You are here1980-1982

1980-1982


By admin - Posted on 25 June 2008


 

1980-1982

 

Hội thánh bắt đầu hồi sinh, nhất là tại Tp. HCM, nổi bật nhất là tại hai Nhà thờ số 7 đường Trần Cao Vân và tại An Đông. Mỗi nơi có một đặc điểm sinh hoạt riêng. Tại An Đông do Mục-sư Nguyễn Hữu Cương làm Chủ tọa, có khuynh hướng huấn luyện, chú trọng chiều sâu, nhất là giới Học sinh Sinh viên. Còn tại Nhà thờ đường Trần Cao Vân do Mục-sư Hồ Hiếu Hạ làm chủ tọa hướng về chiều rộng, đẩy mạnh công tác truyền giảng Tin Lành, các con cái Chúa (kể cả các Tân tín hữu) hăng say làm chứng dắt đưa thân hữu đến với Chúa. Một số các Hội thánh ý thức nhu cần phục hưng, nên đã có những buổi nhóm cầu nguyện sáng sớm tại một số Nhà thờ. Đức Chúa Trời cũng dấy lên một số MSTĐ có ơn trong sự giảng dạy cộng tác với hai Hội thánh trên. Bắt đầu có rất nhiều người tin Chúa.

Cũng từ những năm nầy, vài khuynh hướng Thần học nổi lên như: Nhóm Nghê Thác Thanh, Nhóm An nghỉ, Nhóm tiếng lạ.

Nhóm Nghê Thác Thanh phát sinh do một vài người thích các bài giảng và tài liệu của Ông Nghê Thác Thanh (Watchman Nee), một nhà giải kinh của Trung quốc vào thập niên 40-50, chủ trương phi-Giáo phái). Nhóm nầy đã công kích Hội thánh Tin Lành Việt-nam. Còn Nhóm An Nghỉ do Truyền Đạo Phạm Xuân Nhân chủ xướng, cũng gọi là Nhóm Anh Em, cũng ảnh hưởng Nghê Thác Thanh và Lý Thường Thụ, cho rằng Hội Thánh chưa trọn vẹn, chưa đầy dẫy Đức Thánh Linh nên truyền giảng không bao giờ kết quả. Các Nhóm nầy sinh hoạt theo sự cảm động của Chúa. Cả hai Nhóm đều cho Hội thánh Tin Lành Việt-nam là Ba-By-lôn lớn, là Đại Dâm Phụ.

Hội thánh Tin Lành Việt-nam cũng đề kháng với các Nhóm nầy vì họat động của họ nhắm vào trong vòng Hội thánh, không đến với người chưa biết Chúa.

Nhiều Hội thánh cũng tổ chức Kinh thánh Hàm thụ, kết quả rất tốt. Các buổi họp bạn và Trại hè hướng dẫn Thanh Thiếu Niên âm thầm trong các Hội thánh đem lại sự nóng cháy, tình thông công giữa giới trẻ yêu Chúa và muốn phục vụ Chúa.

Biến cố gây sôi động trong năm 1981 là việc của Địa Hạt Miền Tây Nam Bộ, liên hệ Mục-sư Chủ Nhiệm Nguyễn Lập Mà.

Mục-sư Nguyễn Lập Mà.

Mục-sư Mà là Chủ Nhiệm Địa Hạt Miền Tây Nam Bộ, trụ sở tại số 57 đường Nguyễn Trãi, Tp. Cần thơ. Trụ sở nầy vốn là của Hội thánh bị quân đội chế độ trước 1975 chiếm dụng một thời gian dài mới trả lại. Sau 1976, Mục-sư Nguyễn Lập Mà đã dùng làm Trụ sở Địa Hạt Tây Nam Bộ, đồng thời mở một Hội thánh ngay Trụ sở, gọi là Hội thánh Thới bình. Và biến cố lớn đã xảy ra…

(1). Nguyên nhân:

Việc Mục-sư Mà mở Hội thánh tại Trụ sở Địa Hạt thu hút nhiều tín đồ từ hai Hội thánh kế cận là Hội thánh đường Xô-viết Nghệ-tĩnh (đường Phan Thanh Giản cũ) do Mục-sư Lê-văn-Tôi làm Chủ tọa, và Hội thánh tại đường Kiến Quốc (Nhà thờ Tuyên Úy quân đội cũ) do Mục-sư Nguyễn văn Công làm chủ tọa. Có lẽ sự thu hút nầy gây khó chịu cho hai nơi đó.

Về phương diện Chánh quyền, với ông Nguyễn Xuân Tươi, trước 1975 vốn là một Truyền Đạo, nay bỏ chức vụ ra làm việc với Chánh quyền, đã tố cáo Mục-sư Mà nhiều tội như: tội chứa chấp ông Phán Tần, một tín đồ chống Chánh quyền; tội liên hệ Mục-sư Sieng Âng, người Campuchia, đưa tiễn Mục-sư nầy về nước (lúc bây giờ tình hình bang giao giữa hai nước Việt-nam và Campuchia đang căng thẳng); và tội lập Hội thánh Thới Bình trái phép.  Sự tố cáo nầy lại được sự hỗ trợ của các ông: Mục-sư Đặng văn Lục, Mục-sư Nguyễn văn Công, Mục-sư Nguyễn văn Phương (cha của Nguyễn Xuân Tươi).

(2). Diễn biến:

Trước sự phủ nhận của Mục-sư Mà đối với những cáo buộc trên, Chánh quyền tỉnh Cần thơ đã tổ chức nhiều buổi họp trong Hội thánh cũng như giữa quần chúng địa phương để tạo điều kiện cho các Mục-sư buộc tội Mục-sư Mà. Tuy nhiên cũng có một số MSTĐ và tín hữu đứng ra binh vực Mục-sư Mà. Cuộc tranh cãi rất quyết liệt.

Cao điểm tranh cãi bắt đầu từ Hội Đồng Bồi linh ngày 5-10-1980, với sự hiện diện của Mục-sư Hội Trưởng Ông văn Huyên. Đang khi trong Nhà thờ Cần thơ, các ông Mục-sư Công, Mục-sư Phương, lớn tiếng tố cáo Mục-sư Mà, thì ngoài sân, Mục-sư Hội Trưởng cùng Mục-sư Lục thuyết phục Mục-sư Mà từ chức Chủ nhiệm, có thơ ký Văn phòng Tổng Liên hội làm sẵn Biên bản để Mục-sư Mà ký. Nhưng việc thuyết phục thất bại.

Trước áp lực đó, Ms Mà khiếu nại lên Chánh quyền Trung Ương tại Hà-nội, và Ban Trị sự Tổng Liên Hội. Những đơn khiếu nại nầy được Chánh quyền Trung Ương giao về cho cấp Tỉnh Cần thơ, nên cũng không kết quả gì. Còn Tổng liên Hội thì không giải quyết được chi cả.
 

VĂN BẢN THAM KHẢO

Mặt Trận Tổ Quốc Việt-nam

UB Tỉnh Hậu Giang
 

THÔNG BÁO

 

Kính gởi: UBMTTQ các Huyện, Thị, Thành trong Tỉnh để phổ biến tận các xã có Giáo hội Tin Lành cơ sở.

-UBND Tỉnh và Ty Công An Hậu Giang

-UBMTTQ các Tỉnh Tây Nam Bộ để theo dõi.

-UBND và Đồn Công An Phường Thới Bình.

-Đồng gởi Thường trực Ban Trị Sự Tin Lành TNB.

 

-          Căn cứ vào các tờ tố giác của quần chúng tín đồ và hàng giáo phẩm Tin Lành trong và ngoài Tỉnh.

-          Căn cứ vào các hồ sơ phạm pháp của Ms Nguyễn Lập Mà.

-          Căn cứ vào biên bản các cuộc họp có các Mục-sư trong và ngoài Ban Trị Sự Địa Hạt dự, kiểm điểm việc vi phạm luật pháp của Ms Nguyễn Lập Mà trong khi truyền đạo.

-          Căn cứ vào tinh thần thái độ không phục thiện tiếp tục phạm pháp, nhất là nghị quyết 297/CP của HĐCP của Ms Nguyễn Lập Mà.

Để bảo đảm trật tự trị an, an toàn xã hội.

Để bảo vệ luật pháp Nhà Nước, nhất là Nghị quyết 297/CP của HĐCP.

Để ngăn chận âm mưu của kẻ thù gây chiến tranh ở biên giới và phá hoại trị an ở nội địa, và những hành động trùng hợp với âm mưu nói trên.

