).

+ Bạn có quyền tin tưởng nhiều đạo một lúc, để học cái đúng cái hay của họ.

Nhưng nếu bạn muốn được cứu rỗi, muốn tội được tha, muốn được làm con Đức Chúa Trời, thì bạn chỉ có thể TIN NHẬN ĐỨC CHÚA GIÊXU làm Cứu Chúa của bạn.

Vì bạn biết rõ:

  1. Các tôn giáo đều chỉ giúp con người biết cái sai, cái trật của mình và có những lời khuyên bảo, nhưng không có tôn giáo nào cứu được con người. Khổng tử nói: 'Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo giả' (Phạm tội với trời, thì không thể cầu khẩn nơi nào).
  2. Người không có tôn giáo cũng có cái đúng cái hay. Vậy thì không cần tôn giáo.
  3. Kinh thánh khẳng định ngoài Đức Chúa Giêxu không có sự cứu rỗi nào khác (Công 4:12; I Timôthê 2:5).

62. Tôi thấy có nhiều người theo đạo mà đạo đức còn thua tôi, nếu không nói là tệ. Vậy tôi thấy không có đạo mà sống tốt thì còn hơn là theo đạo phải không?

+ Bạn đã dùng từ ngữ thật chính xác, những người mà bạn nói họ chỉ THEO ĐẠO, theo một tôn giáo, vì họ tưởng theo đạo Tin lành cũng như theo một tôn giáo khác.

Bạn có thể nghe Chúa phán về những hạng người đó trong Kinh thánh sách Mathiơ 7:21, 23: "Chẳng phải những kẻ nói: Lạy Chúa, lạy Chúa thì đều vào được nước thiên đàng đâu . . ."

+ Kinh thánh không bao giờ dạy bạn phải THEO ĐẠO, mà kêu gọi bạn TIN NHẬN ĐỨC CHÚA GIÊXU (Công vụ 16:31).

+ Cảm ơn Chúa là bạn đã nhận ra vấn đề không phải là có đạo, và bạn đã có một ước vọng là sống tốt hơn. Tuy nhiên, Chúa muốn bạn không phải chỉ sống tốt hơn, mà là tốt nhất. Vì khi bạn nói tốt hơn, có nghĩa là còn chưa trọn như thánh Phaolô nói trong Rôma 7:14-21, lý do là vì mọi người trong đó có bạn và tôi vốn dĩ đã là tội nhân, nên không thể sống tốt trọn.

+ Bây giờ bạn không cần THEO ĐẠO, mà là TIN NHẬN CHÚA GIÊXU để được tha thứ tội, rồi bởi đức tin đó, Chúa cho bạn năng lực sống tốt nhất trước mặt Chúa và mọi người.

63. Các thánh nhân không hoàn toàn vô tội! Còn Đức Chúa Giêxu thì sao? Có gì chứng minh Chúa là Đấng vô tội?

+ Đúng như bạn biết, các thánh nhân không hoàn toàn vô tội như Kinh thánh đã phán "Mọi người đều phạm tội" (Rôma 3:23). Phàm là người thì mang lấy tội.

Vua Đavít là vị vua nổi tiếng, được dân Isơraên tôn kính đã viết những lời như sau :

"Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác ,
Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi
Tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi"
(Thi 51:3, 5).

+ Về Đức Chúa Giêxu, có những bằng cớ sau đây chứng minh Ngài là Đấng vô tội:

  1. Giăng 1:1 -3, Đức Chúa Giêxu là Đức Chúa Trời, nên Ngài vô tội.
  2. Luca 1:35, Đức Chúa Giêxu đã giáng sinh bởi Đức Thánh Linh, Ngài là Con Thánh.
  3. Giăng 8:46, Đức Chúa Giêxu đã sống giữa mọi người, nhưng không ai bắt tội được Ngài, kể cả kẻ thù nghịch.
  4. Giăng 19:6, Quan tòa Philát xác nhận Đức Chúa Giêxu không có tội.
  5. Luca 23:41b, Tên ăn cướp trên thập tự cũng nhìn nhận Đức Chúa Giêxu không hề làm điều ác gì.
  6. Công vụ 3:14, Phierơ đã mạnh dạn xác nhận cho dân Isơraên biết họ đã giết Đấng Thánh, Đấng Công bình (Đấng vô tội).

Trên 2000 năm qua, nhân loại cũng không thể phủ nhận sự vô tội của Ngài.

66. Nếu phạm tội thì đã có luật pháp xã hội. Như vậy có cần Chúa không? Vai trò của Chúa như thế nào?

+ Kinh thánh khẳng định: "Không có một người công bình" (Rôma 3:10). Mọi người đều đã phạm tội (Rôma 3:23). Kinh thánh không phải chỉ nói đến những tội phạm mà luật pháp xã hội có đề cập, Kinh thánh còn đề cập đến những tội phạm của con người đối với Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa.

+ Qua Mười Điều răn của Đức Chúa Trời ghi trong Kinh thánh (Xuất 20:1-17 và Rôma 5:14, 15, 19), bạn nhận ra tại sao Kinh thánh khẳng định: Mọi người đều phạm tội, ngay một vị vua như Đavít (Thi 51:3, 5), hoặc một thánh nhân như thánh Phaolô (I Timôthê 1:13-15).

+ Vả lại, bạn cũng biết luật pháp đời nầy có nhiều mặt hạn chế như:

  • Chỉ xử phạt những tội biết được.
  • Có khi xử phạt sai vì bằng cớ giả, vì bị mua chuộc.
  • Có những tội không biết.
  • Có những tội theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời mà đời nầy không phạt (Xuất 20:1-11; Giăng 3:36).

+ Luca 15:18, 21 Đứa con bất hiếu nầy nhận biết là nó đặng tội với Trời và với cha nó.

+ Cho nên, bạn phải nói như Đavít trong Thi 32:5 và đó chính là vai trò của Chúa.

67. Tin Lành có phải là một tôn giáo không?

+ Khi dùng chữ Tin lành như cách bạn hỏi, tôi nghĩ phải hiểu 2 ý:

(1)    Phương diện tổ chức (Hữu hình):

Bạn phải hiểu rằng khi nào có 2 người thì phải có tổ chức. Vì vậy chữ Tin lành mà bạn dùng cũng có nghĩa là một tổ chức nơi đó rao giảng giáo lý về ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Giêxu. Đó là ý nghĩa của chữ tôn giáo.

(2)    Phương diện tín lý (Vô hình):

Rôma 1:16-17 giải thích Tin lành là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin. Ngay 2 chữ 'Tin Lành cũng đã nói lên ý nghĩa Tin Lành không phải là tôn giáo.

+ Tuy nhiên, khi bạn nghe giảng Tin lành, thì không phải mời bạn vào tổ chức Tin lành, nhưng là mời bạn tiếp nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Giêxu. Sau khi tin Chúa Giêxu, bạn nên gia nhập vào Hội thánh Tin lành để học hỏi thêm giáo lý Tin lành.

66. Tin lành có phải là một định lý không?

+ Câu hỏi của bạn không rõ ràng lắm. Nhưng có thể câu trả lời là: 'Tin Lành là một định luật của sự cứu rỗi." Định luật cứu rỗi đó ghi trong Kinh thánh (Giăng 3:16, 36).

+ Định luật là phải chứng minh. Đây là những bằng cớ chứng minh:

  • Người không tin: Luca 12:16-20; 16:19-31.
  • Người tin: Luca 16:23b; 25b; I Timôthê 1:12-16.

67. Xin giải thích nghĩa chữ 'Hội thánh Tin Lành.'

+ Theo cách dùng của Kinh thánh trong tiếng Hilạp, thì chữ Hội thánh có nghĩa là 'Một số người được kêu gọi ra khỏi (thế gian)' (nguyên văn Hilạp là Kuriakos nghĩa là của hay thuộc về Chúa - Kurios - Từ chữ đó có chữ: Ek-klésia gồm 2 từ: Ek ra khỏi; Kalésia được kêu gọi).

+ Nếu giải thích theo tiếng Việt thì có nghĩa như sau:

  • Hội là một số người họp lại theo đuổi mục đích gì.
  • Thánh là trong sạch, đạo đức.

Theo Kinh thánh thì THÁNH còn có nghĩa biệt riêng ra, thuộc về Đức Chúa Trời.

  • Tin: là một tin tức.
  • Lành: là tốt lành, vui.

Như vậy, Hội thánh Tin lành là một cơ quan của một số người đã tiếp nhận tin tức tốt lành về Đức Chúa Giêxu đã đến thế gian cứu nhân loại (Luca 2:10-11) và theo đuổi mục đích là truyền bá tin tức tốt lành đó cho mọi người.

+ Riêng tại Việt Nam, chữ Hội thánh Tin lành chỉ về một tổ chức Giáo hội thuộc hệ Cải chánh (hay Tin lành), tức là một số người thờ phượng Đức Chúa Trời qua Đức tin nơi Đức Chúa Giêxu, theo như sự dạy dỗ của Kinh thánh.

Đây là một tên riêng chỉ có ở Việt nam (Bây giờ cũng có ở ngoại quốc do những kiều bào tin Chúa sống ở hải ngoại). Chứng tỏ Hội thánh Tin Lành Việt Nam không trực thuộc một hệ thống giáo phái nào.

Lịch sử tên Hội thánh Tin lành Việt Nam là từ 1928, khi đệ trình bản Điều lệ lên Hoàng đế Việt Nam, thì dịch chữ Eglise Evangélique du VN ra Hội thánh Tin lành Việt Nam, chớ không mang tên Phước âm Liên hiệp là Hội đã đem Tin lành đến Việt Nam. Tên Hội thánh Tin lành Việt Nam không do một Hội đồng hay một người nào đặt ra cả.

68. Bất cứ người có tôn giáo hay không có tôn giáo, khi cảm thấy đạo Tin lành hay, thì có thể xin vào được không?

+ Cảm ơn Chúa là bạn đã dành cho đạo Tin lành của Đức Chúa Giêxu một cảm tình.

Nhưng chúng tôi không hề giới thiệu một đạo Tin lành tốt hơn, hay hơn các tôn giáo khác hoặc người không tôn giáo, mà chúng tôi chỉ giới thiệu cho bạn một Tin lành theo Kinh thánh như sau:

  1. Rôma 1:2-4, Tin lành nầy là Đức Chúa Giêxu là Đức Chúa Trời thành người.
  2. Rôma 1:16, Tin lành nầy là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu người nào tin Đức Chúa Giêxu ra khỏi tội lỗi.
  3. Rôma 1:17, Tin Lành của Đức Chúa Trời để ban cho người tin Đức Chúa Giêxu năng lực sống công bình đạo đức.

