You are hereForums / Trang Chính / TK Thông Lãm (Cựu) / Lê-vi Ký I

Lê-vi Ký I


By admin - Posted on 27 December 2008

LÊ-VI KÝ

I/. TÊN SÁCH:

1.  Hi-bá-lai: Trong Kinh Thánh tiếng Hi-bá-lai, sách được gọi theo chữ đầu của sách là: Wayyiqra, chữ nầy có nghĩa là “VÀ CHÚA GỌI”.

2.  Tên thường gọi: là Lê-vi ký

  • Hi-văn: Leuitikon.
  • Latinh: Leviticum
  • Anh ngữ: Leviticus dịch từ tiếng Hi-lạp (Bản Septuagint) có nghĩa là: thuộc về người Lê-vi, hoặc sách ghi những việc liên quan đến người Lê-vi.
  • Việt ngữ: Chữ Ký là 'ghi chép', nên cũng có nghĩa như tiếng Anh.

*Lêvi là tên của một trong mười hai người con trai của Gia-cốp - Sáng. 29:34; 46:1-27, là tổ phụ của chi phái Lêvi. Đức Chúa Trời biệt riêng chi phái Lê-vi để làm công việc của Ngài.

  • Dân. 18:21, 24, người Y-sơ-ra-ên dâng 1/10 nuôi người Lê-vi
  • Người Lê-vi ở trong 48 thành của các chi phái khác dành riêng cho. A-rôn và các con trai ông thuộc chi phái Lê-vi. Họ được làm thầy tế lễ, còn các họ khác trong chi phái Lê-vi làm các chức việc phụ giúp thầy tế lễ.

II/. NIÊN HIỆU:

Niên hiệu sách nầy ở giữa Xuất. 40:17 và Dân. 9:3; 10:11, một khoảng thời gian từ 15 ngày đến một tháng. Có lẽ tất cả lễ nghi, luật lệ trong sách đều được ban cho trong khoảng thời gian 14, 15 ngày đó. Như vậy, Lê-vi ký là gạch nối cho hai sách Xuất Ê-díp-tô ký và Dân số ký.

III/. ĐỀ TÀI:

Có nhiều từ ngữ Thánh chạy suốt sách, thường được nhắc lại nhiều lần:

  • THẦY TẾ LỄ
  • CỦA LỄ,
  • HUYẾT DÂNG
  • Đặc biệt nhóm từ "TA LÀ ĐỨC GIÊ-HÔ-VA" nhắc lại hơn 50 lần trong 18: - 27:
  • Hình ảnh trọng tâm của sách là: THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM.
  • Đoạn trọng tâm của sách là đoạn 16
  • Đề tài trọng tâm của sách là: SỰ NÊN THÁNH (chữ THÁNH) được chép 80 lần trong sách.
  • Câu trọng tâm là: 19:2

IV/. BỐ CỤC:

A/. BỐ CỤC TỔNG QUÁT

Đề tài: SỰ NÊN THÁNH
Câu gốc: 19:2

A.    NỀN TẢNG SỰ NÊN THÁNH: 1: - 17:

  • Những qui định việc thánh
  • Hành động thờ phượng.
  • Những liên hệ Đền tạm
  • Con đường đến với Đức Chúa Trời (qua tế lễ)
  • Nghi lễ và vật chất.
  • Sự tha tội (chuộc tội) được ban cho.
  • Dân sự được tẩy sạch
  • Nền tảng sự thông công (qua sinh tế giảng hòa).

Sách Lê-vi ký được đánh dấu với việc Đức Chúa Trời phán cùng dân Chúa từ trong Đền Tạm (1:1), chứng tỏ Ngài hiện diện thông công với tuyển dân của Ngài. Điều đó nhấn mạnh dân Chúa đã sẵn sàng được đưa vào một mối tương quan mới trong sự thông công dựa trên căn bản giao ước bởi HUYẾT. Ý nầy là chìa khóa của sách Lê-vi ký.