Để trong sạch hóa về chánh trị trong hàng ngũ giáo phẩm của Giáo hội Tin Lành và hoạt động Tôn giáo theo đường lối của Đảng và Nhà Nước.

Xét vì hành động của Nguyễn Lập Mà nhiều lần phạm pháp trong những năm qua, mặc dầu được UBMTTQ Tỉnh có nhiều lần mời đến giới thiệu kiểm điểm phản tỉnh trên cơ sở Nghị quyết 297/CP mà Ms Nguyễn Lập Mà không nghiêm khắc sửa chữa.

Sau cuộc họp ngày 17-7-1981 có mặt UBMTTQ Tỉnh, UBMT Tp. Cần thơ, Công An Phường Thới bình, và Ms Nguyễn Lập Mà, Ms Nguyễn văn Công – Nghị viên, Ms Lê văn Tôi – Thủ quỹ, là Ban thường trực Ban Trị sự Tin Lành TNB và Ms Đặng văn Lục - lưu hành trong phạm vi TNB, tham dự, giới thiệu kiểm điểm Ms Nguyễn Lập Mà về các sự vi phạm, nhất là việc tự động biến doanh trại Thoại Ngọc Hầu của quân đội Ngụy quyền thành Nhà thờ Thới Bình không được phép của Nhà Nước theo thông tư 02 của UBMTTQ tỉnh, cố ý lấy nơi nầy làm cơ sở hoạt động phạm pháp.

Cuộc Hội nghị xét vì Ms Nguyễn Lập Mà không đủ tư cách làm Ms Chủ Nhiệm Ban Trị Sự TNB.

Chúng tôi, UBMTTQ Tỉnh xin thông báo từ nay không chấp nhận Ms Nguyễn Lập Mà là Chủ Nhiệm của Ban Trị Sự Tin Lành TNB trong việc quan hệ thực hiện Chánh sách Tôn giáo đối với Tin Lành cũng như mọi việc đi lại hoạt động của ông Mà trong tỉnh.

Ms Mà phải nghiêm chỉnh tiếp tục tự kiểm chuẩn bị trình bày với UBMTTQ tỉnh càng sớm càng tốt. Về vấn đề Nhà thờ Thới bình không đúng nguyên tắc, vì đó là doanh trại quân đội ngụy quyền nên chúng tôi không chấp nhận làm cơ sở hoạt động Tin Lành do ông Mà chủ trì và phải tạm ngưng họp nhóm sinh hoạt chờ quyết định của Chánh quyền địa phương.

UBMTTQ các Huyện, thành, thị, theo dõi mọi hoạt động ông Mà và những người hoạt động theo tổ chức của ông Nguyễn Lập Mà, báo cáo về UBMT Tỉnh.

Nay thông báo

Cần thơ, ngày 20 tháng 7, 1981

 

VĂN BẢN THAM KHẢO II 

MỘT SỐ SỰ THẬT CHUNG QUANH CHỨC VỤ CHỦ NHIỆM CỦA MS NGUYỄN LẬP MÀ

(Trích văn thư của Thường trực BTS Địa Hạt TNB, do Ms Huỳnh văn Liêu, Ms Lê văn Tôi, Ms Nguyễn văn Công, ký ngày 7-8-1981, phổ biến các Hội thánh. 

………. Nhìn vào tình hình trong Địa Hạt thì từ lâu:

1-      Có nhiều Hội thánh thiếu người chăn:

-          Vị thanh

-          Tân Đức.

-          Châu Khánh

-          An phú

-          Vĩnh châu

2-      Có Hội thánh không nơi nhóm lại: Núi Sập

3-      Có Hội thánh giữa Chủ tọa, Ban Trị Sự và Chấp sự không hiệp một gây nhiều khó khăn cho chức vụ chăn bầy:

-             Cần thơ

-             Sóc trăng

4-      Có nơi người chăn xin thuyên chuyển không được giải đáp:

-             Thới An Hội

-             Kiên Tân.

-             Tắc Vân

5-      Có Truyền đạo đề nghị phong chức Mục sư nhưng rồi để đó:

6-      Có nhiều Truyền Đạo, Mục sư muốn hầu việc Chúa, thậm chí có đơn xin, không được trả lời:

-             Huỳnh văn Nhứt.

-             Lê văn Nhiều

-             Nguyễn Ngọc Nhỏ

7-      Có Truyền Đạo đang đứng trên bờ vực thẳm của tội lỗi không được giúp đỡ ……. (Vĩnh châu)

8-      Có Hội thánh được xây dựng từ lâu nhưng không chủ tọa:

-             Hội thánh Thới Bình (Cái khế)

9-      Thơ ký BTS/ĐH bị giam giữ lần thứ ba: Hội thánh không có chủ tọa.

10-  Gia đình một Truyền đạo trốn vượt biên, bỏ Hội thánh ngơ ngác: Hội thánh Phong điền.

11-  Một Truyền Đạo chủ tọa phạm pháp lần thứ hai, nên không còn được phép giảng dạy nữa: Hội thánh An-Lạc-tây.

KỂ CẢ HỘI THÁNH LONG MỸ VÀ THỚI BÌNH THÌ CÓ 10 HỘI THÁNH KHÔNG CÓ CHỦ TỌA.

-           Ban Trị sự Địa Hạt, nhất là ông Chủ nhiệm hay biết tất cả việc kể trên.

-           Ban Trị Sự Tổng Liên hội cũng biết nhiều việc và nhiều việc lớn. Nhưng tại sao bình chân như vại, thở dài rồi thôi!

Câu trả lời như sau:

Từ lâu ông Chủ Nhiệm đã cảm thấy mình khó mà đi lại, không dễ dàng tiếp xúc với Ủy Ban Mặt Trận các cấp, cảm thấy văn bản ký tên Chủ Nhiệm Nguyễn Lập Mà không được xem xét và ông Chủ Nhiệm phải viết bảng kiểm điểm từ tháng 9/80 đến nay chưa xong.

Nguyên nhân gây cho công việc Chúa ở Tây Nam Bộ từ lâu bị tê liệt là ở chỗ đó.

………………………………..

I.- ĐỘC TÀI ĐỘC ĐOÁN: Một mình ông tự ý giải quyết công việc của Địa Hạt, ít khi chịu hỏi ý kiến của hai vị thường trực. Nếu có hỏi thì hỏi lấy lệ, rồi làm theo ý mình. Đặc biệt ông rất ngại gặp và bàn công việc Chúa với ông Ms Nguyễn văn Công (một trong ba vị thường trực BTS/ĐH. Nhưng lại dễ dãi với ông Ms Nguyễn văn Năm và Ms Võ văn Đê, vì ông Công hay phản đối ý kiến ông, còn hai vị kia sẵn sàng tán thành.

1.- Đối với bên ngoài: Ông bị buộc phải kiểm điểm 19 vấn đề do UB/MTTQ Hậu giang nêu ra. Kiểm điểm từ tháng 10/80 cho đến nay hơn 11 tháng rồi chưa xong.

2.- Đối với nội bộ ban thường trực và BTS/ĐH: Trong năm 1976 đã có biên bản thành lập Thường trực BTS và có phân vùng trách nhiệm. Hai vị Ms thường trực BTS/ĐH thì ở các ông Chủ nhiệm chỉ trên dưới một ngàn thước. Họa hoằn có họp thường trực thì không có biên bản, không có lệ thường kỳ họp BTS/ĐH. Tuy có phân vùng trách nhiệm nhưng khi có công việc ở vùng Sóc trăng, Chương thiện, thì ông Chủ nhiệm bàn với ông Ms Nguyễn văn Năm, còn công việc ở vùng Kiên giang là vùng của ông Ms Công, thì ông Chủ nhiệm lại bàn với ông Ms Lư Hồng Sơn (ông Sơn không có chân trong BTS/ĐH). Thấy vai trò bù nhìn của mình, ông Công đưa đơn từ chức nhiệm vụ thường trực và việc trách nhiệm vùng. BTS/ĐH không ai thuận đơn ấy, nhưng rồi việc gì cũng vẫn y như vậy. Rõ ràng nhất là việc ông Mà cử ông Ms Đê đi giải quyết công việc Hội thánh Giồng Riềng và Kiên Tân là vùng trách nhiệm của ông Công. Có lần ông Công đưa vấn đề nầy ra trong cuộc họp BTS/ĐH, thì ông Chủ nhiệm trả lời một câu rất mù mờ: “Thế thì ông (Công) còn chịu trách nhiệm vùng nữa sao ?” Ông Công trả lời: “Tôi có được BTS/ĐH cho từ chức đâu, hay là ông Chủ nhiệm toàn quyền cất chức tôi?” Việc ấy nêu ra làm cho người ta nhớ đến đơn ông Ms Tôi ngày 9/11/80 xin từ chức kiêm nhiệm Hội thánh Thới bình, ông Chủ nhiệm không đề cập đơn ấy để rồi hôm nay đổ lỗi cho ông Ms Tôi. Lấy cớ dù có đơn từ chức nhưng chưa được xét thì kể như còn trách nhiệm. Lạ lắm… Đơn từ chức toàn BTS/ĐH KHÔNG THUẬN, thì ông Chủ nhiệm tự ý mình xóa bỏ quyền hạn của người ta. Đơn khác cũng xin từ chức, ông Chủ nhiệm không xét cũng không họp thường trực xét. Để rồi cứ để các hậu quả tai hại do ông gây ra từ năm 1976 đến năm 1980 về Hội thánh Thới bình.