+ Về tổ chức, bạn có thể xin vào đạo Tin Lành dễ dàng bằng cách gặp một tín hữu Tin Lành hoặc đến Nhà thờ Tin Lành bày tỏ ý định đó, bạn sẽ được hướng dẫn.

+ Tuy nhiên, Chúa muốn bạn nhận biết Tin lành theo như Kinh thánh dạy, để thật lòng ăn năn tội, quyết định tin nhận Đức Chúa Giêxu, để khi bạn vào đạo Tin lành, những nghi thức không còn là nghi thức bề ngoài, mà linh nghiệm trong lòng bạn.

69. Khi kêu gọi thân hữu, các Mục sư, Truyền đạo thường nói: 'Nếu tin thì được cứu.' Khi học Kinh thánh thì một người lại dạy: 'Muốn được cứu thì phải được tái sanh bởi Đức Thánh Linh.' Vậy nếu ai vừa mới tin Chúa mà ngay lúc đó Chúa tái lâm, thì có được cứu không?

+ Cả hai người đều nói đúng cả. Khi nói 'TIN thì được cứu' là nói nguyên nhân; còn nói 'Phải tái sanh' là nói kết quả của đức tin để được cứu.

Một người tin nhận Đức Chúa Giêxu làm Cứu Chúa, tức thì được tái sanh bởi Đức Thánh Linh, nghĩa là người đó được cứu.

+ Hiểu như thế, câu hỏi của bạn khi Chúa tái lâm, ai tin thì được cứu, dầu mới hay cũ.

Điều quan trọng là thật lòng tin Chúa. Nếu một người làm đủ mọi nghi thức Giáo hội, mà không thật lòng tin thì không được cứu. Nếu bảo được tái sanh mà không tin Chúa Giêxu, thì đó là chuyện không bao giờ có.

70. Nếu tin Chúa là được tha tội và trở thành con Đức Chúa Trời dễ như vậy. Thế thì tại sao trên 2002 năm nay Tin lành không rao giảng được toàn thế giới. Hầu hết Châu Aâu, Mỹ đều được cứu, còn Châu Á, Phi . . . chịu thiệt thòi do biết Chúa trễ. Vậy Chúa có bất công không?

+ Cảm ơn Chúa là bạn đã biết rõ điều kỳ diệu mà một người tin Chúa có được: Ấy là tội được tha, chẳng những vậy thôi, họ còn được trở nên con cái của Đức Chúa Trời. Để được điều đó, một người chỉ cần tin nhận Đức Chúa Giêxu (Công vụ 16:31; Giăng 1:12).

+ Đúng như bạn nói, đó là một việc quá dễ, không còn có thể dễ hơn, và cũng thật kỳ diệu đến nỗi không có điều kỳ diệu nào hơn. Do đó ma quỉ và thế gian cũng như bản ngã của con người tội lỗi, là 3 thế lực sẽ tìm cách ngăn cản.

  • Ma quỉ ngăn cản vì nó biết một người tin Chúa Giêxu sẽ không còn ở dưới quyền lực của nó.
  • Thế gian ngăn cản vì một người tin Chúa Giêxu sẽ yêu thương kẻ thù nghịch, không còn đáp ứng tham vọng của một người, một nước nào.
  • Bản ngã của con người tội lỗi ngăn cản vì một người tin Chúa Giêxu sẽ không còn để nó cai trị, mà chính Chúa sẽ cai trị.

+ Không phải trải qua trên 2002 năm, mà từ buổi sáng thế, Tin Lành đã bị ngăn trở rồi, dầu có nhiều thù nghịch như vậy, Tin Lành vẫn được rao giảng (II Timôthê 4:2).

+ Nếu bạn đọc lịch sử truyền Tin lành, bạn sẽ thấy Chúa yêu người Châu Á có thể nói là yêu hơn người ở Châu Aâu. Vì Tin lành đã khởi sự từ Giêrusalem là thủ đô của nước Do thái, thuộc về Châu Á, rồi tràn ra các vùng từ Trung Quốc, Ấn độ đến Phi Châu trước.

Rất tiếc, người Châu Á đã giống người Isơraên, không nhận biết tình yêu của Chúa (Giăng 1:11), nên Tin lành tràn qua Aâu Châu, Mỹ Châu.

Dầu vậy, Đức Chúa Trời đã không bỏ người Châu Á cứng lòng, mà những thế kỷ 18-21 nầy, Tin lành đã lại được giảng ra ở Châu Á mạnh mẻ.

Kinh thánh quả quyết: Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, chớ không phải yêu thương riêng một hạng người (Giăng 3:16). Những người giảng Tin lành cũng đã giảng cho mọi người, không phân biệt (Rôma 1:14-15).

Duy có điều trước mắt, là chính bạn người Châu nào, bạn đã biết rõ điều kỳ diệu cho một người tin Chúa. Đức Chúa Trời thật công bình yêu thương bạn, tại sao bạn lại bất công và không bày tỏ sự yêu thương Ngài.

71. Nếu một người chưa nghe về Chúa, thì Ngài sẽ phán xét theo lương tâm người đó. Vậy thà đừng nói cho tôi nghe về Chúa, để tôi (và nhiều người chưa nghe hoặc chưa thể tin) khỏi sa vào địa ngục.

+ Bạn phải hiểu là không phải vì bạn nghe Tin lành của Đức Chúa Giêxu mà bạn sa vào địa ngục. Đó là cơ hội để bạn khỏi sa vào địa ngục, nếu bạn bằng lòng tin nhận Đức Chúa Giêxu.

+ Còn Đức Chúa Trời phán xét theo lương tâm của bạn, là Ngài phán xét bạn có thờ phượng Ngài, kính sợ Ngài lánh khỏi điều ác không (Rôma 1:19-20)?

+ Nhưng Kinh thánh đã phán: Rôma 3:10, 23, nghĩa là không ai vâng lời lương tâm trọn vẹn cả, nên mọi người đều phạm tội. Hêbơrơ 1:1-2 cho biết Đức Chúa Trời biết bạn và tôi không làm theo lương tâm  được, vì bản chất tội lỗi ở trong chúng ta, nên Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một cách đơn giản nhất để khỏi sa vào địa ngục là: Tin nhận Đức Chúa Giêxu (Công vụ 16:31).

+ Cái dễ nhất mà bạn không chịu làm, thì làm sao bạn làm cái khó nhất được. Chính bạn cũng biết bạn đã không làm được cái khó đó. Dầu sao, Đức Chúa Trời vẫn yêu thương bạn, đã cho bạn nghe được về Chúa, bạn còn chờ đợi gì nữa?

72. 'Hữu xạ tự nhiên hương.' Nếu đạo Tin lành là tốt, là hay, thì tự nhiên người ta tìm đến, cần gì phải quảng cáo hay đi rao giảng?

+ Bạn đã dùng chữ Nho rất hay. Cái xạ là vật tự nhiên thơm, không cần quảng cáo cái xạ thơm. Tuy nhiên, để cho người nào biết thơm, thì phải đem cái xạ đó đến cho người đó ngửi.

+ Kinh thánh phán: Rôma 10:14-15, nếu không giảng thì làm thế nào nghe (hiểu) để tin. Một câu chuyện hay, một bài toán hay, một tin tức cần thiết, nếu không giảng ra, nói ra, thì làm sao mọi người biết. Vì vậy, người Tin lành không quảng cáo Tin lành, vì ngay hai chữ 'TIN LÀNH' cũng đầy đủ mùi thơm, nhưng chúng tôi rao giảng để bạn hiểu là bạn đang cần một tin tức tốt lành như vậy.

+ Duy có điều, bây giờ Tin lành là mùi thơm đến với bạn, bạn có thấy thơm không? Có gì trở ngại khiến bạn chưa nhận mùi thơm Tin lành.

73. Tôi thấy đạo Chúa hay thật, song công việc của tôi không thể nghỉ ngày Chúa nhật. Hơn nữa, tôi là con trưởng nam phải lo việc thờ tự, làm sao tôi theo Chúa được?

+ Bạn thật là người đáng quý, vừa có tâm đạo vừa có hiếu đạo. Nhưng bạn đã hiểu lầm đạo của Chúa. Đạo của Chúa không dạy phải nghỉ ngày Chúa nhật, hay phải bỏ sự tôn kính cha mẹ, ông bà, mới theo Chúa được.

+ Đạo của Chúa dạy là bạn có nhìn nhận bạn là một tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời, bạn có nhận Chúa yêu bạn đến nỗi chết thay cho bạn, bạn có bằng lòng nhận công lao của Chúa chết cho chính bạn không?

+ Bạn phải tin nhận Đức Chúa Giêxu làm Cứu Chúa của bạn, để bạn được trở nên con của Chúa (Giăng 1:12), rồi bạn mới theo Chúa được.

+ Khi nào bạn tin Chúa rồi, bạn thấy cuộc sống vui thỏa và giá trị con người của bạn là quý, thì tự nhiên bạn sẽ quý trọng thân thể mình để muốn có một ngày nghỉ hầu bồi dưỡng cả tâm linh.

Về việc thờ tự, Chúa không dạy bạn bỏ ông bà, cha mẹ; mà trái lại càng tôn kính, yêu thương ông bà, cha mẹ hơn. Tuy nhiên thay vì lo bề ngoài hương đèn như người ta bày, thì bạn không cần làm giả dối như vậy, mà bày tỏ thật lòng, lo phụng dưỡng (còn sống), tiếp tục làm vinh hiển cha mẹ (dầu đã qua đời). Đạo Chúa đặt chữ hiếu còn nặng hơn, không phải chỉ con trưởng nam mới hiếu, mà là CON thì phải hiếu.

+ Dĩ nhiên, theo Chúa là khó vì đó là đường hẹp (Mathiơ 7:3-4), là con đường vác thập tự (Mác 8:34), nhưng Chúa hứa sau khi bạn tin nhận Đức Chúa Giêxu, thì Ngài ban cho bạn năng lực làm được mọi sự (Philíp 2:13; 4:13).

Bạn đã nhận đạo Chúa là hay, là thật. Tôi mong bạn tiếp nhận để không chỉ khen bằng lời nói, mà chứng tỏ bằng hành động.

74. Tôi thấy lo kiếm ăn ngày ba bữa chưa xong, còn lo gì cứu rỗi linh hồn đời sau. Tôi chỉ cần biết hiện tại, chết rồi sẽ ra sao tôi không biết nữa nên không cần để ý. Tôi cũng chẳng sợ chết nữa.