-    Đoạn 18: - 27: THỰC NGHIỆM SỰ NÊN THÁNH.

  • Những qui định liên hệ luân lý
  • Hành động thực hành.
  • Đặc điểm và cách quản lý Đền Tạm
  • Đi với Đức Chúa Trời (qua sự Nên Thánh)
  • Luân lý và tánh thuộc linh.
  • Hình phạt phải được đền bồi.
  • Đời sống dân Chúa phải được tẩy sạch.
  • Những bổn phận trong sự thông công.

Sứ điệp cả sách qua hai điều nầy: TẨY SẠCH và SỐNG TRONG SỰ TẨY SẠCH.

Chúng ta được thông công với Đức Chúa Trời như một người với một người, sự thông công thật của chúng ta là 'VỚI CHA'. Sự thông công nầy là tuyệt điểm trong Cựu ước và là lẽ thật vĩ đại được nhấn mạnh trong I Giăng 1:7.

  • Phần (1) của sách Lê-vi ký: HUYẾT tẩy sạch chúng ta.
  • Phần (2) của sách Lê-vi ký: HUYẾT tẩy sạch chúng ta khi chúng ta bước đi trong sự sáng.

B/. BỐ CỤC CHI TIẾT:

1/. NỀN TẢNG SỰ NÊN THÁNH: 1: - 17:

a.   Sinh tế (sự tha tội) 1: - 7:

  • Sinh tế có mùi thơm - 1: - 3:
  • Sinh tế không có mùi thơm - 4: - 6:7
  • Luật sinh tế - 6:8 - 7:

b. Chức tế lễ (trung bảo) 8: - 10:

  • Sự dâng mình - 8:
  • Công việc của thánh chức - 9:
  • Thử thách - 10:

c.  Dân sự (Đối tượng Sự Nên Thánh) 11: - 16:

  • Thức ăn sạch - 11:
  • Cách sống sạch - 12: - 15:
  • Quốc gia sạch - 16:

d.  Bàn thờ (công hiệu) 17:

  • Vị trí bắt buộc - 17:1-9
  • Công tác bắt buộc - 17:10-16

2/. THỰC NGHIỆM SỰ NÊN THÁNH: 18: - 27:

a.   Qui định đối với dân sự: 18: -20:

  • Cấm lịnh về giới tính - 18:
  • Lời cảnh cáo chung - 19: - 20:

b.  Qui định đối với thầy tế lễ: 21: - 22:

  • Về tập tục - 21:1-15
  • Về nhân cách - 21:16 - 22:16
  • Về sinh tế - 22:17-33

c.  Qui định về thánh lễ: 23: -24:

  • hạn kỳ ngày lễ - 23:
  • vật thánh - 24:1-9
  • Hình phạt tội bất kính - 24:10-23

d.  Qui định về đất Ca-na-an: 25: - 27:

  • Năm Sa-bát và năm Hân hỉ  25:
  • Giải thích giao ước  26:
  • Hứa nguyện 27:

V/. ĐẶC ĐIỂM:

A/. SINH TẾ: 1: - 7:

1.      Các loại của lễ:

a.  Của lễ có mùi thơm (Thờ phượng): gồm:

-   Của lễ thiêu

-   của lễ chay

-   của lễ thù ân

b.  Của Lễ không có Mùi thơm (Đền tội):

-   Của lễ chuộc tội

-   Của lễ chuộc sự mắc lỗi

2.  Ý nghĩa các của lễ:

a.  Của Lễ Thiêu: (toàn thiêu) 1:

  • 1:3, có mùi thơm, đẹp lòng Chúa, để thờ phượng.
  • 1:5, bằng sinh vật sống (1:3, 10, 14) như
    bò đực: hầu việc (Châm ngôn 14:4)
    Chiên con: thuận phục (Ê-sai 53:7)
    Chim bò câu: ttrong sạch (Mathiơ 10:16)
  • 1:9, Toàn thiêu: khác của lễ chay và thù ân. Toàn thiêu trên bàn thờ (khác với của lễ chuộc tội và mắc lỗi - chỉ thiêu một phần ngoài trại quân.
  • Ý nghĩa: Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời dâng mình trọn vẹn (Êph. 5:2; Philíp 2:6)

b.  Của Lễ Chay: 2:

-   2:2, 9, Có mùi thơm

-   Vật liệu:

  • Bột mì lọc (Êsai 28:28): Sự thương khó của Chúa Jêsus như quá trình từ lúa mì thành bột mì. Bột mịn làm bánh không men, hấp hay chiên.
  • Dầu (chỉ về Đức Thánh Linh đầy dẫy trên Chúa Jêsus Christ - bột)
  • Nhũ hương: thơm - chức tế lễ - mỹ đức thiên thượng
  • Không được dùng mật ong (c. 11) chỉ về nhân đức loài người. Nhũ hương đốt thì thơm, còn Mật ong đốt thì bị chua và dậy men.
  • Phải có muối: không hư nát, vĩnh cửu (Tập tục người Assur dùng muối làm giao ước. Ăn muối là cử chỉ thân thiện.
  • Dâng một phần (2;2), còn lại thuộc A-rôn (2:3)

c.   Của Lễ Thù Ân: 3:; 7:11-21

-   Của Lễ có mùi thơm  3:5, 16

  • Giống như của lễ Thiêu và Chay
  • Khác với của lễ đền tội và mắc lỗi.

-   Người dâng, thầy tế lễ, Đức Chúa Trời, đều có hưởng phần.  7:15, 16, 31, 32

  • Sự hòa thuận (bình an) mọi mặt (Côlôse 1:20)
  • Đây là của Lễ cảm tạ  7:13

d.      Của Lễ chuộc tội: (Phạm điều răn)  4:

-   Người dâng với địa vị tội nhân xin tha thứ (khác với 3 của Lễ trên, người dâng đến để thờ phượng

-   Người dâng chia ra tùy theo giai cấp để dâng của Lễ:

  • Thầy tế lễ phạm tội: dâng một con bò tơ - 4:3
  • Cả hội chúng phạm tội: một con bò tơ - 4:13-14
  • Quan trưởng: một con dê đực 4:22-23
  • Dân sự: một con dê cái hay một con chiên con - 4:27-28

-   Huyết được dùng:

  • bôi trên người dâng.
  • rảy trước màn nơi thánh
  • trên sừng bàn thờ xông hương.
  • đổ dưới chân bàn thờ bằng đồng.

-   Hình bóng Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá khiến tội nhân hòa thuận với Đức Chúa Trời - Côlôse 1:20

e.      Của Lễ Chuộc Sự Mắc Lỗi: (phạm với người) 5:-6:7

  • Người dâng là tội nhân
  • Ngoài sinh tế dâng, còn phải bồi thường vốn cộng thêm 1/5     6:5
  • Sự chết của Chúa Jêsus Christ làm cho loài người với người    Êph. 2:14-16

-  Của lễ chuộc tội là chiều ĐỨNG của thập tự giá.

-  Của Lễ chuộc sự mắc lỗi là chiều NGANG thập tự giá khiến người hòa với người - Êph. 2:14-1

ĐẤNG CHRIST LÀ TRUNG TÂM CÁC CỦA LỄ

Của Lễ có Mùi Thơm - Sự Thờ Phượng)

1. THIÊU: Con ĐCT tự hiến thân

2. CHAY: Con Người trọn vẹn cảm thông

3. THÙ ÂN: Bình an

Của Lễ Không co Mùi Thơm: Sự Đền Tội.