Hội thánh Rạch giá nằm trong vùng trách nhiệm của ông Công. Việc xảy ra tại đó, ông Mà không bàn gì với ông Công cả, thản nhiên đi đến đó giải quyết. Họp BTS/ĐH, ông Công chỉ hỏi về tình hình Hội thánh Rạch giá, ông Chủ nhiệm bảo là ông chưa nói được. Ông Công cho rằng ông có quyền hỏi vì là BTS/ĐH đồng thời là Ủy viên đặc trách vùng đó. Ông Chủ Nhiệm trả lời: “Người ta đến kêu tôi chớ không phải kêu ông, dù ông có quyền hỏi, nhưng tôi không thể nói được”.

Năm 1977, ông Chủ nhiệm đứng ra tổ chức Lễ Giáng sanh tại địa điểm Hội thánh Thới bình. Ông tuyên bố với thường trực là tổ chức với danh nghĩa BTS/ĐH, nên ông phân công cho hai vị thường trực mỗi người hướng dẫn một buổi nhóm. Khi hướng dẫn xong, ông Công trở xuống ngồi cạnh ông Chủ nhiệm, thì ông Mà mời ông Công liền đó đi họp BTS/ĐH. Ông Công thắc mắc trong lòng: “Tại sao các ông Ủy viên khác thì được mời sớm, còn riêng ông thì lại mời sát giờ ?” Thì ra câu trả lời là như vầy: Nội dung cuộc họp hôm ấy là để biểu quyết ngưng chức Thầy Truyền Đạo Lê văn Hòa, chủ tọa Hội thánh Chương thiện, mà ông Công là người hay phát biểu nhiều nhất trong các cuộc họp BTS.

Cũng trong kỳ lễ đó, ông Công có hỏi thăm về giấy phép tổ chức Lễ, ông Chủ nhiệm chìa giấy phép thì ra đứng đơn xin phép là Hội thánh Cái khế (Thới Bình hiện nay). Đơn xin có nhận dấu tròn của chi hội Cái khế. Ông Chủ nhiệm còn nói thêm là ông mướn khắc con dấu đó ở Sàigòn. Trong cuộc lễ nầy bảng đề Chi hội Hội thánh Cái khế được treo lên.

Đầu năm 1978, họp BTS/ĐH, ông Công chất vấn pháp lý thành lập Hội thánh Cái khế (nay là Hội thánh Thới Bình). Ông Chủ nhiệm hỏi lại: Phép của Giáo hội hay Chánh quyền ? Ông Công trả lời: CẢ HAI. Ông Chủ nhiệm nói Giáo quyền thì là việc nội bộ, còn Chánh quyền thì hợp pháp hóa sẽ bị ngưng hoạt động ngay. Chỉ có một phương pháp duy nhứt là bổ nhiệm ông làm chủ tọa Hội thánh đó thì mới xong thôi. Ông Công đề nghị: trong khi thầy Tô văn Út đã là thơ ký Địa Hạt thì nên sử dụng thầy chăm sóc Hội thánh nầy. Ông Chủ nhiệm đứng lên khoát tay: KHÔNG ĐƯỢC !

Gần đây sau khi giải quyết việc Hội Thánh Châu Khánh và Chương thiện không kết quả, ông Chủ nhiệm một mình quyết định cho hai thầy Tâm và Thanh vượt Hạt (Thầy Tâm về Nhị Mỹ, thầy Thanh về Thuận Mỹ) và bổ nhiệm thầy Bình về Châu Khánh, thì Chánh quyền địa phương không tiếp, vì lẽ ông Chủ nhiệm Nguyễn Lập Mà ký tên không hiệu lực.

Ông Chủ nhiệm đau nằm Bịnh viện (tháng 10/80). Thường trực BTS/ĐH có biết (không do ông bà báo tin). Khi ra Bịnh Viện, TT/BTS/ĐH kể cả ông Phó Chủ nhiệm cũng không hay biết ông Chủ nhiệm được nghỉ ba tháng, nếu không đọc tờ tin tức tháng 11, 12/1980 do TLH phát hành. Trong khi đó thì có hai hiện tượng xảy ra:

1.- Tiền thuốc ngoại của Hội Thánh thành phố Cần thơ mang tới dư giã cho ông (chính ông Chủ nhiệm nói điều đó)

2.- Trong ba tháng đó, ông Chủ nhiệm nghỉ hay làm việc nào ai hay biết ? Nghỉ thì ai đã thay ông ? Còn làm việc thì ông đã làm những gì ? Dư luận cho rằng: Ông Chủ nhiệm không dám nghỉ chánh thức, vì nghỉ là phải có người thay. Và nếu như vậy thì sẽ đúng như việc đã xảy ra trưa ngày 5/10/80 (có ông Hội Trưởng chủ trì). Việc nầy sẽ nói ở phần sau. Còn làm thì có làm được những gì ? Thôi thì nghỉ hay làm cũng thế, cho nên ông Chủ nhiệm tính cách vẹn toàn là chỉ báo cho BTS/TLH hay thôi là thượng sách. Còn BTS/TLH thì kể ông Chủ nhiệm Nguyễn Lập Mà là tất cả BTS/ĐH Tây Nam Bộ rồi.

Ông Thơ ký Địa Hạt Ms Nguyễn văn Năm bị bắt hồi tháng 3/81, ông Chủ nhiệm được báo tin, nhưng thường trực không hay biết. Ông Thơ ký Địa Hạt được trả lại tự do, ông đến gặp ông Chủ nhiệm nhưng không hề gặp hai vị thường trực và ông Chủ nhiệm cũng không thông báo cho hai vị thường trực hay.

Ông Thơ ký Địa Hạt bị bắt lại lần nầy cũng vậy. Có điều là bà Chủ nhiệm có đi Sóc-trăng để làm gì đó.

Đến Cần thơ, Cụ Hội Trưởng đã hai lần gặp Mặt Trận Tỉnh. Khi về Tp.HCM, Cụ có điện mời hai ông Chủ nhiệm và Phó Chủ nhiệm đến gặp Cụ. Ông Phó Chủ nhiệm từ Bạc Liêu lên Cần thơ bàn việc đi gặp Cụ Hội Trưởng, ông Chủ nhiệm trả lời là còn đau không đi được. Ông Phó Chủ nhiệm yêu cầu: Khi đi được, ông Chủ nhiệm báo để ông Phó Chủ nhiệm từ Bạc Liêu lên cùng đi với ông. Nhưng về sau có tin ông Chủ nhiệm một mình đi Tp. HCM.

Trong Địa Hạt, nếu có Hội thánh nào xảy ra việc gì thì Bà Chủ nhiệm có đi đến đó còn hai vị thường trực thì không được cử đi đâu.

Người ta bàn tán Mục sư Truyền Đạo chưa vào Hội thánh còn đông, nhưng sao Hội thánh Thới bình từ lâu không có chủ tọa, trong khi ông Chủ nhiệm Địa Hạt ở sát Hội thánh không quá 10 thước. Phải chăng đây là hình thức độc tài (tài năng mình hơn tất cả mọi người khác).