+ Đọc qua câu hỏi của bạn, tôi cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của bạn. Khó khăn đến nỗi bạn không còn có thì giờ quan tâm đến những nhu cầu khác. Tôi nghĩ bạn không sợ chết, cần chết, cũng vì khó khăn sống.

+ Theo y học, cuộc sống của bạn căng thẳng, đơn điệu như vậy sẽ làm bạn suy nhược thần kinh, từ đó sẽ gây ra nhiều bệnh khác. Về tâm lý, bạn không tìm thấy ý nghĩa cuộc sống, mặc cảm, thành kiến, rồi sẽ sanh ra bực tức, chán chường, cay đắng . . .

+ Tôi tin rằng bạn cần phải giải quyết kịp lúc để tránh hậu quả bịnh tật trầm trọng, lúc đó không phải ba bữa, mà một bữa bạn cũng không đủ sức để kiếm sống.

+ Giải pháp cho bạn được Chúa dạy trong Kinh thánh (Thi 3: ; Mathiơ 11:28). Bạn thấy rõ Chúa cứu bạn không phải chỉ cứu linh hồn, mà cứu cả thể xác của bạn. Cuộc sống tạm 100 năm mà bạn còn lo thế, sao không lo đến đời đời.

+ Bạn nói bạn không sợ chết, nhưng bạn lại không dám chết, mà cứ tiếp tục sống chịu đựng ngày ba bữa, chứng tỏ rằng bạn biết chết không phải là giải pháp. Giải pháp cho bạn là Đức Chúa Giêxu như Kinh thánh ghi (Giăng 10:10b). Bạn hãy bình tỉnh một chút, dừng lại nếm thử cuộc sống mà Chúa hứa ở trong Mathiơ 6:33.

75. Người ta có câu: 'Có thực mới vực được đạo.' Thưa Mục sư, khi Ngài cảm thấy đói, thì điều đầu tiên Ngài nghĩ là kiếm cái gì ăn hay là cầu Chúa?

+ Bạn đã nghe câu người ta nói, bây giờ mời bạn nghe câu Chúa nói:

  • Đức Chúa Giêxu đáp: Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời (Mathiơ 4:4).
  • Hãy làm việc, chớ vì đồ ăn hay hư nát, nhưng vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời (Giăng 6:26-27).
  • Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa (Mathiơ 6:33).

Qua lời Chúa dạy, rõ ràng Chúa không cho bạn một mớ lý thuyết tôn giáo, mà là một sự chu cấp 2 phương diện: Có ĐẠO (Có Chúa) và có THỰC.

Một người có THỰC mà không có CHÚA, thì Kinh thánh phán: đó là kẻ dại (Luca 12:20-21), không ích gì (Mathiơ 16:26). Ngược lại, nếu người nào nói có ĐẠO không cần có THỰC, thì đó không phải đạo Chúa.

+ Khi tôi đói, điều tôi làm trước tiên là nhờ cậy Chúa để tìm cái ăn; khi tìm được rồi, tôi cảm tạ Chúa đã ban cho.

+ Bạn có thể so sánh giữa hai câu người ta nói với Chúa nói, câu nào cho quý hơn? Hãy so sánh giữa 2 cách sống:

  • Có THỰC mà không có CHÚA.
  • Có CHÚA và có THỰC.

Bạn thấy cuộc sống nào bảo đảm? Có lẽ bạn nghe ai đó dạy một đạo không có 'thực', một đạo trừu tượng, nên bạn hiểu lầm đạo Chúa.

76. Việc cứu giúp người (làm việc thiện) có nên xem như một phương cách để truyền đạo không?

+ Việc cứu trợ có 2 mặt tốt và xấu:

(1)    Phương diện tốt:

Nó thể hiện tình thương yêu thực tế như chính Đức Chúa Giêxu đã thường làm (Mathiơ 9:35; 14:15-21).

(2)    Phương diện xấu:

Nó cũng có thể đưa đến sự hiểu lầm tin Chúa chỉ để được cứu trợ (Giăng 6:26-27), nghĩa là chỉ để được đời nầy mà không thật lòng tìm kiếm Chúa.

+ Vì vậy, người truyền đạo phải cẩn thận, e rằng sẽ chỉ là giáo thuyết suông (Giacơ 2:15-16; I Giăng 3:17-18); hoặc sẽ làm trần tục hóa chân lý của Đức Chúa Trời (I Côrinhtô 15:19). Nếu đang khi truyền đạo, có cơ hội làm việc lành, thì hãy làm hết lòng và vì tình yêu thương (II Côrinhtô 5:14a). Nhưng đừng lấy việc lành làm miếng mồi để khiến người ta theo đạo.

77. Công giáo hay các giáo phái khác có được cứu không?

+ Bạn hãy đọc lại Giăng 3:16b, 36; 5:24, để thấy rõ người được cứu không phải là người thuộc một tổ chức tôn giáo mà là người tin nhận Đức Chúa Giêxu.

+ Người Tin lành không bao giờ khuyên bạn theo Tin lành để được cứu, mà chỉ căn cứ vào Kinh thánh khuyên bạn tin nhận Đức Chúa Giêxu để được cứu.

+ Sau khi bạn tin Chúa rồi, biết rằng bạn đã được cứu. Chúng tôi đề nghị bạn tìm một nơi giảng dạy Lời Chúa để học hỏi làm theo. Nơi đó chỉ có nơi Hội thánh Tin lành.

78. Đức Chúa Giêxu dạy yêu thương nhau. Nhưng tại sao tôi thấy những người Công giáo và Tin Lành cùng thờ Chúa lại công kích, phân rẽ nhau như vậy?

Tại sao các ông không làm chứng cho những người Công giáo trước (vì họ cùng thờ Chúa) hoặc thống nhất các giáo phái thờ Chúa như Cơ đốc Phục lâm, Ngũ tuần, Chứng nhân Giêhôva, Báptít . . . mà sao cứ tìm chúng tôi rao giảng?

+ Tôi không biết các tôn giáo khác, các hệ phái khác nhìn vào Tin lành như thế nào, nhưng tôi biết người Tin lành vâng theo Lời Chúa dạy không thù ghét mà yêu thương mọi người, dầu là thù nghịch, từng bắt bớ Tin lành (Mathiơ 5:44), huống chi những người cùng có lòng kính sợ Chúa trong các tôn giáo và hệ phái khác.

+ Điều bạn nói có sự công kích, phân rẽ . . . đó chỉ là những tranh luận để tìm chân lý, không phải là thù nghịch nhau. Một luật sư tranh luận với công tố viên không có nghĩa là họ thù nghịch nhau.

+ Người Tin lành đối với những tôn giáo hoặc hệ phái khác đức tin, thì chỉ như người hàng xóm, láng giềng (như Công giáo, Cơ đốc Phục lâm, Chứng nhân Giêhôva); còn đối với các hệ phái cùng tín lý (dầu khác tổ chức như Bapùtít, Menonite . . .) thì như anh em.

+ Người Tin lành vâng theo lời Chúa dạy làm chứng về Chúa cho mọi người, không phân biệt (Rôma 1:14; Mác 16:15). Tuy nhiên, người Tin lành ít chú tâm đối với các tôn giáo hay hệ phái trong hệ Cơ đốc giáo, là vì họ là những người hầu hết đã biết Chúa, tại họ không làm theo lời Chúa (dầu họ có Kinh thánh là Lời Chúa). Nói như vậy không phải là người Tin lành không quan tâm, nhưng vẫn sẵn lòng rao Tin lành cho họ.

+ Riêng bạn là người biết Chúa (qua câu bạn hỏi), bạn nên tin nhận Đức Chúa Giêxu và làm theo lời Chúa dạy để hưởng phước hạnh, hơn là quan tâm cho người khác.

79. Trong lịch sử, Giáo hội Công giáo đã từng đàn áp dã man những nhà thiên văn, khoa học khi những người nầy nói rằng qua nghiên cứu họ thấy rằng 'Trái đất hình tròn.'

Qua sự việc trên, thân hữu của tôi có ấn tượng xấu về tôn giáo nói chung và Tin lành nói riêng, quan niệm cuộc sống hôm nay điều nầy đúng nhưng mai đã sai hết. Vậy giải thích và làm chứng ra sao?

+ Chúng ta là Cơ đốc nhân ngày nay nhìn nhận Giáo hội chung đã có 1 thời kỳ tối tăm hơn 1.000 năm. Lý do đã nhốt Kinh thánh vào tu viện, chỉ còn giảng theo lối kinh viện, chỉ biết lập lại những điều chỉ định nói (Châm 5:23).

+ Bạn phải nhớ một điều là những nhà chức sắc Giáo hội thời đó không hề trưng dẫn một câu Kinh thánh nào nói trái đất VUÔNG (điều chính họ biết là Kinh thánh không có nói, nếu họ có nghiên cứu Kinh thánh; hoặc chính họ không biết là Kinh thánh không có nói, vì họ không hề nghiên cứu Kinh thánh) hoặc là lên án những điều Giáo hội hay cá nhân một chức sắc bảo lên án, chớ không phải Kinh thánh lên án (bạn thấy họ lên án cả những người dịch Kinh thánh, những người kêu gọi sống bởi đức tin, nghĩa là những người làm theo Kinh thánh).

+ Tuy nhiên, cảm ơn Chúa, từ ngày Kinh thánh được truyền đến mọi người, những người làm theo Kinh thánh, thì họ đã không sống theo điều Giáo hội dạy mà sống theo điều Kinh thánh dạy là Chân lý. Họ biết rõ điều Giáo hội dạy sẽ có nhiều sai lầm; còn Kinh thánh là Chân lý thì không bao giờ sai lầm (Mathiơ 5:18).

Người ta công kích Giáo hội, nhưng không thể công kích Kinh thánh.

+ Bạn hãy giải thích như vậy và kết luận:

  • Tôi không khuyên bạn gia nhập một Giáo hội, nhưng khuyên bạn tin nhận Đức Chúa Giêxu và làm theo Kinh thánh là điều không bao giờ thay đổi (Hêbơrơ 13:8).
  • Sau khi bạn tin Chúa, bạn nên đến một nơi nào có rao giảng Lời Chúa để nghe, học Kinh thánh.
  • Hiện nay, bạn biết rằng đa số các khoa học gia là người tin Chúa và quý trọng Kinh thánh.

80. Người Công giáo Lamã nói: 'Tin lành không thờ hình tượng, nhưng lại coi Kinh thánh như là thần tượng.' Phải trả lời thế nào?