4. CHUỘC TỘI: Gánh tội (đối với ĐCT)

5. MẮC LỖI: Gánh lỗi lầm (Đối với người)

B/. CHỨC TẾ LỄ:

Trong chức vụ lo cho Nhà Chúa có 3 thành phần:

1/. Chi phái Lê-vi:

  • Một trong 12 chi phái.
  • Tên Lê-vi: có nghĩa là dính díu (Sáng. 29:34)
  • Con thứ ba của Gia-cốp.
  • Vì cùng với Si-mê-ôn giết dân Si-chem, nên trong lời di chúc của Gia-cốp, Lê-vi mất đặc quyền con trưởng nam (như Ru-bên và Si-mê-ôn), không được cha chúc phước (Sáng. 49:5-7).
  • Trung tín với Chúa, nên được Môi-se chúc phước (Xuất. 32:26-29)
  • Công tác là phụ tá chức vụ thầy tế lễ, lo việc Đền thờ.
  • Nhận thuế 1/10 về sản vật của các chi phái, rồi người Lê-vi lại dâng 1/10 cho thầy tế lễ – Dân. 18:21, 24, 26-28; Nêh. 10:37.
  • Người Lê-vi không được chia sản nghiệm, nhưng các chi phái khác dâng và trong phần đất dâng đó chỉ định 6 thành làm thành ẩn náu (Dân. 35:2-5).

2/. Thầy tế lễ:

-  Là một gia tộc trong chi phái Lê-vi được biệt riêng làm chức tế lễ, đó là họ A-rôn (8:1-2)

-  Dâng tế lễ thay cho dân sự và phụ trách phần việc nơi thánh.

-  Không thể tự phong (8:). Môi-se làm lễ phong chức cho A-rôn và các con (Xuất. 23:1)

Bài học cho những người muốn tự phong được ghi trong Dân số ký 16:1-3, 18, 28-35. Đảng Cô-rê là những người thuộc chi phái Lê-vi muốn tự phong làm thầy tế lễ, kết quả là họ bị Chúa phạt – Giacơ 3;1-2

-   Lê-vi ký 10: cho thấy Đức Chúa Trời nghiêm khắc với chức vụ thánh.

-  Có nhiều qui định cho thầy tế lễ (10:8-9)

-  Cơ-Đốc nhân ngày nay là Thầy Tế Lễ (I Phierơ 2:9-10)

3/. Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm:

-   A-rôn là người đầu tiên được xức dầu đặc biệt (Thi thiên 133:2) và chức vụ đặc biệt được cha truyền con nối.

-  Hướng dẫn việc tế lễ.

-  Người duy nhất được vào Nơi Chí Thánh mỗi năm một lần với huyết (Lê-vi 16:12)

-  Có áo đặc biệt truyền lại cho người kế thừa (Xuất. 28:2)

Đặc biệt làm hình bóng về Chúa Jêsus Christ (Hêb. 4:14-15) Nhưng Chúa Jêsus Christ không thuộc chi phái Lê-vi, nên ngài không theo chức tế lễ của họ A-rôn, mà theo Ban Mên-chi-xê-đéc (Hê. 7:1-3, 11-17)

C/. KIÊNG KỴLê-vi ký 11: - 22:

Trong sách Lê-vi ký ghi chép nhiều qui định phải kiêng cử vì hai lý do:

1.  Kiêng cử vì chủng tộc: 19:2; 20:26

Để phân biệt tuyển dân Y-sơ-ra-ên với dân ngoại, nên Chúa đã ra lịnh cho dân Chúa phải kiêng cử một số việc. Vì dân ngoại thời đó sống gian ác, có nhiều tập tục gớm ghiếc trước mặt Chúa, nên Chúa phải dạy cho dân Y-sơ-ra-ên cách sống của một dân thánh.

2.  Kiêng cử vì nhu cần vệ sinh:

Có nhiều điều Đức Chúa Trời cấm dân Y-sơ-ra-ên ĂN và LÀM, được ghi rõ trong sách Lê-vi-ký, tất cả những điều đó có ích lợi cho cá nhân.