II. SỬ DỤNG TÀI SẢN TÀI CHÁNH ĐỊA HẠT MỘT CÁCH VÔ NGUYÊN TẮC:

1-        Quỹ Địa hạt: Cái nếp quen gởi phần mười của các chi hội đến Địa Hạt không qua thủ quỹ mà lại qua Chủ nhiệm không biết đã xuất xứ từ đâu và từ bao giờ, nhưng ở Địa Hạt Tây Nam Bộ thì diễn ra như thế nầy: Ông Chủ nhiệm nhận tiền đó không giao ngay cho thủ quỹ, mặc dầu thủ quỹ không cách xa một km. Ông Chủ nhiệm cứ chi tiêu cái đã (người ta thông cảm với việc ông Chủ nhiệm có nhiều con), nhưng vẫn cho cách là cứ giao rồi biên nhận tiền ứng trước cũng được chớ sao. Ở đây ông Chủ nhiệm làm như vầy:

-           Ông Thủ quỹ nhận được một mảnh giấy nhỏ đề ngày 19/3/81, đó là thanh toán tài chánh tháng 1/81 của ông Chủ nhiệm gởi ông Thủ quỹ có câu như vầy: Còn phụ cấp gia đình tôi và chi phí điều hành tháng 2, 3/81 chưa thanh toán xong.

-           Có hai văn bản thanh toán tài chánh của ông Chủ nhiệm: cái thì đề ngày 12/10/76, cái khác đề ngày 14/9/77. Giá trị tiền mặt là 1.592 đồng.

Ở đây có ba vấn đề:

a)      Bán cái gì để có món tiền đó thì có bàn với thường trực, nhưng bán rồi thì ông Chủ nhiệm không giao tiền cho ông Thủø quỹ.

b)      Chi tiêu vào việc gì ông Chủ nhiệm không bàn với thường trực chúng ta. Chi xong ông làm bản thanh toán với Thủ quỹ là như vậy. Cả hai cách sử dụng tài chánh, ông Chủ nhiệm đã biến ông Thù quỹ thành người thơ ký chép sổ mà thôi.

2-        Tài Sản Địa Hạt: Ông Chủ nhiệm tự ý phá cây vạt bằng thao lao của hơn một trăm cái gường sắt để trang bị cho nhà thờ Thới Bình (Hội thánh được dựng lên không được BTS/ ĐH đồng ý) cho nên hiện nay số giường đó không còn vạt.

Ông Chủ nhiệm phá toàn bộ lều truyền giảng lộ thiên để làm gì chưa biết rõ. Mấy năm trước trong cuộc họp BTS/ĐH, ông Ms Công có nêu một gương thiếu sót như vậy nên phải xin lỗi trước Hội Đồng TLH để khuyên ông Chủ nhiệm Nguyễn Lập Mà, nhưng đến tháng 3/81, ông Chủ nhiệm vẫn giữ y nếp cũ.

III. ĐỐI VỚI BẠN ĐỒNG LAO TÌNH CẢM ÔNG CHỦ NHIỆM NHƯ THẾ NÀO?

Truyền Đạo Đoàn Duy Xuân bị giam giữ ở Phụng Hiệp, nhiều người khuyên ông nên can thiệp. Ông đến Hội thánh ngày Chúa nhật hỏi thăm qua loa sự việc rồi trở về cơ quan Địa Hạt điềm nhiên tọa thị.

Hội thánh Tân Đức, Giồng Riềng, Cần thơ, Sóc trăng, Vĩnh châu, nơi thì có sự chia rẽ sâu sắc trong nội bộ gây khó khăn lớn lao cho vị chủ tọa, nơi thì chủ tọa sắp phạm tội. Riêng Hội thánh Cần thơ xa ông không đầy một cây số, nhưng ông cứ điềm nhiên vì làm Chủ nhiệm cho đến ngày họp Hội Đồng Địa Hạt mà không ai biết chắc ngày nào có thể họp Hội Đồng Địa Hạt được. Còn 10 Hội thánh không chủ tọa thì sống chết mặc kệ.

IV. ÔNG CHỦ NHIỆM LÀM CỚ, LÀM CHỖ DỰA HOẶC CHỦ ĐỘNG VÀ RẤT THÍCH VỚI MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG PHÁ ĐIỀU LỆ, PHÁ TỔ CHỨC:

-            Ông Bù Thế Thượng đang là Thơ ký Hội thánh An nghiệp (nay là An phú), bất bình với Ms Nguyễn Hữu Vinh, nên bỏ nhóm ở An nghiệp. Sẵn có Hội thánh Cái khế (Thới bình hiện nay), ông đến nhóm ở đây. Ông Chủ nhiệm không hề khuyên giải một lời lại rất hài lòng. Ông chủ tọa Hội Đồng bầu cử ông Thượng vào nhiệm vụ thơ ký Hội thánh Cái khế trong khi ông Thượng chưa có giấy qua Hội.

-           Bà Tăng Sanh vì gần gũi nên nhóm ở Hội thánh Cái khế bỏ Hội thánh Cần thơ không hề có giấy qua Hội vẫn đắc cử Tư hóa Hội thánh. Chưa kể đến cô Hoa, thầy Thái Công Tây trở thành Ban Trị sự Chấp sự Hội thánh Thới Bình (Hội thánh mà ông Mà sáng lập không cần chủ tọa vì cách ông Chủ nhiệm không quá 10 thước). Hai người nầy cũng không có giấy qua Hội.

-           Thầy Lê văn Nhiều được Hội thánh An nghiệp cử mời chủ tọa hai năm không được ông Chủ nhiệm bổ nhiệm. Thầy ngã lòng nên xin từ chức. Như vậy, ở Cần thơ có hai Hội thánh không chủ tọa (Thới Bình và An Nghiệp).

-           Rồi lại có sự kiện ở Cần thơ có nhiều Chấp sự được tham gia giảng Tin Lành cho người chưa biết Chúa. BTS Hội thánh không chủ tọa nầy thu hút các giảng viên đó vào giảng cho tín đồ ngày Chúa nhật. Điều đó làm ông Chú nhiệm hứng thú, vì như thế Hội thánh Thới Bình mới đứng vững được. Ông Chủ nhiệm nói với nhiều người: “Thời kỳ nầy Hội thánh không cần chủ tọa càng được phước. Tín đồ giảng còn hay hơn, tốt hơn Mục sư Truyền Đạo”.

Ông Chủ nhiệm tán thành nếu không nói là ông chủ động giao chương trình giảng dạy ngày Chúa nhật ở Hội thánh Thới bình hằng quý hằng năm cho số tín đồ, Chấp sự, kiêm giảng dạy nầy sắp đặt.

Có mấy tác hại xảy ra:

1)      Chín (09) chức viên Ban Trị sự Hội thánh Cần thơ họp lại ngày 23/11/81 đòi hạn chế quyền giảng dạy của ông Mục sư Cần thơ (một tháng chỉ một lần). Sau đó số đông khác lại đòi ông Mục sư Cần thơ phải tổ chức Hội Đồng lưu mời Mục sư vì ông hầu việc Chúa ở Cần thơ hơn 11 năm rồi. Khi có một chức viên khác khuyên can không nên làm như vậy rằng Hội thánh sẽ không còn chủ tọa. Ông Thơ ký Hội thánh Cần thơ nói: “Hội thánh không còn chủ tọa cũng được phước vì Chúa còn sống mà”.

2)      Kế đó, sáu (06) vị trong Ban Trị sự Chấp sự Hội thánh Cần thơ bất bình với ông Chủ tọa Hội thánh mình và để làm áp lực cho một số yêu sách trái điều lệ nên đã bỏ Hội thánh Cần thơ sang nhóm ở hai Hội thánh không chủ tọa nói trên vì vừa có chỗ nhóm vừa có giá trị đứng lên giảng lời Chúa cho Hội thánh An phú, không cần giấy qua Hội nhập Hội. Ông Chủ nhiệm biết tất cả các việc nầy. Ông Chủ nhiệm cứ còn là Chủ nhiệm thì điều lệ cũng nên xé bỏ.

3)      Thanh niên Hội thánh Sóc trăng thấm nhuần lập luận “Hội thánh không cần chủ tọa”, nên đã nhóm riêng, đánh Chấp sự, rượt Mục sư. bây giờ thì chủ tọa bị bắt giữ. Hội thánh Sóc trăng sẽ ra sao?

4)      Biên bản của BTS/ĐH họp ngày 20/8/80 giao cho ông Ms Tôi thường trực BTS/ĐH kiêm nhiệm Hội thánh Thới Bình. Lúc bấy giờ phân công giảng dạy ngày Chúa nhật ở Hội thánh nầy đã xây dựng rồi cho đến cuối tháng 10/80 (như nói ở phần trên). Ông Mục sư Tôi ngại nếu xóa bỏ chương trình ấy sẽ sanh xáo trộn gây thắc mắc cho đội ngũ “thầy giảng” nầy, nên mỗi sáng Chúa nhật, ông có cử thầy Truyền đạo phụ tá Trần Hoàng Nam luôn nhóm với Hội thánh Thới Bình.