+ Câu hỏi nầy có lẽ đã đến vì một vài thái độ đối với Kinh thánh của một số người quá sai lầm đã hôn Kinh thánh, dùng quyển Kinh thánh như một thứ bùa trừ quỉ. Phải biết rằng ma quỉ không sợ quyển Kinh thánh, nó chỉ sợ Lời Kinh thánh được sử dụng bằng đức tin (Mathiơ 4: 6 ma quỉ cũng thuộc Kinh thánh).

+ Người Tin lành chúng ta yêu mến Kinh thánh, quý trọng Kinh thánh nhưng đừng làm người ta hiểu lầm tôn thờ Kinh thánh.

+ Hãy giải thích: 'Bạn đã nói đúng, người Tin lành vâng theo Lời Chúa dạy trong Kinh thánh (Xuất 20:4-6), nên không thờ hình tượng, kể cả quyển Kinh thánh.

Nhưng vì Kinh thánh là Lời của Đức Chúa Trởi, nên chúng tôi là con của Chúa lúc nào cũng học, cũng nghiên cứu để làm theo, hầu được đẹp lòng Chúa (Mathiơ 7:21, 24-27). Chúng tôi là con của Chúa, nên chỉ làm theo những gì Chúa dạy. Nhưng bạn nhớ cho, quý trọng, yêu mến không có nghĩa là thờ lạy quyển Kinh thánh.

81. Tôi tin và quí những giáo lý trong Kinh thánh, vì tất cả đều là việc thiện. Nhưng nếu tin tất cả những lời ấy, thì đủ để tin Chúa chưa? Nếu chỉ tin và làm những điều dạy ấy mà thôi, có được không?

+ Cám ơn Chúa là bạn đã bước được một đoạn dài là nhìn nhận Kinh thánh, chịu đọc và học Kinh thánh. Hơn nữa bạn còn đặt vấn đề là LÀM THEO.

+ Tuy nhiên, tôi nghĩ bạn chỉ làm theo những việc thiện, vì bạn đã cho rằng Kinh thánh đều là việc thiện. Chính điều nầy Chúa đã quở trách người Pharisi (Giăng 5:39a). Họ chỉ làm theo phần a mà không làm theo phần b.

Nếu bạn yêu quí Kinh thánh và muốn làm theo, thì điều bạn cần làm theo là tin nhận Đức Chúa Giêxu làm Cứu Chúa của bạn. Đó chính là điều Kinh thánh dạy và bạn cần làm để tin Chúa.

82. Tin Chúa thì tội lỗi được tha thứ, cuộc sống thanh nhàn. Vậy khi tin Chúa sẽ không bao giờ sợ một sự trừng phạt nào. Như thế sẽ có những người lợi dụng điều nầy để làm điều ác thì sao?

+ Câu hỏi của bạn có 2 phần, và phần thứ nhất rất đúng vì đó là điều Kinh thánh đã dạy trong Giăng 3:36; 5:24 và Rôma 8:1. Một người tin Chúa không còn sợ sự đoán phạt tội lỗi nữa.

+ Tuy nhiên, phần hai thì cần nói rõ: Một người tin Chúa thì không còn dám phạm tội (Sáng 39:9b).

+ Giăng 8:11 khi Đức Chúa Giêxu tuyên bố tha thứ cho người đàn bà phạm tội tà dâm, thì Ngài cũng phán: Đi đi đừng phạm tội nữa. Dĩ nhiên, người tin Chúa sẽ dễ bị cám dỗ và có thể phạm tội. Vấn đề là phải ăn năn và quyết định không tái phạm. Nếu cứ bảo ăn năn rồi phạm tội nữa, thì Kinh thánh dạy "Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu!" (Galati 6:7).

83. Nếu bây giờ toàn nhân loại đồng tin Chúa, ông có bảo đảm sẽ không còn chiến tranh, đau khổ (Ví dụ như bệnh Siđa sẽ chấm dứt không?)?

+ Tôi không có tư cách gì bảo đảm, nhưng Lời Đức Chúa Trời trong Kinh thánh bảo đảm. Điều đó được ghi trong Êsai 2:2-4; 11: - 12:.

Tuy nhiên, bạn phải nhớ đây không phải là giả định (NẾU) mà là một Lẽ thật, nghĩa là chắc chắn như vậy trong ngày Đức Chúa Giêxu Christ tái lâm lập nước 1.000 năm bình an và ngày lập Trời Mới Đất Mới (Khải 20:1- 3; 21: - 22:).

84. Thiên đàng là nơi chốn hay chỉ là một ý niệm? Nếu là nơi chốn thì thiên đàng ở chỗ nào? Có thật vàng ròng, bích ngọc . . . là vật liệu xây dựng của thiên đàng hay chỉ là một cách ví sánh?

+ Qua những bằng cớ ngoại chứng (ý thức của con người, tôn giáo) và nội chứng (Kinh thánh, Đức Chúa Giêxu, các thánh đồ đã thấy như Ê-tiên (Công 7:55), Phaolô (II Côrinhtô 12:2-4), đặc biệt là sứ đồ Giăng (sách Khải huyền) chứng minh thiên đàng là một nơi chốn thực sự, không phải là một ý niệm, một sản phẩm tư tưởng.

+ Kinh thánh đã chỉ địa điểm của Thiên đàng như sau:

  • Từ ngữ được dùng là trên thiên đàng, trên trời (Luca 15:7; Khải 4:1).
  • Nơi có Chúa ngự (Thi 2:4; Khải 4:2).

+ Như vậy thiên đàng là nơi cao quý chỗ Chúa ngự.

+ Sách Khải huyền là sách do sứ đồ Giăng thuật tả lại cảnh trạng thiên đàng. Khi thuật tả lại, ông phải dùng ngôn ngữ con người. Vì vậy, ông dùng những vật quý nhất trên đất là: vàng ròng, bửu ngọc, nhưng ông chỉ dùng chữ NHƯ, GIỐNG NHƯ (Khải 4:2, 6; 21:11, 18, 21).

 

III. KINH THÁNH

85. Kinh thánh là Thiên sử, Thánh sử, hoặc tư tưởng Triết học?

+ Kinh thánh không phải chỉ là Thiên sử, vì Kinh thánh được viết ra nói về những sự liên hệ trên trời có mục đích để giải quyết nhu cầu của chính con người (Giăng 20:31).

+ Kinh thánh không phải chỉ là Thánh sử, nghĩa là không phải quyển sách ghi lịch sử người thánh, chuyện thánh, nhưng Kinh thánh cũng ghi những tội nhân, chuyện loài người phạm tội, chuyện hình phạt tội nhân.

+ Kinh thánh không phải là sản phẩm Triết học, dầu Kinh thánh có gợi ý cho nhiều người về những triết lý.

+ II Timôthê 3:15-16 khẳng định Kinh thánh là Lời của Đức Chúa Trời.

  • Giăng 5:39 Kinh thánh làm chứng về Đức Chúa Giêxu.
  • Giăng 20:31 Kinh thánh là sách dẫn con người vào sự cứu rỗi qua Đức Chúa Giêxu.

86. Ý nghĩa Một thì, các thì và nửa thì?

+ Trong Đaniên 7:25; Khải 12:4

Là cách dùng từ để chỉ một nửa khoảng thời gian độ 3,5  năm, vì trong tiếng Aram không có từ Đôi (Duel).

+ Đaniên 7:25 chỉ thời gian "Cái sừng nhỏ khác" của con thú thứ tư tồn tại.

  • Đaniên 12: 7 chỉ thời gian từ Đaniên đến kỳ sau rốt.
  • Khải 11:2 chỉ thời gian thành thánh bị dân ngoại xâm chiếm.
  • Khải 11:3 chỉ thời gian 2 chứng nhân nói tiên tri (Dân Dothái đi giảng).

+ Có 3 ý kiến:

* 1 kỳ là 1 năm (3, 5 năm)

* 1 ngày = 1 năm (Dân 14:34; Êxê 4:6).

Như vậy 3, 5 = 1.260 ngày thì là 1. 260 năm.

* Chỉ tượng trưng, 7 = trọn vẹn; 3, 5 = bất toàn.

87. Trong Lêvi 11: thì Chúa cấm ăn nhiều thú vật, coi là gớm ghiếc. Nhưng trong I Timôthê 4:4-5, Phaolô  lại nói khác.

+ Trong Lêvi 11: Chúa cấm ăn vì ích lợi cho con người; còn trong I Timộhê 4:4-5, những giáo sư giả cấm ăn vì lý do Cứu rỗi, họ dạy phải kiêng ăn mới được cứu.

88. II Samuên 14:27 khác II Samuên 18:18?

+ Có 2 cách giải thích:

(1) Tham khảo 13:1, thì 14:27 nói đến Tama là em gái, thay vì dịch là con gái. Như vậy, BA CON TRAI phải dịch là EM TRAI, và 18:18, Ápsalôm không có con trai.

(2) Theo cách nói như trong Rutơ 1:5 (không chồng, không con), thì các con Ápsalôm đều chết sớm.

89. II Samuên 24:1 chép: "Ngài giục lòng Đavít . . ." Tại sao Đavít vâng lời Chúa đi tu bộ mà lại bị Chúa phạt?

+ Phải tham khảo với I Sử 21:1: "Satan . . ." chứng tỏ động cơ tu bộ nầy là do Satan cám dỗ Đavít. Từ chỗ Đavít kiêu ngạo muốn tự hào về những thành quả của mình (Đaniên 4:2-30; Luca 12:16-20), Đavít đã để cho Satan cám dỗ và quyết lòng tu bộ với sự kiêu ngạo đó, dầu đã được khuyên can (I Sử 21:3-4).

+ Sự đòi hỏi đó khiến Đức Chúa Trời CHO PHÉP để sửa dạy Đavít.

Trường hợp nầy giống như:

  • Dân 22:15-21 Balaam muốn đi và Chúa đã để cho Balaam đi.
  • Thi 106:13-15 Dân Isơraên đã vì lòng tham dục đòi hỏi, Chúa đã cho để làm tổn hại họ.

90. Tại sao Chúa không hình phạt Đavít (chủ động) mà phạt dân sự (bị động)?

+ Về nguyên tắc lãnh đạo, khi một người lãnh đạo sai lầm thì cả dân sự bị thiệt hại. Một tài xế bất cẩn thì tất cả hành khách bị hại. Đó là 1 cách phạt người lãnh đạo.

+ Về phương diện tình cảm, trong một nước, một gia đình có những đứa con chết, thì sự đau đớn về cha mẹ (Sáng 37:33-35).

