You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương I)

LICH SỬ HT/VN (Chương I)


By admin - Posted on 18 February 2009

LỊCH SỬ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT-NAM
(1911-1965)
Mục sư Lê Hoàng Phu, Ph.D.

ooo000ooo

Chương Một:       VẤN ĐỀ VÀ PHẠM VI CỦA NÓ
Chương Hai:       SỰ SẮP ĐẶT BỐI CẢNH LỊCH SỬ                                       
Chương Ba:         BỐI CẢNH TÔN GIÁO CỦA DÂN TỘC VIỆT-NAM         
Chương Bốn:      ĐỨC TIN TIN LÀNH DU NHẬP                                            
Chương Năm:     PHONG TRÀO HỘI THÁNH BẢN XỨ                                 
Chương Sáu:       HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM TRONG KỲ              
                          ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN VÀ CHIẾN TRANH
                          GIÀNH ĐỘC LẬP                                                                     
Chương Bảy:      HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM
                         GIỮA HAI CUỘC CHIẾN ĐÔNG DƯƠNG                           
Chương Tám:     SƠ LƯỢC VÀ KẾT LUẬN

 

Chương Một

VẤN ĐỀ VÀ PHẠM VI CỦA NÓ

Hơn một thập niên trước đây, Giáo sư Claude A. Buss đã viết trong lời tựa cuốn sách của ông nhan đề "Đông Nam Á và Thế giới ngày nay": "Từ Canton đến Calcutta là khu phi chiến cho người Mỹ, mới lạ và chưa ai biết như Phi châu. Đông Nam Á là phần thuộc thế giới chúng ta, chúng ta phải khám phá ra họ."

Các học giả Mỹ hăng hái đáp lời kêu gọi nầy, đặc biệt là trường hợp Việt-nam, nơi có nhiều toán giám định đã hoàn thành những khảo cứu uyên bác về hầu hết mọi phương diện của đời sống văn hóa Việt-nam. Những tác phẩm xã hội vô giá về dân tộc Việt-nam đã được xuất bản, và đời sống tôn giáo cùng các hiệu lực của nó trên cuộc tranh đấu hiện tại đã trở thành đề tài phân tích say mê cho bao nhà xã hội học lừng danh.

Tuy nhiên, cho đến nay rất ít ai để tâm nghiên cứu một trong những phần quan trọng nhất của xã hội Việt-nam, ấy là đoàn thể Tin Lành quốc gia, mặc dù thành phần của nó tương đối còn trẻ và nhỏ, nhưng đã được nhất trí coi là một trong các Tôn giáo của xứ từ hồi Chủ Tịch Hồ Chí Minh công bố Tuyên Ngôn Độc Lập tháng tám năm 1945 [1].

Một cuộc nghiên cứu kỹ lưỡng về những nội dung của Thư viện Khảo cứu Truyền giáo tại Nữu Ước, nơi sưu tập bao quát những tài liệu về công cuộc truyền giáo khắp thế giới của Giáo hội Cơ-Đốc cho biết rằng dầu lịch sử đã ghi chép nhiều cơ sở truyền giáo ở khắp năm châu, nhưng chưa hề có sự nghiên cứu về Hội thánh Tin Lành Việt-nam theo chiều sâu. Đứng trên lập trường Sử ký Giáo hội, việc lấp bằng khoảng trống nầy, ít nhất một cách khiêm nhượng cũng thật quan hệ. Trong những đoàn thể Truyền giáo Tin Lành, nhất là trong vòng một trăm năm qua phong trào nổi bật nhất đã lập thành mối quan tâm lớn lao hơn hết cho cả những Ủy Ban Truyền giáo lẫn các lãnh tụ giáo hội là "Phong Trào Bản Xứ". Hội thánh Tin Lành Việt-nam đã được công nhận, ít nhất cũng trong đoàn thể truyền giáo tại Á châu, là một Hội thánh bản xứ vững mạnh ngay từ buổi ban đầu của tổ chức. Theo báo cáo, Hội thánh Trẻ ở Đông Nam Á nầy không phải được "thổ dân hóa" như trường hợp nhiều Hội thánh Tin Lành ở Á châu và Phi châu. Các Hội thánh Á Phi nầy, sau khi đã được kiểm soát lâu đời bởi các Mẫu hội tương đối bị buộc phải tiếp thu cả phần quản trị hành chánh lẫn chu cấp tài chánh cho những tổ chức riêng họ, ngay sau sự phát khởi cuộc Đệ Nhị Thế Chiến hoặc sự thay đổi chính sách đột ngột do Ủy Ban Truyền Giáo Quốc Ngoại định đoạt.