Trước ngày 9/11/80, thầy Phạm Quang Minh (theo chương trình ấn định sẽ giảng dạy buổi sáng Chúa nhật nầy) lại bận việc không giảng được và đã báo điều đó với thầy Trần Hoàng Nam. Thầy Nam báo với ông Ms Tôi. Ông Ms Tôi cử người khác đến thay cho thầy Minh. Thế mà BTS Hội thánh Thới bình và ông Chủ nhiệm đồng ý. Khi người của ông Tôi đến thì trên bảng đen đã ghi chữ trắng về sách, đoạn, câu Kinh thánh mà ông Chủ nhiệm sẽ giảng. Khi lên toà giảng, không hiểu vì sao ông Chủ nhiệm lại hỏi ông Tôi có cử ai đến không. Hỏi làm gì? Người được ông Ms Tôi cử đến giơ tay lên tiếng. Ông Chủ nhiệm bước xuống tòa giảng và bảo là giao việc ấy cho BTS quyết định.

Sao lại BTS quyết định? Thế rồi ông lại trở lên và giảng như không có việc gì xảy ra. Vậy mà bây giờ BTS Hội thánh Thới Bình viết văn bản chính thức bảo là ông Ms Tôi là Chủ tọa Hội thánh Thới Bình theo Biên bản của Địa Hạt, nên ông Tôi phải chịu tất cả hậu quả của Hội thánh nầy. Ông Chủ nhiệm cũng đồng ý  như vậy.

Người ta suy nghĩ ông Chủ nhiệm coi trọng quyền kiêm nhiệm chủ tọa của ông Ms Tôi như vậy đó sao!!? BTS do ông Chủ nhiệm lập lên ở Hội thánh Thới Bình công nhận ông Ms Tôi là chủ tọa Hội thánh Thới Bình như vậy sao?

V. ÔNG CHÚ NHIỆM TÂY NAM BỘ NÓI VÀ LÀM KHÔNG GIỐNG NHAU:

Trưa ngày 5/10/80, ngày Bồi linh ở Địa Hạt Tây Nam Bộ, Cụ Hội Trưởng triệu tập cuộc họp BTS/ĐH/TNB để giải quyết trường hợp ông Chủ nhiệm Tây Nam Bộ. Cuộc họp đi đến quyết định là ông Chủ nhiệm Nguyễn Lập Mà phải từ chức chủ nhiệm. Ông Mà đồng ý và phát biểu nói lên tinh thần phục thiện vui vẻ chấp hành quyết định của cuộc họp có Cụ Hội Trưởng chủ tọa. Lời tuyên bố từ chức chủ nhiệm của ông Mục sư Nguyễn Lập Mà do Cụ Hội Trưởng gợi ý, ông Ms Nguyễn văn Năm, Thơ ký Địa hạt ghi và giao cho ông Chủ nhiệm đánh máy để đọc vào lúc Bế mạc cuộc Bồi linh. Đến giờ bế mạc, Cụ Hội Trưởng vắng mặt, ông Chủ nhiệm không đọc lời từ chức đã viết sẵn hồi trưa mà tuyên bố rằng ông mong đến Hội Đồng Địa hạt để từ chức. Từ đó bao nhiêu việc rối rắm xảy ra thêm trong Địa Hạt Tây Nam Bộ như đã nói trên.

………………………………………..

SAO Y BẢN CHÁNH ĐỂ PHỔ BIẾN CÁC HỘI THÁNH

T.M. Ban Thường trực BTS.ĐH
 

PHỤ CHÚ:

(1)- Hội thánh do MSCN mở không có biểu quyết nào của BTS/ĐH, mà cũng không xin phép Chánh quyền. Theo nguyên tắc phải có phép của Chánh quyền rồi Hội thánh mới được hoạt động. mãi đến nay cũng không có quyết định cho phép mở Hội thánh, song ông Chú nhiệm cứ cho là đã có sẵn từ trước. Mặc dầu ông Mục sư nguyên Chủ nhiệm Đặng văn Lục cố gắng trình bày sự thật: mở Hội thánh như thế là không hợp pháp và đã vi phạm luật lệ hiện hành của Nhà Nước.

(2)- Việc thay đổi người từ tỉnh nầy sang tỉnh khác phải thông qua MTTQVN tỉnh và Chánh quyền địa phương nơi đi cùng đến chấp thuận, theo Nghị quyết 297/CP, thì việc thay đổi nầy mới được thực hiện. Ở đây, MSCN không làm như vậy đối với Chánh quyền.

(3)- Phải lẽ là khi ông Ms Năm bị bắt, thì ông Chủ nhiệm phải khai báo cho MT và Chánh quyền, MSCN vẫn yên lặng.

(4)- Kỳ đi nầy ông không xin phép chánh thức: Đi liên hệ với Cụ Hội Trưởng về vấn đề Địa hạt.

(5)- Ông Bà Tăng Sanh đã vượt biên mà Ms Chủ nhiệm đến nay vẫn chưa báo cáo cho Chánh quyền và Mặt Trận.

(6) Ông Chủ nhiệm đã tự ý bầu BTS trái với Nghị quyết 297/CP

(7)- Sự kiện trên cũng trái với Nghị quyết 297/CP và thông cáo tháng 5 của TLH về vấn đề giảng đạo.

(8) Sở dĩ ông Ms Tôi nhận chủ tọa Nhà thờ Thới Bình, nhằm mục đích hợp thức hóa đúng pháp lý Nhà Nước về việc thành lập Nhà thờ, cũng theo chỉ thị của Cụ Hội trưởng, trên hai phương diện Giáo quyền và Chánh quyền. Nhưng ông MSCN Mà đã ngầm sách động cho Ban Trị sự nầy chống đối Ms Tôi. Do đó, ông Ms Tôi có đơn giao trả quyền chủ tọa lại cho Ban Trị Sự Địa Hạt.

 

VÂN BẢN THAM KHẢO

Thư của Ms Lê văn Tôi gởi Ms Chánh, Phó Hội Trưởng

Cần thơ, ngày 31 tháng 8 năm 1981

KÍNH GỞI:  Hai Cụ Chánh, Phó Hội Trưởng

Hội thánh Tin Lành Việt-nam.

Thưa Hai Cụ,

Chúng tôi đã nhận được đầy đủ cả 3 bức diện tín đánh đi từ TP.HCM. Cái thứ I lúc 2 giờ chiều ngày 24 tháng 8 năm 1981, cái thứ II lúc 7 giờ 30 sáng ngày 26-8-81, và cái thứ III vào lús 8 giờ sáng ngày 28-8-81. Nội dung bức thứ I không đồng ý và ngăn chận không cho họp; nội dung bức thứ II không ngăn trở cuộc họp (sau khi Cụ điện đàm với Ms Công); bức thứ III nội dung không chịu trách nhiệm về việc của chúng tôi (cũng hàm ý không thừa nhận thẩm quyền của các ông ấy trong BTS/ĐH – chúng tôi cũng không hiểu Cụ nói đến cuộc họp nào?)

Ngày 25/8/81, tôi có nhận được một bức thư của Cụ Phó Hội Trưởng với lời giáo huấn là phải làm gương tốt cho đàn hậu tấn, và có tuổi phải suy xét việc mình làm, phải tôn ti trật tự… Tôi trộm nghĩ rằng thật mình có tuổi rồi mà còn “dại” nên mới đưa lưng ngữa cổ ra gánh vác công việc của Địa Hạt từ mấy năm nay để bị rủa sả, chụp mũ, bị kể là phá hoại, là ma quỉ, là quốc doanh, là lường thầy phản bạn, là tiếm vị tham lam, là ganh tị, là trình độ đạo đức không theo kịp tín đồ, là sắp bị cách chức, sắp bị đuổi… (như điều ông Ms Mà đã thưa với MTTQ/HG trong phiên họp mở rộng của Mặt Trận gồm có Mặt Trận các cấp Chánh quyền và Công An, Ban Thường trực BTS/ĐH  Tây Nam Bộ và một số MSTĐ trong tỉnh HG ngày 11 tháng 8 năm 1981). Chúng tôi trở nên “dại dột” là vì ai? Và tại sao? Điều đó Chúa biết. Chúng tôi cứ phó mình cho Chúa vinh hiển và tôn quí, là Đấng xét chúng tôi là ngay thẳng và trung thành với Ngài.