+ Về phương diện tâm lý, một nỗi buồn còn sống thì đau khổ hơn nỗi buồn đã chết. Hình phạt nầy khiến Đavít càng đau hơn.

91. I Vua 13:11-31. Tại sao tiên tri già nói dối mà không bị phạt, còn tiên tri trẻ bị phạt?

+ Tôi muốn nhắc lại câu trả lời về hình phạt Đavít; Đức Chúa Trời đã để cho tiên tri già sống để chiêm nghiệm cái đau khổ của một tiên tri mà nói dối. Một hình phạt đau khổ và dài nhất, so với hình phạt ngắn bằng cái chết của tiên tri trẻ (Khải 9:6).

92. II Vua 2:22-24. Có phải tiên tri Êlisê không có tình yêu thương?

+ Có thể hiểu 2 phương diện :

(1) Ê lisê có tình yêu thương:

Nhưng tình yêu thương chẳng làm điều trái phép, tình yêu thương phải có tiết độ.

Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời yêu thương (Giăng 3:16; I Giăng 4:8, 16), nhưng Xuất 20:5 cho thấy Chúa cũng sẵn sàng phạt đến 3, 4 đời.

Cho nên một sự phạm thánh không thể tha thứ được.

(2) Êlisê không có tình yêu thương:

Êlisê dầu là một tiên tri có đầy ơn, nhưng ông cũng là người nên vẫn có lúc yếu đuối, nhất là khi mới bắt đầu chức vụ. Kinh thánh không hề thiên vị, ghi những điểm tốt mà cũng ghi những điều xấu của các thánh đồ. Tuy nhiên, chúng ta không còn tìm thấy yếu đuối nầy lần thứ hai.

93. II Vua 3:27. Tại sao vua Môáp dâng con mà Chúa lại giận dân Isơraên?

+ Câu Kinh thánh nầy không hề nói là Chúa nổi giận. Câu Kinh thánh nầy nhờ vào Thượng văn cho thấy vua Môáp trong thế cùng quyết tử chiến với dân Isơraên, nên đem con thiêu, có lẽ hành động nầy làm lòng dân Môáp phẩn nộ (kích động lòng dân), khiến họ liều tử chiến.

Một bên quyết liều chết, một bên đã thỏa mãn chiến thắng thì chắc chắn phe tử chiến sẽ thắng.

94. Gióp ở thời đại nào? Có phải thời Ápraham không?

+ Thật ra khó xác định Gióp sống thời đại nào, nhưng không thể sau Môise hay trước Ápraham.

+ Theo bản 70 thì cho Gióp chính là Giôbáp (Sáng 36:33) vua thứ hai của Êđôm.

+ Các tên và địa điểm nhắc đến dòng dõi Êsau (Gióp 2:).

+ Câu chuyện mang tính chất cổ như thời Ápraham.

+ Về sách Gióp thì có 3 ý kiến:

(1) Chính Gióp viết trong tuổi già vì phong tục giống người Arập nói.

(2) Có lẽ do Êlihu, một người đời sau viết, vì sự can thiệp của Eâlihu có tính chất đột xuất, không được giới thiệu trước (Gióp 2:11 so với 32:1-6).

Những điều Êlihu trình bày dường như bổ khuyết cho Lời Chúa dạy Gióp và các bạn.

(3)    Có thể do Môise viết trong những ngày ở đồng vắng Mađian. Vì cách dùng văn Hibálai rất hay và Danh Đức Giêhôva là Danh mới do Chúa xưng với Môise (Xuất 3:14; 6:3).

95. Chúa dạy phải cầu nguyện và nài xin bền bỉ. Nhưng  theo Thi 106:15, nếu cố xin, có khi chúng ta chỉ rước lấy tai họa. Vậy tôi phải làm sao trong khi chờ đợi Chúa giải quyết nan đề, có nên tiếp tục cầu nguyện không? Vì nan đề ấy Kinh thánh không cấm.

+ Bạn phải đọc lại Thi 106:14 trước khi đọc câu 15. Sự cầu nguyện cố xin của dân Isơraên trong trường hợp nầy là từ lòng THAM DỤC QUÁ ĐỔI, không phải vì yêu thương hay nhu cầu (Giacơ 4:3).

+ Bạn cũng phải cẩn thận, có những điều Kinh thánh không trực tiếp cấm nhưng không có  nghĩa là Kinh thánh cho phép. Kinh thánh không ghi: 'Cấm cờ bạc', nhưng Kinh thánh ghi 'Ngươi chớ THAM LAM . . .' (Xuất 20: 17). Kinh thánh cũng ghi: "Lòng tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác" (I Timôthê 6:10).

+ Nếu bạn xét thấy nhu cầu đang cầu nguyện là từ lòng yêu thương, từ bản tánh thánh khiết, từ thái độ kính sợ Chúa, thì cứ tiếp tục cầu nguyện và chờ đợi Chúa trả lời.

Duy có điều là người thuộc linh như bạn chắc sẽ biết nghe tiếng Chúa trả lời sự cầu nguyện theo 3 cách:

(1) Được tức thì.
(2) Không được.
(3) Được nhưng phải chờ đợi.

96. Châm 24:17. Tại sao chúc phước mà kể là rủa sả?

+ Sách Talmud (sách ghi lời truyền khẩu, giải thích Ngũ kinh của các Đạo sư Do thái, người Do thái rất tin cậy) cấm không được chào nhau (chúc phước) trước khi cầu nguyện buổi sáng.

97. Truyền đạo 10:2 nói trái tim người khôn ở bên hữu. Vậy trái tim của Chúa Giêxu khi Ngài còn trên đất bên tả hay bên hữu?

+ Câu nầy, chữ TRÁI TIM có nghĩa là TẤM LÒNG; bên hữu là bên lẽ phải. Như vậy câu nầy chó nghĩa là tấm lòng người khôn bao giờ cũng suy nghĩ điều phải, đi đường ngay thẳng.

Đức Chúa Giêxu Christ là Đức Chúa Trời tự nguyện làm người giống như chúng ta (Hêbơrơ 2:17).

98. Mathiơ 5:17. Chúa nói Ngài đến để làm trọn luật pháp. Nhưng những người Pharisi thì nói Chúa đến để phá luật pháp. Như vậy có mâu thuẫn không?

+ Không mâu thuẫn, mà người Pharisi nói sai. Lý do:

(1) Đức Chúa Giêxu là Đức Chúa Trời. Ngài là Chúa thì không nói dối, nói sai. Còn người Pharisi chỉ là con người, mà con người thì dễ sai lầm (Rôma 3:10; Giacơ 3:2).

(2) Mathiơ 22:29; Mác 12:24 Chứng tỏ người Pharisi không hiểu Kinh thánh. Lý do như Đức Chúa Giêxu giải thích trong Giăng 5: 9 và Phaolô chứng minh trong II Côrinhtô 3:14-16.

+ Đức Chúa Giêxu đến để làm trọn luật pháp và nâng cấp cho đời sống Cơ đốc nhân sống cao hơn luật pháp. Đức Chúa Giêxu đã chứng minh lời nầy qua cách so sánh nếp sống luật pháp với nếp sống Cơ đốc trong Mathiơ 5:21 - 7:23.

99. THUYẾT SÁNG CHẾ với chiếc tàu Nôê (Bàn về bài báo KHOA HỌC PHỔ THÔNG - 3/ 88 trang 29-38).

(1) Những điều chưa giải thích được:

Với một khoa học gia chân chính (đúng nghĩa khoa học), thì họ đều luôn đặt Một vấn đề vào điểm nghi vấn, tìm hiểu, chớ không bác bỏ hoặc chế nhạo. Thí dụ: chương trình UFO (Unidentified Flying Object - vật thể bay không xác định được). Trước đây người ta cũng nhân danh khoa học để bác bỏ, nhưng bây giờ đã để tâm nghiên cứu nghiêm chỉnh.

Cũng vì thái độ chế nhạo NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT, NHỮNG ĐIỀU CHƯA GIẢI THÍCH ĐƯỢC, mà làm cho bước tiến của nhân loại chậm lại - bài học ngay trong khoa học: khi Edison phát minh chiếc đĩa biết nói, người ta cũng cho là không thể, là mê tín, là ma quái. Bài học trong lịch sử Việt Nam khi người ta chế tạo những Tường trình khoa học của Nguyễn Trường Tộ.

Thời kỳ chế tạo đã qua rồi! Nhất là nhân loại cũng chưa có thuyết nào thay thế thuyết Sáng tạo.

(2) Vấn đề nước lụt:

Có vài chi tiết trong câu chuyện Nước lụt mà chúng ta chưa biết vì Kinh thánh không ghi:

Thí dụ:

  • Kinh thánh không ghi lại bao nhiêu loại vào tàu. Sáng 7:9, từ 'ĐẾN CÙNG' có thể hiểu là ở gần, ở cạnh, trong khả năng quản trị của Nôê.

Nhưng Kinh thánh ghi rõ:

  • Số lượng tối đa cho loài được vào tàu (7:2-5).

So với Lêvi 11: cho thấy số lượng choán chỗ không nhiều lắm.

Sáng 6:16, trước đây người ta chế tạo: một cửa sổ làm sao đủ? Nhưng bây giờ họ biết: cửa sổ là cửa thông gió (có thể chung quanh tàu).

6:14 Đức Chúa Trời dạy Nôê dùng một loại gỗ chịu nổi sức mạnh sóng nước hơn hết.

Những chi tiết đó hoàn toàn thích ứng. Điều mà con người ngày nay phải ngạc nhiên là kỹ thuật nầy có từ trước đây mấy ngàn năm.

Các ý kiến Khoa học ủng hộ truyện Nước lụt của Kinh thánh:

  • Những Truyền thuyết của các dân tộc hầu hết mô tả cảnh Nước lụt.
  • Hãy nghe (quyển sách ghi ý kiến của các Khoa học gia, quyển 'Sứ giả từ Vũ trụ' - tài liệu đính kèm) ý kiến nhà sinh học Liên xô Ghê véc ghi Lentơbe - Chắc chắn đó không phải là những người mê tín, dại khờ.

(3) Tuổi trái đất:

Bài báo ghi: Những người theo 'Thuyết sáng tạo' lập luận Trái đất hình thành khoảng 10.000 năm về trước. Bài báo chế nhạo vì cho rằng khoa học ước tính tuổi Vũ trụ khoảng 15 - 20 tỉ năm, tuổi loài người từ 1,750 đến 2 triệu năm . . .