Hội thánh Tin Lành Việt-nam  (HTTLVN) đôi khi cũng tự định nghĩa trong ngôn từ đặc biệt là 'vươn tới', sánh mình với một Hội thánh thâm niên hơn trong tư tưởng thế giới Tây phương nghĩ về mình như một Giáo hội Truyền giáo, mặc dù trong trường hợp nầy các hoạt động bị hạn chế nhiều và chỉ quanh quẩn nội trong bờ cõi Bán đảo Đông dương thôi. Thêm vào ý nghĩa của Hội về phương diện xã hội học và Sử Ký Giáo Hội, cuộc nghiên cứu về Hội thánh Tin Lành nầy cũng quan trọng vì cớ tin tức Hội thánh cung cấp về nước Việt-nam. Ngày nay Việt-nam là xứ bị chiến tranh tàn phá mà những biến cố chính trị và quân sự hầu như hằng được phổ biến ngay trên trang đầu của mọi tờ nhật báo ở khắp thế giới (Tác giả viết lời nầy vào năm Thập niên 70 thế kỷ 20).

Trong tiến trình phục hồi lại quyền độc lập, Việt-nam là nước phải trải qua "một trong những cuộc Chiến tranh dai dẳng, tàn ác nhất về phương diện chính trị, lại là trận chiến rắc rối khó hiểu nhất trong các cuộc chiến tranh thuộc địa và ý thức hệ". Trong cuộc chiến đấu sinh tử nầy kéo dài ngót hơn ba chục năm trường, các tổ chức Tôn giáo đều phải chia xẻ phần trách nhiệm. Có mấy nhóm Tôn giáo thật đã dự phần trong cuộc chiến với nhiều tiểu đoàn và quân dân tự vệ riêng của họ trong khi các nhóm khác lại tập trung vào các công tác xã hội và y tế mà họ thấy có những chức việc thích hợp hơn để hoàn tất. Tuy nhiên, trong khi có những cuộc nghiên cứu rộng rãi được đảm trách về những vai trò của các đại giáo phái Việt-nam trong lịch sử hiện tại, ít ai bận tâm đến cuộc đấu tranh để sinh tồn và bành trướng của dân tộc trong những trận chiến tranh rất ác liệt, có lúc thật sôi động, lúc ngừng, và sự đóng góp của Hội ấy cho sự phúc lợi của dân tộc cũng chẳng được đánh giá chút nào.

Trong một phạm vi rộng hơn, cuộc sưu tra về HTTLVN sẽ rọi ánh sáng trên cuộc đấu tranh không ngớt giữa các Tôn giáo cổ truyền của Á châu và Cơ-Đốc giáo cùng các tổ chức liên hệ đến giáo phái đó. Những tôn giáo cổ truyền, theo một ý thức, chưa bao giờ có quyền lực như ngày hôm nay tại Miền Nam và Đông Nam Á. Cuộc chiến tranh giải phóng khỏi chủ nghĩa đế quốc và ách ngoại bang, cùng sự độc lập do cuộc đấu tranh đó giành được thường thêm sự thúc đẩy cho mấy tôn giáo Đông phương hồi sinh. Cho đến khi kết liễu đệ nhi thế chiến, nhiều người Tây phương và một số không nhỏ người Đông phương thường coi Phật giáo, Ấn độ giáo, Khổng giáo như là 'thụ động' và 'lỗi thời'. Ngày nay, đa số dân chúng ở các xứ Đông Nam Á, kể các giới trí thức, đang quay trở lại tôn giáo của tổ tiên họ, nhất là Phật giáo với một ý thức tự hào mới. Trái với trạng huống lịch sử của mình, Phật giáo đã trở nên một đức tin chiến đấu, và tại nhiều xứ thành quốc giáo.