Thưa Hai Cụ,

Kể từ ngày công việc ĐH Tây Nam Bộ thấu đến tai mắt Hai Cụ, có bao giờ Hai Cụ chịu khó lắng nghe ý kiến của chúng tôi đâu. Có khi nào Hai Cụ tìm hiểu cặn kẻ sự việc đâu. Hai Cụ đã nghe thật nhiều (nhiều hơn những điều đã thật diễn ra) về những gì đã xảy ra tại đây mà không thấy được, không hiểu được bản chất của những sự việc ấy. Vì lẽ ấy mà Hai Cụ có những quyết đoán sai lầm  và những hành động vội vàng không phù hợp và vô cùng tai hại.

Chúng tôi xin kính trình bày để Hai Cụ được rõ cuộc họp vừa qua là do MTTQ/HG tổ chức và chỉ họp trong tỉnh mà thôi. Vì Mặt Trận nhận thấy một số MSTĐ và một số tín hữu trong tỉnh không chấp hành đúng Nghị quyết 297/CP, nên đã tổ chức cuộc họp nói trên; Mặt Trận không nắm vững danh sách MSTĐ (theo điều họ trình bày) nên họ đã thảo luận với chúng tôi và yêu cầu chúng tôi hợp tác với họ trong việc tổ chức bằng cách với danh nghĩa Ban Thường trực BTS/ĐH Tây Nam Bộ đứng ra mời họp. Hai chúng tôi (Tôi, Công) cơm còn không đủ ăn, Địa Hạt thì tiền bạc tập trung vào ông Chủ nhiệm tất cả. Thủ Quỹ có đồng xu nào đâu để tổ với chức Hội Đồng Địa Hạt như điều Hai Cụ được báo cáo. Bức điện tín thứ I, Cụ lấy quyền Hội Trưởng ngăn trở không cho họp, lại phán quyết rằng chúng tôi vi phạm điều lệ của Hội thánh và Nghị quyết 297/CP. Chúng tôi xét thấy chúng tôi không vi phạm Điều lệ cũng như Nghị quyết của Hội Đồng Chánh phủ như trong bức điện thứ I Cụ đã đánh xuống cho chúng tôi. Chúng tôi đã làm một việc: Nhơn cuộc họp nầy trình bày với những ai muốn nghe muốn hiểu một số vấn đề của Địa Hạt và chức vụ Chủ nhiệm của Ms Mà để Hội thánh có thể am hiểu được phần nào công việc của Địa hạt và của ông Chủ nhiệm. Thế mà chúng tôi bị chụp mũ là phản loạn, là ma quỉ, là phá hoại, là không suy nghĩ. Kết luận như thế có vỏ đoán không? Có chủ quan không? Có đúng đắn không?

Về mấy bức điện tín Cụ Hội trưởng đã gởi gây nhiều điều không hay cho Hội thánh chung và cho Tổng Liên Hội. Bức thứ I Cụ đã lấy quyền Hội Trưởng không đồng ý và cuộc họp nói trên. Cụ đã gởi bức điện tín ấy đến ông Chủ nhiệm với mấy chữ “ĐỂ  TƯỜNG HÀNH”. Ông Chủ nhiệm đã thừa hành lịnh của Cụ và sao bức điện tín ấy sai người mang tay đến các Hội thánh trong tỉnh đồng thời ông cũng sao ra và gởi cho Mặt Trận Tỉnh. Trong lúc đó một số con cái Chúa vì quá sốt sắng hay do chỉ thị của ông Chủ nhiệm đứng chận các ngả đường trong thành phố nhằm ngăn trở các đại biểu đến dự cuộc họp nói trên. Mặt Trận khi nhận được bản sao bức điện tín của Cụ với nội dung và chỉ thị của Cụ như thế cộng với việc làm vô ý thức của một số con cái Chúa, họ đã đưa ra nhận xét (và cũng là kết luận của họ): Tổng Liên Hội đã chỉ thị và sách động ông Mà chống lại Cách Mạng, chống lại Nhà Nước Xã hội Chủ nghĩa. Việc làm vội vàng ấy đã gây khó khăn càng hơn cho ông Chủ nhiệm, cho Tổng Liên Hội, cho công việc Chúa chung. Bức điện tín thứ II có thể nào xóa đi cái kết luận không hay ấy trong Mặt Trận không? Tiếc rằng phải chi Cụ dùng số tiền để đánh đi mấy bức điện tín ấy sai một người mà Cụ có thể tin cậy được đến đây để tìm iểu công việc và mang theo các chỉ thị cần thiết của Cụ thì quí biết bao.

Còn bức điện thứ III, Cụ nói rằng Cụ không chịu trách nhiệm về việc làm của chúng tôi. Chúng tôi đã làm gì và Hai Cụ đã nghe báo cáo thế nào, chúng tôi nào có biết đâu. Trong tình thế vô cùng cấp bách, chúng tôi đã chờ đợi từ 2 năm rồi mà không có một giải quyết cụ thể nào của BTS/TLH, nên chúng tôi là Giu-đa phản bội Chúa, dâng nộp Hội thánh như điều người ta đã báo cáo. Nếu chúng tôi phá hoại công việc của Đức Chúa Trời, chúng tôi chịu trách nhiệm, chứ Hai Cụ có chịu đâu? Chúng tôi đã nhận chịu những cái tát tay oan ức trong tủi nhục từ nơi BTS/TLH thay vì một sự tìm hiểu vô tư, chân tình. Đáng tiếc biết bao! Chúng tôi còn đứng trong chức vụ nầy, còn đưa vai ra gánh vác công việc cùng trách nhiệm với muôn vàn cay đắng, tủi nhục, nhuốc nha, không vì danh, vì lợi, vì ganh tị, vì miếng cơm manh áo, như Cụ Phó Hội Trưởng đã nghĩ trong bức thư ông đã viết cho tôi năm 1979. Hai Cụ muốn loại bỏ chúng tôi như loại bỏ đồ ôn dịch thì đó là quyền của Hai Cụ, và chúng tôi đang sẵn sàng đón nhận. Chúng tôi thật đã ngã lòng rồi, và giờ đây cố kiên nhẫn, chịu đựng, câm nín một lần nữa để chờ đợi sự quyết định cụ thể của BTS/TLH. Chúng tôi chỉ xin Hai Cụ và BTS/TLH nhìn vào thực trạng của BTS Tây Nam Bộ từ khi ông Ms Mà đảm đương chức vụ đến nay: bao nhiêu Hội thánh gặp khó khăn mà không được giúp đỡ và giải quyết, bao nhiêu tôi tớ Chúa không có nhiệm sở mà không được bổ chức, bao nhiêu Truyền đạo chưa được tấn phong, bao nhiêu Hội thánh mà bây giờ không có chủ tọa; ông Phó Chủ nhiệm Liêu đã từ chức, ông Chủ nhiệm Mà bị quản thúc tại gia và sẽ bị truy tố trước pháp luật, ông Thơ ký Năm bị giam giữ không biết bao giờ mới được tha ra và chỉ còn lại hai chúng tôi đứng ra đảm đương công việc khó nhọc của Địa Hạt. Chúng tôi cần được sự nâng đỡ và hiểu biết thông cảm của BTS/TLH nhiều hơn. Chúng tôi khẩn thiết xin Hai Cụ hãy suy xét đến những sai sót của ông Chủ nhiệm đối với Hội thánh và với Chánh quyền trong khi ông thi hành chức vụ Chủ nhiệm mà Hội Đồng đã trao phó cho ông. Xin Quí Cụ thẳng thắn nhìn vào sự thật và can đảm nhận lấy trách nhiệm. Hai Cụ đã trút đổ trách nhiệm về công việc Chúa trên chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy mình không đủ sức để nhận lãnh trách nhiệm ấy.