Thật ra Kinh thánh không ghi tuổi Vũ trụ hay Trái đất là bao nhiêu năm, Sáng 1:1 ghi "Ban đầu= khởi sơ". Các Thần học gia thì căn cứ vào Sáng 1:1-2 hay 2:4-5, so với Êsai 14:12-15; Êxêchiên 28:1-19, giải thích đã có thời Tiền Ađam, rồi mới đến thời Ađam. Từ Ađam đến nay ít nhất có trên 5.000 năm.

Con số đó đúng hay sai? Quyển 'Sứ giả từ Vũ trụ' trả lời.

(Trích ghi trong quyển nầy). Vả lại, có ai sống trên 10.000 năm, 1 triệu năm để xác định đúng hay là sai. Đầu là phương pháp C14?

(4)    Tinh thần của Khoa học gia chân chính:

Chúng ta hãy nghe những danh nhân, vĩ nhân Khoa học nói :

  • Đừng thấy cái bóng to của mình trên vách mà tưởng mình vĩ đại (Pythagore).
  • Bác học chi (Học cho rộng), thẩm vấn chi (Tìm hỏi nhiều), Thân tư chi (Suy nghĩ cẩn thận), Minh biện chi (Biện bạch sáng suốt), Đốc hành chi (Nổ lực hành động).
  • Điều ta biết chỉ như một giọt nước, Điều ta chưa biết là cả một đại dương (Newton).
  • Nhảy từ mặt đất lên cung trăng, hay lên được hỏa tinh, kim tinh, hoặc tới các sao chổi, tới các giải ngân hà đi nữa, kể ra cũng rất tài tình và can đảm thật đấy. Nhưng so với vũ trụ thì có đáng kể là bao đâu (André Mauroix).
  • Nếu không có Thượng đế, thì cũng không có con người. (một triết gia Liên xô. Đài VOA 10/4/1991).
  • Đi ngược lại hay lấn quyền Tạo hóa, xem ra không phải bao giờ cũng tốt cả (Kiến Thức Ngày Nay 3/91).
  • Thêm cho ta ít năm để học Kinh Dịch, khả dĩ không bị sai lầm lớn (Khổng Tử).
  • Tri bất tri, thượng. Bất tri tri, bệnh (Biết cái không biết, hơn hết. Không biết cho là biết, hỏng (lỗi) (Lão Tử).
  • That Bible on the table is a book to you. It is far more than a book to me. It speaks to me; it is as it were a person (Napoléon Bonaparte).
  • Năm 1983, lúc đội Juventus đang tranh cúp C2, một thằng tướng đến gần tôi và bảo: 'Sau Thượng đế là Anh.' Thật tình tôi thấy xấu hổ vì câu nầy. Tôi không ngờ đã gây ảnh hưởng . . . thô bạo như vậy trong lòng người hâm mộ.' (Michel Platini trả lời phỏng vấn khi người ta tôn anh làm Thần tượng).

(5)    Vấn đề thú lớn ăn thú nhỏ: (trang 27, cột 1).

  • Bài báo mượn lý thuyết của Charles Darwin để bác thuyết Sáng tạo. Tôi cũng mượn lời Chales Darwin nói: 'Một điều đáng chú ý, ấy là vào một thời kỳ thật xa xưa, lần đầu tiên khi loài người đến một xứ nào, thì loài vật sống tại đó đã không cảm thấy một cái sợ do bản năng hay do di truyền đối với nó, và do đó chúng sẽ được chế phục dễ dàng hơn ngày nay' (giải nghĩa tiên tri Êsai).
  • Rồi đọc Êsai 11:6-9; Rôma 8:6.

(6)    Thuyết Sáng thế không phải của dân tộc Hoa kỳ.

Bài báo ghi: Tất cả các dân tộc đều có những huyền thoại về sự sáng thế. Huyền thoại của dân tộc Hoa kỳ là thuyết 'Khởi nguyên sáng thế' (The book of Genesis) trong kinh Cựu ước.

Đây là một sự áp đặt sai lầm, vì kinh Cựu ước không phải của Hoa kỳ, mà là của Isơraên, nói chính xác hơn: Kinh thánh là Lời của Đức Chúa Trời, nên thuyết Sáng thế không phải là của dân Hoa kỳ.

Để kết luận, chúng ta có những ghi nhận:

  1. Bài báo Khoa Học Phổ Thông ra tháng 3/ 1998, thì tháng 8/ 1998, quyển 'Sứ giả từ Vũ trụ' đã bác bỏ ngay.
  2. Mới đây (1991), trong một tạp chí đã ghi lại lời xin lỗi về việc dạy thuyết Tiến hóa của Darwin.

100. Tôn giáo là thuốc phiện.

Đây là câu nói của Karl Marx, người sáng lập chủ nghĩa Cộng sản. Một số người đã vội vàng lấy câu nầy để chủ trương cần tiêu diệt Tôn giáo.

Thật ra chúng ta phải hiểu Thuốc Phiện theo hai ý:

  1. Thuốc phiện là một loại dược chất, được sử dụng trong y khoa, nhất là cần cho an thần và giảm đau.
  2. Thuốc Phiện là độc chất nếu bị lạm dụng.

 

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM

Bài 1: 'THUYẾT SÁNG CHẾ và niềm tin thơ ngây của một số người Mỹ hiện đại.'

(Báo khoa học phổ thông 3/88 trang 25 - 28)

+ Theo thăm dò của viện Gallup, hiện nay vẫn còn gần một nửa dân Mỹ sẵn lòng tin rằng Vũ trụ chỉ mới hình thành cách đây . . . 10.000 năm, và rằng mọi loài đều do một Thượng đế sáng tạo đồng thời và chỉ sau đó ít lâu!

Thật không còn gì phản khoa học và kỳ dị hơn! Thế mà nó vẫn cứ tồn tại như thế đấy . . .

Cái huyền thoại về loài khỉ của Darwin chính là nguyên nhân của mọi sự buông thả về đạo đức, chung chạ bừa bãi, nạn phá thai, ô nhiễm, đầu độc cùng sự lan tràn của đủ thứ tội ác.

Đấy không phải là lời tố cáo lý thuyết tiến hóa của Darwin vào giai đoạn 1859, khi Darwin ấn hành cuốn 'Nguồn gốc của các chủng loại'; cũng không phải là lời phán quyết trong 'phiên tòa con khỉ' (The monkey trial) vào năm 1925 của những người nhân danh tôn giáo, khăng khăng phủ nhận những lý thuyết khoa học liên quan đến mối quan hệ giữa giống khỉ với loài người. Đấy là lời của Braswell Deen, chánh án tòa kháng án Georgia được lập đi lập đi lập lại trong bao nhiêu buổi thuyết giảng trước các sinh viên luật khoa, các câu lạc bộ cùng các nhóm tín đồ giáo hội từ mấy năm cuối thập niên 1970 sang đầu thập niên 1980 ở Hoa kỳ.

Tất cả các dân tộc đều có những huyền thoại về sự sáng thế. Huyền thoại của dân tộc Hoa kỳ là thuyết 'Khởi nguyên Sáng thế' (The Book of Genesis) trong kinh Cựu ước.

Ngày nay, ở Hoa kỳ vẫn còn có một số người coi 'Khởi nguyên sáng thế thuyết' là một chân lý tuyệt đối. Theo một cuộc thăm dò ý kiến của viện Gallup thì gần nửa tổng số người Mỹ trong đó có cả 1/4 sinh viên Cao đẳng - đều dễ dãi nhắm mắt tin tưởng rằng Vũ trụ hình thành mới từ 10.000 năm trước đây, và rằng tất cả mọi chủng loại - kể cả loài người - đều được sáng tạo đồng thời chỉ ít lâu sau đó. Những phát ngôn viên hăng hái cổ động cho quan điểm nầy nhất đã cả quyết rằng đó là một . . . lý thuyết khoa học.

Có điều lạ lùng là trong khi khoa học - kỹ thuật không ngừng phát triển ở Hoa kỳ từ hàng trăm năm nay thì suốt hai chục năm qua, hai phe Tiến hóa luận và Sáng thế thuyết vẫn tiếp tục tranh cãi dữ dội tại các tòa án và viện lập pháp. Những người bênh vực thuyết Sáng thế đòi hỏi là khoa học Sáng thế phải được đối xử ngang hàng với lý thuyết Tiến hóa trong các trường lớp cũng như các sách giáo khoa. Họ còn đòi hỏi là các sách giáo khoa không được đề cập đến thuyết Tiến hóa (do Charles Darwin đề xướng từ 1839) hoặc cùng lắm cũng chỉ được coi thuyết nầy là một lý thuyết, một giả thuyết - Mặc dù những qui định theo chiều hướng đó về sau bị gạt bỏ vì bị coi là bất hợp hiến; nhưng đến 1978, ở Texas vẫn có giáo viên bị đưa ra tòa về tội dám cả gan giảng về thuyết Tiến hóa trong giờ Sinh học, và đến 1982 ngành lập pháp ở tiểu bang Arkansas, rồi 1985 ở tiểu bang Louisiana, vẫn thông qua những đạo luật đòi hỏi các trường học phải giảng dạy về thuyết Sáng thế cùng lúc và ngang hàng với thuyết Tiến hóa!

'Khoa học Sáng thế' vốn có một quá trình lịch sử rất khả kính ở Hoa kỳ và Aâu Châu. Từ thuở sơ khai của Sinh học cận đại vào khoảng năm 1600 đến cuối thập niên 1850 (Charles Darwin đề xướng thuyết Tiến hóa vào năm 1859) hầu như tất cả các nhà khoa học phương Tây đều tin rằng Thượng đế đã tạo ra tất cả mọi chủng loại - phần vì ảnh hưởng của các điều thừa kế từ các thế hệ trước phần vì chưa có bằng chứng vững vàng nào cho một quan điểm khác cả.

Người đầu tiên nhân danh khoa học để đề cao thuyết Sáng thế một cách xuất sắc đặc biệt là một giáo sĩ dòng người Đức tên là Athanssius Kircher (1602 - 1680), vốn coi Thánh kinh là thực tế hiển nhiên, là chân lý tuyệt đối. Nghiên cứu chi li câu chuyện 'Cái bè của Nôê' đã cứu cho muôn loài khỏi bị tuyệt diệt trong cơn Đại hồng thủy, Kircher đã đi xa đến độ . . . ước tính chiều dài cái bè nầy khoảng 135m; chất chứa được 130 loài động vật có vú, 150 loài chim và 30 loài rắn (vì Kiến thức về Động vật học của Kircher mới đến chừng đó!). Chừng ấy loài động vật chen chúc trên cái bè có 3 tầng, tầng trên cùng được gọi Ornithotropheion (theo tiếng Hy lạp chỉ loài chim) dành cho các loài chim, bản thân Nôê và 3 con trai cùng gia đình; tầng giữa gọi là Bromatadocheion để chứa lương thực, tầng dưới cùng gọi là Zootropheion để chứa các loài động vật khác từ cỡ nhỏ như mèo chuột đến cỡ lớn như lạc đà, tê giác và voi . . .