Thomas Ohm trong cuốn sách của ông nhan đề "Á châu nhìn xem Cơ-Đốc giáo Tây phương", đã ghi nhận rằng "Người Âu châu đã đóng một vai trò đầy ý nghĩa trong khúc quanh lịch sử nầy … Nhiều người Âu châu đã qui y Phật giáo, Ấn độ giáo và Hồâi giáo. Điều nầy càng tăng thêm lòng tự tin của người Á châu, củng cố niềm tin của họ trong những tôn giáo riêng họ."

Người ta không thể hoàn toàn đồng ý với cách suy luận nhân quả của tác giả nầy, nhưng bất cứ quan sát viên nào chăm chú theo dõi đều phải công nhận rằng, hầu hết góc biển chân trời Đông Nam Á, sự đối kháng Cơ-Đốc giáo đã trở nên cứng rắn thêm. Trong nhiều xứ và đặc biệt tại Việt-nam, có khuynh hướng đồng nhất sự gia nhập đạo cổ truyền với lòng ái quốc chân thành, nhất là trong thời gian đấu tranh giành độc lập. Đã có một thời "nhiều người Á châu có cảm tưởng rằng Cơ-Đốc giáo hơn hẳn các tôn giáo cổ truyền của họ, và đã chấp nhận đủ thứ nào là ý niệm, giá trị mẫu mực, phương pháp… Ngày nay, họ gắng sức tự giải thoát chính họ và văn hóa họ khỏi mọi ảnh hưởng ngấm ngầm của Cơ-Đốc giáo và tất cả mọi điều ngoại lai."

Tại Việt-nam, tình trạng tôn giáo càng phức tạp hơn bởi sự xuất hiện vào thập niên 1930 và 1940, hai tôn giáo mới là Cao Đài và Hòa Hảo, mỗi phái đều nhận mình có hai triệu thuộc viên. Cả hai tôn giáo đều chiêu mộ bộ đội riêng vào giữa thập niên 1940, ngoại trừ Việt Minh, đã trở thành những lực lượng chính trị lớn nhất ở Nam Bộ Việt-nam. Quân đội Viễn Chinh Pháp và tất cả các chính phủ quốc gia đều coi những đoàn thể tôn giáo nầy là đáng kể, thậm chí cũng dành ghế trong nội các cho các lãnh tụï Cao Đài và Hòa Hảo.

Thêm vào tình trạng hỗn tạp tôn giáo - quân sự - chính trị nầy, vai trò chính trị do một số lãnh tụ Công giáo Lamã đảm trách, kể cả người ngoại quốc lẫn người bản xứ, từ khi quân đội Pháp chiếm Việt-nam cho đến ngày lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã làm cái đích cho nhiều sự chỉ trích gắt gao của nhiều đoàn thể, đặc biệt là Phật giáo và Cộng sản [2]. Nhiều nhà ái quốc Việt-nam trước đây đã đồng nhất hóa Công giáo Lamã với chủ nghĩa thực dân Pháp, và một số không nhỏ lẫn lộn Tin Lành với Công giáo Lamã nữa. Chủ Tịch Hồ Chí Minh, trong bài khái luận về tình trạng dân cày Việt-nam dưới chế độ thực dân Pháp năm 1924 đã ghi nhận xét cay đắng sau đây: "Nói chung, người An nam (Việt-nam) bị nghiền nát bởi những phước lành của sự bảo hộ Pháp. Đặc biệt dân quê An nam càng bị chà đạp cách khả ố bởi sự bảo hộ nầy. Ấy là do thiệt sự họ bị bốc lột tư bề bằng đủ mọi cách bởi chính quyền thực dân, bởi phong kiến tiệm tiến, và bởi giáo hội (nhà thờ). Người ta có thể thấy đàng sau mặt nạ dân chủ, chủ nghĩa đế quốc Pháp đã bứng trồng tại Việt-nam toàn bộ chế độ đáng rủa thời Trung cổ, gồm thuế muối, và dân quê An nam bị đóng đinh trên lưỡi lê của nền văn minh tư bản và trên thập tự giá của Cơ-Đốc giáo điếm đàng." [3]