Thưa Hai Cụ,

Hầu việc Chúa trong lúc nầy mà không nhận được một lời an ủi nào, một sự chia sẻ cảm thông nào từ BTS/TLH, từ Hội thánh chung lẫn Hội thánh địa phương, chỉ toàn là những lời thóa mạ, lên án, rủa sả, còn ai đủ can đảm đứng ra gánh vác công việc nữa? Trong khi chúng tôi đứng ra chấp nhận tất cả mọi cay đắng sỉ nhục để lo liệu công việc Chúa. Trong khi tiếng nói của chúng tôi còn được Chánh quyền và Mặt trận coi trọng, đồng thời họ đồng ý chấp nhận chúng tôi thay mặt Địa Hạt giải quyết công việc trong Hạt, và họ sẵn sàng giúp đỡ, thì chúng tôi nhận được những mỉa mai và hiểu lầm của BTS/TLH, và sự ngăn trở bởi những việc làm vội vàng không phù hợp của Hai Cụ. Các bức điện tín ấy làm chúng tôi không thể nào tiếp tục công việc có ích và cần thiết cho Hội thánh xét theo tình cảnh hiện tại. Chính Hai Cụ và BTS Tổng Liên Hội chịu trách nhiệm về hậu quả không hay xảy ra từ khi ông Chủ nhiệm Mà thừa hành lịnh Cụ sao các bức điện tín ấy gởi đi, chứ không phải chúng tôi chịu trách nhiệm đâu. Sự rạn nứt đổ vỡ càng lớn thêm, sự nguy hại càng to thêm không phải do chúng tôi gây ra mà là do ông Chủ nhiệm và việc làm vội vàng thiếu cân nhắc, thiếu tìm hiểu của Hai Cụ và BTS/TLH.

………………………………………….Nay kính

Lê văn Tôi

 

ĐIỆN TÍN I

KHẨN

Kính gởi: Ms HUỲNH VĂN LIÊU,

Phó Chủ nhiệm Địa Hạt Tây Nam Bộ

87 Xô-Viết Nghệ-Tĩnh

Tp. Cần thơ.

Văn phòng thường trực Tổng Liên Hội chúng tôi vừa nhận được văn thư số 449/ĐH/TNB của Chủ nhiệm Ms Nguyễn Lập Mà báo cáo Ms Lê văn Tôi và Ms Nguyễn văn Công thừa ủy nhiệm của Ms Phó Chủ nhiệm triệu tập các Mục sư Truyền đạo và Đại biểu các Hội thánh Địa hạt Tây Nam Bộ họp lại ngày 25 và 26 tháng 8 năm 1981 để nghe Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh hậu Giang báo cáo về Nghị quyết 297/CP, về tình hình nhiệm vụ mới và về chức vụ Chủ nhiệm Ms Nguyễn Lập Mà. Chúng tôi nhận thấy sự triệu tập cuộc hội họp nầy trái với Điều lệ hiện hành của Hội thánh Tin Lành Việt-nam, vì hiện tình Chủ nhiệm Ms Nguyễn Lập Mà đương tại chức. Hơn thế nữa cuộc họp MSTĐ và Đại biểu trong Hội thánh gồm cả 4 tỉnh thì phải được phép của Thủ Tướng Chánh phủ. Vì những lẽ đó chúng tôi xin các quí vị hoản cuộc họp nói trên để giữ đúng tinh thần Nghị quyết 297/CP và hiệp với Điều lệ Hội thánh Tin Lành Việt-nam đồng thời cũng đợi kết quả thơ khiếu nại của Ms Nguyễn Lập Mà. Văn phòng Thường trực Tổng Liên Hội chúng tôi không đồng ý cuộc triệu tập cuộc họp nói trên và hoàn toàn không chịu trách nhiệm về mọi hậu quả cuộc họp ấy.

Hội Trưởng Ms ÔNG VĂN HUYÊN – Khán

 

Bức II

Kính gởi: Ban Trị Sự Tây Nam Bộ

87 Xô-Viết Nghệ-tĩnh – Cần thơ

Để làm sáng tỏ thêm ý chúng tôi trong cuộc điện đàm với Ms Nguyễn văn Công, Nghị viên Quí Ban Trị Sự vào lúc gần 18 giờ ngày 24/8/81. Chúng tôi nhận thấy chúng tôi không có quyền cũng như không thể ngăn trở việc Mặt Trận Tổ Quốc tỉnh Hậu Giang triệu tập MSTĐ nội trong tỉnh họp lại để học thêm Nghị quyết 297/CP và nhiệm vụ mới và tình hình mới.

Hội Trưởng Ms ÔNG VĂN HUYÊN
 

Bức III

KHẨN

Kính gởi: Ms LÊ VĂN TÔI

Tư hóa Địa Hạt Tây Nam Bộ

87 XVNT Cần thơ

Xin Ông tỏ lại với các ông chủ trương cuộc họp tại Hội thánh Cần thơ hiện nay là không được phép bàn và quyết định về công việc liên hệ đến chức vụ của các nhân viên trong Quí Ban Trị sự và việc chung của toàn Hạt và là thẩm quyền của Hội Đồng toàn Địa Hạt. Nếu thảo luận quyết định đến công việc ngoài thẩm quyền thì thảy đều vô hiệu. Tổng Liên hội không chấp thuận và hoàn toàn không chịu trách nhiệm về mọi hậu quả cuộc họp như vậy. Câu Chúa ở với quí ông.

Hội Trưởng Ms ÔNG VĂN HUYÊN

VĂN BẢN THAM KHẢO

HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM

         ĐỊA HẠT TÂY NAM BỘ………………………………

số: 486/ĐH/TNB

Kính gởi: Ông Chủ tọa và Ban Trị Sự cùng con cái Chúa

Hội thánh Chúa tại …………….

Thưa Quí vị,

Ha-lê-lu-gia! Ha-lê-lu-gia! Ha-lê-lu-gia! Amen!

Ngợi khen Đức Chúa Trời của Mạc Đô Chê, của Ê-xơ-tê là Đấng Hằng sống đang tể trị và ở giữa Hội thánh Ngài.

Bởi tình thương và quyền năng Chúa qua sự cầu nguyện và sự cứu xét sáng suốt của Đảng, do sự soi sáng và cảm động của Ngài mà phép lạ của Ngài được tỏ ra..

Hẳn quí vị hoặc có nhận được, hoặc nghe nói lại là MTTQ tỉnh HG đã phổ biến THÔNG BÁO do ông Nguyễn Thanh Long ký nhằm không chấp nhận chức Chủ nhiệm ĐH của tôi và tạm ngưng họp nhóm tại Nhà thờ Thới Bình. Nhưng bởi tình thương và quyền năng Chúa đáp lại tiếng kêu cầu khẩn thiết của tôi con trung thành của Chúa khắp nơi mà phép lạ của Ngài được tỏ ra:

Vào chiều thứ bảy 01/8/81, chính ông Tư Cương (Huỳnh Cương), Chủ Tịch MTTQ tỉnh HG cũng là Phó Chủ Tịch Quốc hội và ông Năm Bình (Hà Thái Bình), Phó Bí thư Tỉnh HG xác nhận trước mặt tôi (tại nhà ông Tư Cương) và ông Thơ ký Hội thánh Thời Bình; và riêng tôi (tại nhà ông Năm Bình) rằng:

Tỉnh Đảng bộ trưa hôm thứ bảy 01/8/81 đã họp suốt hai tiếng đồng hồ để giải quyết về THÔNG BÁO của MT tỉnh do ông Tư Long ký đã gởi đi, cuối cùng đi đến quyết định: THU HỒI RÚT LẠI. Thế là chức vụ của tôi ở giữa Địa Hạt Chúa còn thương xót giữ gìn, Nhà thờ Thới Bình từ năm 1976 kể từ lúc tái tục đến nay là tối Chúa nhật 2/8/81, vẫn cứ sinh hoạt liên tục.

Có dịp (rất ước ao có dịp) gặp trực tiếp quí vị sẽ nói rõ hơn thì thỏa lòng hơn.

Đảng đã biết được những thành phần tố giác tôi là hạng người nào rồi, cũng như tất cả con cái Chúa tại Tp.Cần thơ đều biết. Vậy chúng ta tha thiết cầu nguyện xin Chúa cáo trách các ông mang danh là tôi tớ con cái Chúa ấy sơm ăn năn để được Ngài tha thứ.

Tạ ơn Chúa, vì có thử thách đến mới có cơ hội phân biệt được đâu là cỏ lùng, đâu là lúa mì, đâu là chiên đâu là dê, đâu là người chăn thật đâu là người chăn thuê.

Tp.Cần thơ, 3/9/81

Chủ nhiệm Địa Hạt

Mục sư Nguyễn Lập Mà

 

VĂN BẢN THAM KHẢO 

ỦY BAN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt-nam

Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc
 

QUYẾT ĐỊNH BUỘC CƯ TRÚ

-Căn cứ Quyết định số 139/CP ngày 14-8-78 của HĐCP

-Căn cứ điều 1, 2 về qui định đối tượng buộc cư trú trong quyết định số 123/CP ngày 8-7-1968

-Căn cứ Quyết định công nhận UBND TP Cần thơ ngày 17-7-1979

-Căn cứ cuộc họp của Chánh quyền đoàn thể Mặt Trận và Nhân dân lao động Phường Thới bình ngày 10-10-1981 đã nêu hành vi của Ms Nguyễn Lập Mà.