Không kể đến các loài cá cùng các giống vật sống dưới nước (vì các giống nầy không sợ nước lụt) Kircher còn liệt kê đủ mọi thứ vật dụng cần thiết từ vải vóc, đèn cầy đến dây thừng . . . nghĩa là các thứ mà Nôê phải có để xây dựng lại nền văn minh sau khi đưa bè đến bờ đến bến an toàn. Và Kircher cả quyết kết luận rằng câu chuyện cái bè của Nôê trong sách khởi nguyên xét ra hoàn toàn hợp lý về mặt khoa học!

Đến 1669, nhà Vật lý học Đan mạch Nicholas Steno lại khám phá được bằng chứng cụ thể hổ trợ cho câu chuyện về trận Đại hồng thủy: những lớp đất lắng ở nước Ý giống hệt những lớp phù sa lắng đọng dưới đáy bể. Phát hiện đó khiến người ta nghĩ rằng chỗ đó là đất mà xưa kia vốn là đất ngập. Steno lại không hẹn mà nên, đã cùng nhà khoa học người Anh Robert Hooke đi đến kết luận rằng những hóa thạch tìm được chính là di tích của các động vật có lẽ đã mất mạng trong trận Đại hồng thủy được miêu tả chi li trong 'Sáng thế thuyết.'

Tuy nhiên 'Sáng thế thuyết' bắt đầu bị lung lay từ khi người Âu thám hiểm Úc Châu và Tân thế giới - nhờ đó đã phát hiện ra rất nhiều chủng loại xưa nay chưa ai biết tới. Đến thời Carl Linnacus (1707 - 1778) lập ra danh mục các sinh vật thì con số các chủng loại đã lên đến 15.000. - gồm cả số động vật 'lớn con'  nhiều gấp 40 lần số động vật mà Kircher đã liệt kê khoảng 100 năm trước; còn con số ước lượng ngày nay đã lên đến 30 triệu chủng loại. Vậy thì Nôê và 3 con trai lấy đâu ra chỗ mà chất chứa chừng ấy chủng loại trên chiếc bè lánh nạn?

Và nếu đúng theo sách Khởi nguyên sáng thế thì mỗi chủng loại chỉ được Thượng đế sáng tạo ra một cặp duy nhất (gồm 1 đực - 1 cái) thì nhiều loài nếu không hẳn là tất cả, đã không sao tránh khỏi tuyệt diệt: Vì cặp sư tử hẳn sớm xơi tái cặp hươu nai, rồi sau xé luôn cặp ngựa vằn rồi tất cả các cặp động vật khác yếu đuối nhỏ bé hơn để rồi cuối cùng, không còn gì ăn thì chết đói luôn . . .

Những người bênh vực thuyết Sáng thế đành phải gạt bỏ chủ trương cho rằng chỉ có một trung tâm sáng thế duy nhất. Nhà tự nhiên học Ebehard Zimmermann đến 1777 bèn dựng đứng ra rằng mỗi loài động vật đã được Thượng đế tạo ra ở đúng vùng đất mà chúng đang sống - với đầy đủ lương thực dự trữ để khỏi chết đói và khỏi phải xơi thịt lẫn nhau.

Thực tế cho thấy là có nhiều chủng loại vốn sinh hoạt ở nhiều vùng đất khác nhau, ngăn cách bằng những hàng rào tự nhiên như núi cao, biển sâu với đại lục khác nhau như Aâu Châu với Bắc Mỹ. Chẳng lẽ là Thượng đế lại phải đôn đáo chạy hết vùng nầy sang vùng khác để sáng tạo vô số chủng loại dị biệt.

Năm 1846, nhà thần hocï xuất sắc người Anh là Edward Forbes cố cứu vãn 'Khoa học Sáng thế' bằng cách đưa ra luận thuyết là các đại lục xưa kia nối liền với nhau bằng những giải đất bắt cầu. Kể ra cũng có cơ sở thực tế đấy.

Thế nhưng khoa học Sáng thế vẫn chưa thoát khỏi khó khăn vì các nhà địa chất học đều nhìn nhận một nguyên lý cơ bản: có nhiều lớp đất phù sa và trầm tích khác nhau (như khủng long ở lớp Triassic, khổng tượng ở lớp Pleistocene . . .).  Kết luận hợp lý duy nhất là phải có nhiều đợt sáng thế và rồi các sản phẩm của đợt trước bị hồng thủy cuốn trôi trước khi các sản phẩm của đợt sau chịu chung một số phận. Vậy lập luận mà nhà Động vật học Louis Agassiz, giáo sư đại học Harward Ara ra năm 1857, cũng không thuyết phục được ngay cả những người cùng phe bênh vực thuyết Sáng thế. Vì nhà Địa chất học và Cổ sinh học nào cũng biết là các bộ xương hóa thạch không phải cứ rơi rớt bừa bãi trong các lớp đất tại một địa điểm nhất định. Lớp đất ở dưới sâu nhất được cho là cổ nhất thường chứa đựng di tích hóa thạch của những chủng loại dị kỳ nhất trong khi các lớp đất ở trên cùng thường chứa đựng di tích của các chủng loại tương tự, các chủng loại hiện đại như gấu sống trong hang và khổng tượng giống như voi mà có lông dài. Hiển nhiên là có bằng chứng về một sự tiến hóa đi dần từ các sinh vật đơn sơ đến các sinh vật phức tạp. Thực là phi lý đến độ khôi hài - theo lời nhà luận thuyết người Anh là Robert Chambers năm 1844  - Khi cứ bắt Thượng đế phải chạy đôn chạy đáo hết nơi nầy đến nơi khác để đích thân can thiệp mỗi khi con người phát hiện thêm được một giống sò hến hay một loài bò sát nào trước đây chưa được ai biết đến.

Vậy mà những người theo thuyết Sáng thế một cách thiển cận và mê muội vẫn đua nhau lập ra nhiều tổ chức, hiệp hội để tranh giành ảnh hưởng với nhau mặc dù cùng đưa ra những luận đề tương tự: Nào là Trái đất mới hình thành khoảng 10.000 năm về trước; nào là Thượng đế hốt nhiên đồng thời sáng tạo ra cả muôn loài động vật, thực vật (đại đề giống như vào thời nay và từ đó đến giờ về cơ bản không có thay đổi gì nhiều và cũng chẳng có thêm chủng loại nào mới); rằng Thượng đế sáng tạo muôn loài theo những phương thức gọi là 'Sáng tạo đặc thù' giờ đây đã thất truyền và do đó không thể nào kiểm tra bằng khoa học được . . . Trọng tâm của thuyết Sáng thế là câu truyện trận Đại hồng thủy tràn ngập gần hết địa cầu và chiếc bè của Nôê cứu cho muôn loài thoát khỏi nạn hồng thủy.

Hầu hết những người bênh vực thuyết sáng thế đều chủ trương rằng tuổi của trái đất chỉ lớn hơn cái tuổi mà chuyên gia khảo cứu Cựu ước kinh người Anh tên là John Lightfood ước tính đôi chút. Lightfood còn cả quyết là đã tính đúng được ngày giờ Thượng đế sáng tạo ra Ađam 'vào lúc 9 giờ sáng ngày thứ sáu, 17 tháng 9 năm 4004 trước Tây lịch.' {Còn khoa học hiện đại thì ước tính tuổi của Vũ trụ khoảng từ 15 - 20 tỉ năm; tuổi của mặt trời cùng các hành tinh trong Thái dương hệ khoảng 4,5 tỉ năm; tuổi của sinh vật cổ nhất, Trilobités (con tam điệp) là 570 triệu năm, tuổi của loài người từ khoảng 1,750 đến 2 triệu năm . . .}.

Các môn đồ của 'Khoa học Sáng thế' cũng noi gương các nhà địa chất và Cổ sinh vật học, đi khảo sát giả ngoại mong tìm bằng chứng hổ trợ cho Khởi nguyên thuyết. Riêng trong năm 1984 đã có 3 đoàn khảo sát tranh đua nhau đi tìm những di tích 'Cái bè Nôê' tại vùng núi Ararat trên biên giới Liên xô - Thổ nhỉ kỳ. Một toán khoa trương là đã tìm ra địa điểm cái bè của Nôê xưa kia cập lại - và toán nầy bị 2 toán kia chế giễu bằng thích . . .

Những người chủ trương thuyết Sáng thế hiện nay đặc biệt ưa lối lập luận lỗi thời gọi là lập luận theo thiết kế, theo dụng ý: các loài thực vật và động vật được tạo ra phù hợp với nhau đến độ con người bó buộc phải coi là chúng đã được một Đấng sáng thế Toàn trí toàn năng sáng tạo ra. Đó là chưa kể đến lập luận quen thuộc về sự tinh vi của con mắt. Cặp mắt của con người cũng như của con vật phải là một tác phẩm kỳ diệu của Đấng sáng thế!

 

Bài 2: DI SẢN CỦA CÁC "HOÀNG TỬ MẶT TRỜI"

"Càng đi gần đến chân lý, chúng ta càng đi ra xa thực tế."

                                                              Xta-Nhi-Xoáp Jêzu Lex.

Theo thuyết của các nhà Atlantic học, khoảng 12.000 năm trước đây, một trận Đại hồng thủy đã quét sạch khỏi mặt đất mọi trung tâm văn minh và mọi nền văn hóa từng tồn tại thời bấy giờ. Chỉ một số rất ít người thoát khỏi thảm họa ấy, nhất là những người sống ở những vùng cao nhất của địa cầu thời ấy: Trên cao nguyên Iran, trong dãy Himalaya, trong rặng Thạch Sơn, trên bình sơn nguyên A-bi-xi-ni hay trên các cao nguyên của dãy An-đơ. Tuy nhiên, loài người ở những nơi ấy không đông và sinh sống chủ yếu bằng nghề săn bắn hái lượm, chăn nuôi hay tiều phu. Còn cư dân sinh sống ở vùng thấp hơn, ở các thung lũng và đô thị thì không kịp chạy trốn. Thâm chí, nếu như họ biết trước thảm họa đang đổ xuống đầu họ đi chăng nữa thì trong những điều kiện các phương tiện giao thông vận tải thời ấy, họ cũng không có đủ thì giờ để thoát khỏi những vùng đang bị đe dọa.