Đoạn 11: Chúa cấm ăn

  • Những con vật không 'nhơi' (11:7)
  • Loại cá không có vây, không có vảy (11:10)
  • Mỡ, huyết (7:22-27)
  • Thú vật chết ngột

(Thịt heo là loại có nhiều chất béo và dễ sinh trứng sán trong môi trường nhiệt đới, lại nuôi khó khăn hơn nuôi bò. Cá không vây không vảy là những loại ăn thức ăn không sạch như: con lươn. Mỡ là loại thức ăn khó tiêu và làm thân thể dễ mệt mỏi, gây chứng cholesteron. Huyết là cơ quan chuyên chở dưỡng chất cho cơ thể đồng thời cũng chuyên chở vi trùng trong cơ thể, thêm nữa là các dân tộc dã man có tập tục ăn gan uống huyết. Thú vật chết ngột là những con vật chết không biết lý do, thường là do bịnh tật, và đã hư hoại.

Đoạn 12: Luật về sản phụ

Những luật lệ về sản phụ nầy nhằm bảo vệ sức khỏe các bà mẹ với những cấm đoán hạn chế hoạt động của sản phụ, rõ ràng tất cả là vì yêu thương những người làm mẹ. Rất tiếc, ngày nay, các sản phụ không thấy tình yêu thương của Chúa cho mình có cơ hội nghỉ ngơi, lại thích bỏ qua luật yêu thương của Chúa.

Đoạn 13: - 14: Bệnh phung

Chúa dạy rõ về bệnh phung, vì vùng nhiệt đới dễ có bịnh phung, và đặc biệt trong hoàn cảnh dân Y-sơ-ra-ên sống tập hợp giữa đồng vắng nên dễ gây truyền nhiễm.

Đoạn 15: - 16: Vấn đề tình dục.

Nếu so sánh với Sáng. 19 và Dân. 25, các dân ngoại sống rất là phóng túng trong vấn đề tình dục trở nên dâm dục. Vì vậy Đức Chúa Trời đã dạy cho dân Y-sơ-ra-ên bài học nầy.

Chúng ta thấy Đức Chúa Trời Chí Thánh là Đấng không chịu ô uế mọi phương diện: từ phương diện thuộc linh đến cách ăn, cách ở. Đồng thời chúng ta cũng cảm tạ Chúa chẳng những cứu chúng ta khỏi tội lỗi, nhưng cũng dạy chúng ta cách sống mới của người được cứu rỗi. Đức Chúa Trời chẳng những quan tâm đến một dân tộc, nhưng Ngài cũng quan tâm đến từng cá nhân.

Chúng ta có:

  • Đoạn 11, Thức ăn sạch
  • Đoạn 12; - 13:46, Thân thể sạch
  • Đoạn 13:47-59, Quần áo sạch
  • Đoạn 14:33-57, Nhà ở sạch
  • Đoạn 15, Giao tiếp sạch
  • Đoạn 16, Một quốc gia sạch

D/. CÁC NGÀY LỄ:  Lê-vi ký 23:

Từ ngữ "LỄ" dùng để dịch hai từ của tiếng Hi-bá-lai có ý nghĩa khác nhau:

  • Chag = một bữa tiệc
  • Mo'ed = chỉ về thì giờ hay mùa.

Nói chung lại, từ 'Lễ' trong tiếng Việt bao gồm một thì giờ hay mùa đặc biệt trong cơ hội đó chắc chắn sẽ có những bữa tiệc ăn mừng.

1. Ngày Sa-bát: 23:1-3

  • Danh từ 'Sabát' có nghĩa là 'Ngày Yên Nghỉ', do động từ 'sabát' nghĩa là 'Nghỉ, ngưng làm.'
  • Nguồn gốc ngày Sa-bát là do Chúa lập trong Vườn Ê-đen (Sáng. 2:3), với mục đích cho con người được nghỉ ngơi thể xác và tâm linh (Mác 2:27)

Dù con người chống nghịch Đức Chúa Trời cách nào cũng không thể hủy bỏ nghỉ một ngày trong tuần.