1.        Nguyễn Lập Mà đã bao che cho tên Phan Tần, Chủ tịch Mặt Trận Việt Tiến lấy nhà giảng số 87 đường XVNT Phường An cư, Tp.Cần thơ làm địa điểm hội họp chống lại chế độ XHCN.

2.        Tàng trữ sách báo có nội dung chống lại chế độ XHCN trong thư viện số 57 đường Nguyễn Trãi, Phường Thới bình, Cần thơ, đã được Chánh quyền Cách Mạng phát hiện và đã kiểm kê ngày 20-12-1980.

3.        Điều động thuyên chuyển Ms không xin phép Chánh quyền Cách Mạng địa phương (Sieng Âng).

Xét đề nghị của UBND và Công An Phường Thới bình, Tp.Cần thơ. Sau khi đã nghiên cứu và thảo luận kỹ với các cơ quan Nhà Nước có liên quan.

Nay quyết định

Điều 1: Buộc Ms Nguyễn Lập Mà (cùng gia đình vợ con) rời khỏi số 57 Nguyễn Trãi, Phường Thới Bình – không được cư trú trong Tp.Cần thơ trong vòng 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định. Nguyễn Lập Mà phải chọn địa điểm mới, báo cáo UBND và Công An Tp.Cần thơ để xem xét quyết định, đồng thời tạo điều kiện cho Nguyễn Lập Mà làm ăn sinh sống. Nguyễn Lập Mà đến địa phương mới sẽ được hưởng những quyền lợi của người công dân theo qui định của luật pháp tại nơi cư trú mới. Chánh quyền địa phương tại nơi Nguyễn Lập Mà đến sẽ qui định cụ thể.

Điều 2: Ông Chánh Văn phòng UBND, Công An Tp.Cần thơ, UBND và Công An Phường Thới Bình, ông Nguyễn Lập mà chiếu quyết định thi hành.

Quyết định nầy có hiệu lực kể từ ngày ký.

Ngày 21-4-1982

UBND Tp.Cần thơ

CHỦ TỊCH: Trần Văn Kim 

Sau quyết định nầy, một đêm không báo trước, Chánh quyền đã cho xe đến chở toàn bộ gia quyến của Ms Mà rời khỏi Trụ sở Địa Hạt, đưa vào Long Mỹ nơi một căn nhà đã được Chánh quyền chuẩn bị sẵn. Nhưng sau đó, Ms Mà tự dời ra ở tại Nhà thờ Long Mỹ.
 

Biến cố ngày 31-11-1982.

Theo lời Mục sư Nguyễn Hữu Cương, chủ tọa Hội thánh tại An-đông, thì sau ngày 30-4-1975, vì Trụ sở của Hội Truyền giảng Phúc Âm (trước là Hội Truyền Tin Lành cho Mỗi Gia đình – CTG) của TĐ Đoàn Trung Tín ở đường Nguyễn văn Trương – Gia định đã bị tiếp thu, nên Mục sư Đoàn văn Miêng can thiệp với Hội thánh tại An Đông cho TĐ Đoàn Trung Tín về trú ngụ trong khuôn viên. Năm 1980, TĐ Đoàn Trung Tín đã dựng lại chương trình Kinh thánh Hàm thụ kết quả tốt. Lúc đầu âm thầm làm việc, về sau ngày càng công khai nơi cơ sở Hội thánh An Đông. Ms Cương nói rằng ông đã ba lần nhắc TĐ Tín nên để cho các Hội thánh tự quản chương trình Hàm thụ, thay vì tập trung về cơ sở An Đông, nhưng không được đáp ứng, nên Ms Cương yên lặng để khỏi mang tiếng làm trở ngại công việc.

Ngày 3-11-1982, với ý định muốn họp mặt gia đình Hàm thụ toàn quốc (Miền Nam), TĐ Tín gởi thư mời Đại điện gia đình Hàm thụ các nơi về dự họp mặt tại Nhà thờ An Đông (Ms Cương nói rằng ông không biết việc nầy). Việc tổ chức qui mô đến tai Chánh quyền. Kết quả là một cuộc vây bắt xảy ra vào chiều ngày khai mạc, lập biên bản tịch thu toàn bộ máy móc phương tiện như máy đánh chữ, máy ronéo, bài học… Biến cố nầy đưa đến sự khó khăn cho Hội thánh tại An Đông. Chánh quyền buộc Ms Cương chịu trách nhiệm vì là chủ tọa Hội thánh, ra lịnh cho Ms Cương đăng ký chương trình sinh hoạt của Hội thánh, sau nhiều lần kêu Ms Cương lên cơ quan Công An để thẩm vấn. Sự khó khăn được đánh dấu ngay mùa Giáng sanh 1982, không một MSTĐ diễn giả nào được đến giảng. Sự theo dõi đó đến ngày 8-1-1983, đang lúc các anh chị em Học sinh Sinh viên đang nhóm, Ms Trần Thái Sơn đang giảng, thì Công An đã đến ngồi chờ ở phòng ngoài. Sau khi buổi nhóm kết thúc, Công An đã lập biên bản cáo buộc Ms Cương và Ms Sơn tội tổ chức Sinh viên.

Sự việc tạm lắng dịu, Hội thánh An Đông sinh hoạt hạn chế, một số người có mặt trong buổi nhóm Hàm thụ và Học sinh Sinh viên được Công An gọi lên điều tra liên tục. Đến ngày 25-6-1983, các Ms Nguyễn Hữu Cương, Ms Trần Thái Sơn, TĐ Châu văn Sáng (Phụ tá Hội thánh An Đông), TĐ Đoàn Trung Tín, bị bắt giam. Năm tháng sau, tháng 11-1983, đến lượt Ms Hồ Hiếu Hạ, TĐ Lê Thiện Dũng, cũng bị bắt. Nhà thờ tại An Đông, và số 7 Trần Cao Vân bị đóng cửa. Ms Hội Trưởng Ông văn Huyên bị chuyển chỗ ở về Nhà thờ 155 đường Trần Hưng Đạo. Đến thời điểm nầy, Ms Ông văn Huyên phải đảm nhiệm 3 chức vụ: Hội Trưởng Hội thánh Tin Lành Việt-nam (MIền Nam), kiêm Chủ nhiệm Địa Hạt Đông Nam Bộ thay Ms Phạm văn Thâu đã xuất ngoại, kiêm chủ tọa Hội thánh Sàigòn.

Kết quả của biến cố nầy về phương diện pháp lý, Ms Trần Thái Sơn bị giam 18 tháng được tạm tha với lịnh trục xuất khỏi Tp.HCM, lý do đã phản đối tội danh “cùng đồng bọn tuyên truyền phản cách mạng”. Tđ Đoàn Trung Tín và Tđ Châu văn Sáng bị án cải tạo không xử 3 năm. Ms Nguyễn Hữu Cương và Ms Hồ Hiếu hạ bị án 8 năm. Tđ Lê Thiện Dũng bị án 5 năm (Nhưng sau đó, Ms Cương, Ms Hạ và Tđ Dũng được can thiệp đưa sang Hoa-kỳ).

Đặc biệt biến cố nầy đưa đến kết quả tốt về phương diện thuộc linh. Các tín hữu thuộc hai Hội thánh tại An đông và số 7 Trần Cao Vân tan lạc rãi ra trong các Hội thánh, đa số nhập về Hội thánh tại đường Tuy Lý Vương. Với tinh thần nóng cháy Truyền giảng, các tín hữu nầy đã lây lan các tín hữu khác, các Hội thánh trước đây yếu đuối, bây giờ trở nên mạnh mẽ đạt kết quả nhiều, nhất là Hội thánh tại đường Tuy Lý Vương, do Ms Đinh Thiên Tứ làm chủ tọa.

Trong lúc đó, Ms Hội Trưởng Ông văn Huyên sau nhiều lần mổ mắt, đã không còn thấy được nữa, chỉ còn điều khiển Hội thánh chung bằng việc nghe. Từ đó có những văn thư, thông cáo của Tổng Liên Hội, của Địa Hạt Đông Nam Bộ, do Ms Hội Trưởng kiêm Chủ nhiệm Đông Nam Bộ ký gây nhiều tranh cãi và thắc mắc, nghi ngờ trong Hội thánh chung: AI KÝ các văn bản đó ?

 

 

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by