Chống lại bối cảnh hung dữ nầy HTTLVN đã phát triển đều mực và đã giữ vai trò quan trọng trong xứ, không phải trong đấu trường chính trị, nhưng trong các địa hạt luân lý, tôn giáo, xã hội và an sinh. Có điều thích thú mà nhận xét rằng mùa Xuân 1949, khi Cựu Hoàng Bảo Đại trở về Việt-nam để lập chính phủ quốc gia, đài phát thanh Saigon nhiều lần loan báo ý định của vị quốc trưởng là lãnh đạo một chính phủ gồm có những đại diện các "gia đình tôn giáo lớn nhất" trong xứ, tỷ như Phật giáo, Công giáo Lamã, Cao Đài, Hòa Hảo, và Tin Lành. Cố nhiên, lời đề nghị nầy các nhà lãnh đạo HTTLVN đã khước từ để trung thành với tôn chỉ vạch sẵn là "không xen vào chính trị."

Mấy năm trước đây, Linh mục Nguyễn Ngọc Lan, một học giả uyên bác Công giáo, đã viết về các đại giáo phái liên can đến nền chính trị Việt-nam vào giữa thập niên 1960 với những hệ lụy tai hại sau đó, nhận xét như sau: "Mọi người phải công nhận từ Tin Lành vẫn còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa đơn thuần và an nhiên của nó." [4]

Tập nghiên cứu nầy là cố gắng để tìm hiểu Hội thánh Tin Lành hầu quyết định "Chân tánh bản xứ", đời sống tôn giáo, mối quan tâm xã hội, tôn chỉ chung, và giải pháp Hội đã chấp nhận trước những khủng hoảng đang hăm dọa tình trạng "bản xứ" của Hội, cùng cố gắng liên tục để bành trướng mặc dầu chiến tranh vẫn tiếp diễn. Những ý kiến tổng đoán của tập nghiên cứu nầy sẽ ích lợi cho các ủy ban truyền giáo, cho các nhà xã hội học khi họ phân tích tác dụng hỗ tương của những nhân tố xã hội và tôn giáo cùng cố gắng của họ để biến xã hội trong một xứ chậm tiến, nơi sự đương đầu văn hóa giữa Đông và Tây phương đang hồi gay cấn, cay đắng nhất.

CHÚ THÍCH:
[1] Trong phiên họp khai mạc Quốc hội kỳ 1 của Việt-nam Dân Chủ Cộng Hòa triệu tập ngày 2.3.1946 tại Hà-nội, ba ghế danh dự được dành cho các quan sát viên đại diện ba đoàn thể Tôn giáo quốc gia: Phật giáo, Công giáo Lamã, và Hội thánh Tin Lành .
[2] Thích Nhất Hạnh "Bông Sen trong Biển Lửa" New York, Bill and Wang, 1968, trang 19-21. (Đào Duy Anh "Việt-nam văn hóa sử cương", Huế 1938, trang 16-160)
[3] Hò Chí Minh, Tuyển tập 1 (Hà-nội 1960-62) trang 62 tt.
[4] Linh mục Nguyễn Ngọc Lan "Chính  trị, tôn giáo hay xảo thuật" (1965). Nguyễn Sinh trích dẫn Thánh Kinh Báo (9/1966) trang 5, so "Những trại thủy ngư lỗi ở đáy tách trà" Bách Khoa Thời Đại (15.11.1969) trang 11-20.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by