2. Lễ Vượt Qua: 23:4-8

  • Lễ Vượt Qua làm hình bóng về sự cứu chuộc của Chúa Jêsus Christ (Giăng 1:29)
  • Lễ nầy cử hành vào tối ngày 14 tháng 1 (lịch Do thái, tức khoảng tháng 3 dương lịch).
  • Đây là một Lễ Lớn của người Y-sơ-ra-ên, giống như một ngày Tết Nguyên Đán của người Việt-nam.
  • Cử hành một ngày, rồi tiếp theo là 7 ngày Lễ Bánh Không Men.
  • Những ngày Lễ nầy là những ngày nghỉ, nên cũng gọi là Lễ Sa-bát.
  • Ngày nay dân Y-sơ-ra-ên vẫn giữ Lễ Vượt Qua.
  • Sau ngày thứ nhất Lễ Bánh Không Men, người Y-sơ-ra-ên có Lễ Đầu Mùa (Phục 16:9)

3.  Lễ Ngũ Tuần: 23:9-22

  • Sau Lễ Vượt Qua 50 ngày, thì dân Y-sơ-ra-ên cử hành Lễ Ngũ Tuần.
  • Ý nghĩa chữ 'Ngũ Tuần' gồm NGŨ là 5; TUẦN là tuần trăng (Một tháng có 3 tuần trăng: Thượng tuần, trung tuần, hạ tuần, mỗi 'tuần' có 10 ngày)
  • Sau Lễ Vượt Qua là Mùa Gặt, Lễ Ngũ Tuần là kết thúc Mùa Gặt, dân Y-sơ-ra-ên đem hoa lợi một năm về, nên Lễ Ngũ Tuần là một ngày vui trong gia đình (Phục. 16:11).

4. Lễ Thổi Kèn: 23:23-25

  • Cử hành vào ngày 1 tháng 7 (Dân 10:10; 29:1), tức là khoảng tháng 10 dương lịch.
  • Trong ngày Lễ nầy người ta thổi kèn không dứt.
  • Lễ nầy làm hình bóng về dân Y-sơ-ra-ên sẽ được nhóm họp lại và Chúa Jêsus Christ tái lâm.

5.  Đại Lễ Chuộc Tội: 16: và 23:26-32

  • Cử hành ngày 10 tháng 7.
  • Trong ngày Lễ nầy, dân Y-sơ-ra-ên sẽ tỏ dấu buồn rầu để ăn năn tội lỗi trong một năm qua bằng sự kiêng ăn.
  • Chỉ trong ngày Lễ nầy, Thầy Tế Lễ Thượng phẩm mới vào Nơi Chí Thánh để xưng tội của cá nhân, tội gia đình và tội của cả dân sự Chúa (Lê-vi ký 16:17).

6.   Lễ Lều tạm: 23:33-36

  • Đây là Lễ cuối cùng trong năm, cử hành vào ngày 15 tháng 7, sau Đại Lễ Chuộc Tội, và Lễ nầy kéo dài một tuần lễ (7 ngày).
  • Lễ nầy kỷ niệm những ngày dân Y-sơ-ra-ên sống lưu lạc trong đồng vắng vì tội lỗi của họ.
  • Trong Lễ nầy, dân Y-sơ-ra-ên sẽ ở trong những lều làm bằng lá cây (23:33-43), có khi làm lều lá nầy trên mái nhà, hoặc trong sân nhà…
  • Đặc biệt người nam phải giữ Lễ.

7.   Năm Sa-bát: 25:1-7

  • Theo qui định của Đức Chúa Trời, dân Chúa làm việc 6 ngày thì nghỉ một ngày, làm việc 6 năm thì nghỉ một năm (25:4)
  • Trong Năm Sa-bát, thì đất sẽ được nghỉ, không ai được gieo trồng. Đây là một thử thách đức tin cho dân Chúa.