Các truyền thuyết và những thần thoại cổ nói rằng, trận Đại hồng thủy bắt đầu bằng những cơn mưa lửa. Nguyên nhân của những 'cơn mưa lửa' nầy có thể là sự bùng nổ đồng loạt của nhiều núi lửa, sự thay đổi đột ngột trong hệ thống trọng trường khi có một sao chổi hay một tiểu hành tinh đủ lớn nào đó bay quá gần Trái đất. Theo Kinh thánh, Nôê thoát nạn nhờ một chiếc thuyền, và sau trận Đại hồng thủy, Nôê cập bến A-ra-rát (ngày này thuộc Thổ Nhỉ Kỳ, có độ cao 5.156m trên mực nước biển!). Những thần thoại khác cũng tương tự: nhân vật truyền thuyết, người sáng lập ra Aán Độ giáo là Mê-nu cũng đi lên dãy Hi-ma-lay-a để tránh Đại hồng thủy; Bô-khi-ha, ông tổ của người Anh-điêng Tơ-rip-xơ ở Cô-lôm-bi-a chạy trốn lên dãy An-đơ; Côx-côx, nhân vật truyền thuyết của Mê-hi-cô, tương tự như Nôê, thì trốn lên dãy núi Xi-e-ra Ma-đrê. Người Anh-điêng Bắc Mỹ nói rằng tổ tiên của họ chạy trốn lên rặng Thạch Sơn, còn thổ dân Châu Phi thì nói rằng tổ tiên của họ chạy lên núi A-bi-xi-ni để tránh nạn Đại hồng thủy.

Trong quyển sách 'Những Người Sáng Tạo Thế Giới', xuất bản tại Đuôc-xen-đooc năm 1972, Rô-be Sa-rut viết: "Khoảng 10.000 năm trước Công lịch, trên Trái đất có những cư dân của lục địa At-lan-tic sinh sống (. . .) Thời ấy xảy ra một thảm họa 'mưa lửa và Đại hồng thủy' (. . .) Gần như tất thảy mọi người đều bị chết, chỉ một số rất ít thoát nạn, đó là những người đang sinh sống  trên các dãy núi cao (. . .). Sau trận Đại hồng thủy, loài người bắt đầu phân chia ra theo nơi cư trú của mình trong cơn Đại hồng thủy, đó là năm 'cái đảo' còn sống sót của thế giới: người da đỏ (tức là người At-lan-tic) - dãy Thạch Sơn và An-đơ, người da đen - cao nguyên A-bi-xi-ni, người da vàng - dãy Hi-ma-lay-a, người da trắng - cao nguyên I-ran."

Với quan điểm địa chất học thì khó có thể xác định được niên đại chìm ngập của lục địa giả thuyết At-lan-tic. Có thể giả thiết rằng At-lan-tic chỉ bị ngập bởi một làn nước mỏng vào khoảng 9.500 năm trước Công nguyên, rồi mãi về sau mới bị lún ngập thêm cho đến độ sâu ngày nay. Theo ý kiến của Mac-xen P. Hô-met thì việc At-lan-tic bị lún ngập làm tạo ra một đứt gãy lớn ở phía Bắc Đại Tây dương. Nước từ chung quanh lập tức dồn vào khe nứt nầy, khiến cho mực nước của Đại Tây dương bị hạ thấp đi một cách đáng kể. Không những chỉ riêng vùng bờ biển được mở rộng ra mà đất còn bị lộ ra ở tất cả những nơi biển vốn nông. Những thí dụ điển hình nhất của sự đổi thay đó - theo Hô-mét là: biển A-ma-zôn bị biến mất, thung lũng sông Mit-xi-xi-pi cũng như thung lũng sông Xanh Vap-run-xa nhô lên và đường bờ biển Bắc Mỹ tiếp giáp với Đại Tây dương được mở rộng ra.

Các núi lửa bùng nổ phun vào khí quyển tro chứa khí độc, tro nầy được gió lốc mang đi tới mọi miền Trái đất cùng với những chấn động mạnh của vỏ Trái đất, khiến cho mọi sinh vật trên mặt đất đều bị hủy diệt. Chính vì thế mà hàng đàn voi Max-tô-đôn bị chết, tạo thành những 'nghĩa địa voi' còn lưu lại đến ngày nay ở vùng lân cận Bô-gô-ta, thủ đô của Cô-lum-bi-a, cũng như hàng đàn voi ma-mút trong các khu rừng và thảo nguyên của vùng Đông Xi-bi-ri.

Gần đây, nhà sinh học Liên xô Ghê-ooc-ghi-Lin-đơ-bec cũng khẳng định là trong thực tế đã xảy ra nạn Đại hồng thủy mà Kinh thánh đã mô tả. Hơn nữa, trong lịch sử thế giới từng có khá nhiều trận hồng thủy như thế, gây ra do động đất, núi lửa phun, do gió lốc, do sự tan chảy của băng ở Nam Cực và Bắc Cực (khi nhiệt độ thay đổi lớn), hoặc do sự dâng cao của đáy biển và đại dương. Trong khoảng một triệu năm gần đây, mực nước ở các Đại dương dâng cao gần 500m so với trước đó và nhiều lần tràn lên các lục địa, gây nên những tàn phá khủng khiếp. Người ta cũng không loại trừ khả năng là lục địa giả thuyết At-lan-tic biến mất khỏi bề mặt Trái đất chính là do sự dâng cao đột ngột của mực nước biển gây ra: Theo ý kiến của nhà sinh học Xô-viết này điều đó có thể đã xảy ra khoảng 7 - 8 nghìn năm trước Công nguyên.

Mặc dù thực ra không có bằng chứng nào khẳng định chắc chắn là đã có những vị khách từ Vũ trụ viếng thăm Trái đất, song dựa trên hàng loạt căn cứ khác nhau, nhiều tác giả đã đưa ra những giả thuyết ít hay nhiều đáng chú ý về "Những cuộc viếng thăm từ Vũ trụ" cũng như những sự kiện có liên quan đến chúng. Họ xuất phát từ những cơ sở nào? Dưới đây là một số những cơ sở đó.

Thứ nhất - loài người không thể hình thành từ thế giới sinh vật bằng con đường tiến hóa chậm chạp bình thường, bởi lẽ việc chuyển từ loài vượn có tổ chức cao thành con người không thể nào thực hiện được trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như thế. Như chúng ta biết, theo các quy luật tiến hóa, việc biến đổi loài phải diễn ra trong hàng trăm nghìn đến hàng triệu năm. Trong khi đó, những di tích khảo cổ, cổ nhất của loài người thuộc loài SAPIENS chỉ có niên đại vài chục nghìn năm mà thôi. Nghĩa là ở đây phải có một tác nhân nào đó làm 'tăng tốc' quá trình tiến hóa bình thường nầy.

Thứ hai - khó mà thừa nhận là trong thế giới sinh vật nói chung cũng như trong số các giống vượn người nói riêng, lại chỉ có một loài duy nhất có thể biến thành người, trong khi tất cả các loài khác đều nằm trong cùng một giai đoạn phát triển như nó. Đó là điều không thể hiểu nổi, bởi vì những điều kiện quyết định việc hình thành loài người tác động lên tất cả các loài vượn người ấy.

Thứ ba - sự phát triển của nền văn minh và văn hóa của chúng ta có vẻ như không có hậu thuẩn trong quá khứ. Không hề có (hay ít ra là đến nay người ta vẫn chưa tìm được) những dấu vết ghi lại giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ ăn lông ở lỗ sang những nền văn minh cổ đại đã phát triển cao, giai đoạn mà trong đó kiến thức loài người có lẽ phải được tăng cường và tích lũy một cách hết sức chậm. Trong thực tế, các nền văn minh cổ đại vĩ đại như văn minh Xu-me-rơ hay Ai-cập ở Cựu thế giới hoặc văn minh Mai-a ở Tân thế giới đều được hình thành và phát triển gần như đột ngột, thể hiện ngay một trình độ rất cao, dường như đã được chuẩn bị sẵn từ trước. Cũng chính vì vậy, đối với thế giới cổ đại hồi ấy, thế giới đang còn nằm trong giai đoạn công xã nguyên thủy, những nền văn minh nầy trở thành những khối đá khổng lồ trên hoang mạc.

Thứ tư - trong các hệ thống tôn giáo, trong các truyền thuyết và thần thoại, trong những phế tích cổ hay những di tích khác còn lưu lại từ quá khứ xa xưa đều chứa ít nhiều dấu vết, mà căn cứ vào đó có thể nghĩ rằng thế giới của chúng ta đã từng chịu một sự thâm nhập từ Vũ trụ, sự thâm nhập có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ sự phát triển tiếp theo đó của nhân loại.

Xuất phát từ những cơ sở đó, những người tán thành thuyết 'Các cuộc viếng thăm từ Vũ trụ' đã nêu ra một số giả thuyết mà chúng ta có thể trình bày tóm tắt như sau:

Loài người được tiến hóa từ loài vượn theo đúng lý thuyết của Darwin, nhưng không phải bằng con đường tiến hóa chậm chạp bình thường. Một loài vượn người (có thể là loài đã rất gần với con người ngày nay), vào một thời điểm nào đó trong quá khứ, đã được 'cấy ghép' trí tuệ, kiểu như ngày nay chúng ta lai ghép cây táo dại nhằm cải tạo cây và quả của nó. Công việc 'cấy ghép' nầy do những nhà du hành Vũ trụ nào đó đã từng đến hành tinh của chúng ta vào thuở xa xưa tiến hành. Hạ cánh và lưu lại một thời gian trên Trái đất, họ đã tiến hành một số công việc có tác dụng hướng dẫn sự phát triển của giới tự nhiên. Kết quả chủ yếu của những công việc ấy chính là việc 'thông minh hóa' một trong số những loài vượn người sinh sống hồi ấy trên Trái đất. Họ thực hiện kỳ công nầy bằng cách gây đột biến (bằng một phương pháp mà ngày nay chúng ta chưa biết) trong cơ quan duy truyền của loài vượn người nầy. Chính bằng phương pháp đó, họ đã truyền cho các cư dân trên Trái đất  hồi ấy - những cư dân đang sống trong hoàn cảnh hoàn toàn hoang dã - một phần trí thông minh và kiến thức của họ. Nhờ đó, quá trình tiến hóa bình thường được rút ngắn từ hàng triệu năm xuống còn vài chục ngàn năm, thậm chí xuống mười mấy ngàn năm mà thôi.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by