Bài học cho dân Y-sơ-ra-ên là từ sau đời vua Sa-lô-môn đến đời vua Sê-đê-kia, trong thời gian 490 năm dân Y-sơ-ra-ên không giữ Năm Sa-bát, vì vậy Chúa phạt họ bị đày qua Ba-by-lôn 70 năm bù cho thời gian 490 năm họ không nghỉ (II Sử ký 36:21).

  • Sản vật tự nhiên mọc trong năm Sa-bát được dành cho người nghèo và khách kiều ngụ trong xứ. Đặc biệt năm Sa-bát thứ 7 thì tiếp đến là Năm Hân Hỉ (nghĩa là cứ 49 năm thì có một Năm Hân Hỉ).

Trong Năm Hân Hỉ có các đặc điểm:

  • Tất cả nô lệ sẽ được tự do, không cần chuộc.
  • Đất đã bị cầm cố sẽ được trở về chủ cũ (25:15-16).
  • 25:29-30 ghi luật về Nhà trong Năm Hân Hỉ

GHI CHÚ Về Các Ngày Lễ:

1.   Chữ chìa khóa Năm Sa-bát là NGHỈ (25:4)

  • Đất nghỉ
  • Công việc nghỉ (Phục 15:1-11)
  • Nợ được nghỉ (được tha)

2.  Chữ chìa khóa Năm Hân Hỉ là TỰ DO (25:10)

  • Nô lệ được tự do
  • Vật cầm bán được tự do
  • Sản nghiệp (đất) được tự do (tự động trả về chủ cũ)

3. Lễ Vượt Qua: hình bóng sự cứu chuộc của Chúa Jêsus Christ.

4. Lễ Ngũ Tuần hình bóng về Đức Thánh Linh giáng lâm.

5. Lễ Thổi Kèn, Đại Lễ Chuộc Tội, Lễ Lều Tạm, hình bóng về sự Tái Lâm của Chúa Jêsus Christ.

E/. SỐ 7: Số Trọn Vẹn

  • Ngày thứ 7 là ngày nghỉ sau khi Chúa đã hoàn tất công cuộc sáng tạo
  • Năm Thứ 7 là Năm Sa-bát
  • Năm Sa-bát thứ 7 là Năm Hân Hỉ
  • Tháng 7 là tháng THÁNH (có 3 Lễ Thánh - Phục 16:16)
  • Có 7 tuần lễ giữa Lễ Vượt Qua và lễ Ngũ Tuần
  • Lễ Vượt Qua và Lễ Ngũ Tuần cử hành 7 ngày
  • Lễ Ngũ Tuần dâng 7 con chiên con
  • Lễ Lều Tạm dâng 14 chiên con (2 x 7) và 10 bò tơ

VI/. SO SÁNH:

1.  So sánh với Sáng thế ký và Xuất Ê-díp-tô ký:

TÊN SÁCH      Ý NGHĨA

Sáng.           Phương thuộc của Đức Chúa Trời chữa bịnh tội lỗi:                                     DÒNG DÕI NGƯỜI NỮ

Xuất.            Tiếng kêu cứu của loài người được đáp ứng: HUYẾT                         CHIÊN CON

Lê-vi-ký        Nhu cần của loài người được cung cấp: THẦY TẾ LỄ -                               SINH TẾ

2.  So sánh với Tân Ước:

Sự liên hệ giữa Xuất Ê-díp-tô ký với Lê-vi ký giống như giữa các sách Tin Lành với các Thư Tín.

XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ (4 Sách Tin Lành)                      

  • Được giải cứu bởi Huyết Chiên Con: JÊSUS
  • Đức Chúa Trời gọi chúng ta: ĐI RA
  • Chúng ta có NỀN TẢNG sự thông công với Đức Chúa Trời: sự cứu chuộc

LÊ-VI KÝ (Các Thư Tín)

  • Cơ-đốc nhân được Đức Thánh Linh ở cùng
  • Đức Chúa Trời gọi chúng ta ĐI VÀO sự thờ phượng
  • Chúng ta BƯỚC ĐI (cách sống) với Đức Chúa Trời (nên thánh)

3.   So sánh với Chúa Jêsus Christ:

Hình ảnh so sánh nổi bật nhất về Chúa Jêsus Christ là Thầy tế Lễ Thượng Phẩm. Chúng ta phải chú ý sự khác nhau giữa sự xức dầu của A-rôn và các con trai của A-rôn:

A-RÔN                                     

  • 8:12, được xức dầu TRƯỚC KHI DÂNG TẾ LỄ
  • Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, hình bóng về Chúa Jêsus Christ (Hêb. 4:14-16)

CÁC CON TRAI A-RÔN

  • 8:30, được xức dầu SAU KHI DÂNG TẾ LỄ
  • Thầy Tế Lễ, làm hình bóng về Cơ-đốc nhân (I Phierơ 2:9-10)

Chúa Jêsus Christ là Đấng Vô Tội, Ngài không cần chuộc tội trước khi nhận sự xức dầu Đức Thánh Linh, giống như A-rôn được xức dầu trước khi dâng tế lễ, và chỉ một mình A-rôn được xức dầu theo cách nầy.

4.  So sánh với tương lai:

Hình ảnh so sánh sách Lê-vi ký với tương lai là Năm Sa-bát và Năm Hân Hỉ.

  • Năm Sa-bát tiếp theo 6 năm làm việc là để thực hiện sự nghỉ ngơi. Hình bóng về Chúa Jêsus Christ tái lâm thực hiện 1,000 năm Bình an (Khải. 20:4-6; Ê-sai 11: - 12:), trong 1,000 bình an nầy có sự yên nghỉ đối với gánh nặng tội lỗi.

Đây là lý do một số người chủ trương Chúa Jêsus Christ tái lâm năm 2,000.

  • Năm Hân Hỉ tiếp sau năm Sa-bát thứ 7 (tức là năm thứ 8 của Năm Sa-bát thứ 7),
    • Đó là ngày Chúa nhật của chúng ta, ngày thứ nhất trong tuần  lễ mới tiếp theo ngày Sa-bát theo tuần lễ cũ.
    • Đây là Ngày của sự Phục Sinh
    • Đây là ngày Đức Thánh Linh giáng lâm
    • Đây là Ngày Bắt đầu một trật tự mới và một sáng tạo mới trong Chúa Jêsus Christ.

-  Năm Hân Hỉ là ngày của Trời Mới Đất Mới (Khải. 21: - 22:), lúc ấy Chúa Jêsus Christ sẽ:

  • Hủy diệt sự chết
  • Hủy diệt Satan và ma quỉ
  • Làm Mới hết thảy muôn vật (Khải. 21:5)

-  Chữ chìa khóa của Năm Hân Hỉ là TỰ DO. Như một nô-lệ được tự do, được nhận lại sản nghiệp đã mất, tất cả quyền lợi sẽ được thực hiện trong Năm Hân Hỉ tương lai. Như vậy chúng ta mới hiểu được I Phierơ 1:4-5; Khải. 21:2-4)

-   Sự rủa sả trong Sáng. 3:17-19 sẽ được hủy bỏ trong Năm Sa-bát và Năm Hân Hỉ (Lê-vi ký 25:20-), nghĩa là trong Thiên Hi Niên và trong Trời Mới Đất Mới.

-   Đây là một sự Tự Do thật cho nô-lệ, cho sản nghiệp, cho đất. Đây chính là niềm mong ước của muôn vật (Rôma 8:21).

-   Năm Sa-bát và Năm Hân Hỉ sẽ được báo tin bằng tiếng kèn. Khi kèn của Đức Chúa Trời thổi, sự yên nghỉ và tự do của muôn vật sẽ bắt đầu!

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by