You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LỊCH SỬ HT/VN (Chương I tiếp)

LỊCH SỬ HT/VN (Chương I tiếp)


By admin - Posted on 18 February 2009

Chương Một (tiếp)

VẤN ĐỀ

TRÌNH BÀY VẤN ĐỀ.

Mục đích của tập khảo cứu nầy là xét đến lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt-nam, tức là sự khởi đầu của Hội qua cố gắng của Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp với sự thiết lập những Hội thánh địa phương đầu tiên (1911-1927), sự tổ chức chính thức "Hội thánh Bản Xứ" cho đến năm 1941, cuộc tranh đấu sinh tồn trong thời đệ nhị thế chiến (1941-1945), chiến tranh giành độc lập (1945-1954), sự tấn bộ trong sự hưu chiến ngắn ngủi (1955-1960), và những  năm đầu tiên của cuộc chiến Việt-nam (1960-1965).

CÁC VẤN ĐỀ PHỤ:

Bởi đó, những mối quan tâm chính của tập khảo cứu nầy là (1) kiểm điểm bối cảnh tôn giáo tại Việt-nam trước và đang khi Tin Lành được truyền bá trong xứ, (2) thiết lập những mục tiêu và chính sách của Cơ-Đốc Phước Âm Liên Hiệp Hội trong việc vun trồng và trưởng dưỡng Hội thánh Tin Lành nầy ở giữa một xứ đối nghịch ít hay nhiều đối với Cơ-Đốc giáo, (3) Xét đến sự phát triển phong trào "giáo hội bản xứ" trong sự tổ chức và điều hành HTTLVN từ sự hấp thụ, cuộc đấu tranh để sinh tồn và sự bành trướng của Hội trong kỳ đệ nhi thế chiến, chiến tranh Đông dương thứ nhất, năm năm hưu chiến và giai đoạn đầu của chiến tranh Đông dương thứ hai, và (4) phân biệt các chiều hướng cố hữu trong vấn đề phụ.

ĐỊNH VẠCH GIỚI HẠN:

Tập khảo cứu nầy định gới hạn cho sự thiết lập các Hội thánh Tin Lành địa phương từ năm 1911-1927, phát triển các nhóm rải rác nầy thành một Hội thánh bản xứ toàn quốc được mệnh danh là HTTLVN. Từ năm 1927-1965, khi sự nội-bộ-hóa chiến tranh Việt-nam đã dẫn nhập một giai đoạn mới trong đời sống tôn giáo của xứ. Dầu sẽ bàn đến các phương diện khác của Hội thánh, nhưng mục đích chính của tập khảo cứu nầy là phong trào Hội thánh bản xứ, sự phát triển, những nan đề, và các đặc tính của Hội ấy.

Lịch sử các Hội thánh Tin Lành ở Miền Bắc Việt-nam  chỉ bao hàm cho đến năm 1955 khi đất nước phân chia tại vĩ tuyến 17 đã hoàn toàn niêm phong sự giao thông giữa các Hội thánh miền Nam và miền Bắc. Các tin tức nhận được sau niên hiệu nầy rất hiếm và không thể kiểm chứng được. Vì một số lớn tín hữu Tin Lành đã di chuyển vào Nam trong cuộc di cư to lớn năm 1954-1955, đoàn thể Tin Lành ở miền Bắc Việt-nam ngày nay chỉ vỏn vẹn còn chừng 2% tổng số thuộc viên HTTLVN.

Hội thánh Thượng, vì bối cảnh nhân chủng và ngôn ngữ phức tạp, được phát triển riêng rẽ khỏi HTTLVN ngay từ lúc đầu năm 1929, Hội ấy không gia nhập Hội thánh Tin Lành Việt-nam cho đến năm 1959. Bởi vậy, cần có một sự khảo cứu riêng biệt, nhưng trong tập khảo cứu nầy chỉ viện dẫn đến sự liên hệ của Hội thánh Thượng với HTTLVN, trước hết như là một khu vực truyền giáo và sau năm 1959 như là một trong các địa hạt của HTTLVN.

Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp là cơ sở truyền giáo Tin Lành chịu trách nhiệm về sự vun trồng HTTLVN, được nghiên cứu rộng rãi từ năm 1911, khi các vị đại diện đầu tiên đến Trung bộ Việt-nam, cho đến năm 1927 khi HTTLVN được chính thức tổ chức. Đoàn truyền giáo nầy sẽ được nói đến trong thời kỳ sau về vai trò truyền giáo, trong các phương diện khác nhau sủa sự phát triển Hội thánh. Mục đích của nhà khảo cứu không phải là dò tìm cố gắng truyền giáo của các Hội Truyền giáo Tin Lành khác, mà hầu hết các Hội nầy mới đến Việt-nam và chỉ đại diện một bộ phận nhỏ của đoàn thể Tin Lành.

ĐỊNH NGHĨA TỪ NGỮ:

Để thấu hiểu tập khảo cứu nầy, chữ "Đông dương" chỉ về khu vực miền Đông bán đảo Đông dương bao gồm Việt-nam, Lào, Kampuchia. Việt-nam được chia ra làm ba kỳ dưới thời Pháp thuộc, ấy là Bắc kỳ (Bắc), Trung kỳ (giữa) và Nam kỳ (nam), và phân thành hai nước Cộng hòa theo Hiệp định Geneve năm 1954: Việt-nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc) và Việt-nam Cộng Hòa (Nam).

HTTLVN là một Hội thánh quốc gia khởi sự từ năm 1911 bởi các giáo sĩ của Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp và được chính thức công nhận năm 1927. Hội viên tiêu biểu cho hầu hết toàn thể tín hữu Tin Lành tại Việt-nam, Hội thánh ngày nay được mệnh danh là HTTLVN hoặc tiếng Việt gọi đơn giản là Tin Lành, cũng đã từng được mệnh danh là Hội thánh Tin Lành Đông dương, hoặc Hội Tin Lành Đông Pháp ở dưới quyền đô hộ của người Pháp. Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp nói cho đúng không phải một giáo phái mà chỉ là một Hội truyền giáo gồm có 1.376 Hội thánh và 88.962 thuộc viên tại Mỹ và Gia-nã-đại [1] và 221.619 thuộc viên ở trong 24 khu vực địa lý của công trình truyền giáo trong 35 nước [2]. Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Đông dương không những chỉ bao hàm 5 xứ Đông dương thuộc Pháp mà còn gồm cả 5 tỉnh miền Đông Thái lan (Hội Truyền giáo Liên Hiệp ở Thái lan được tổ chức như một đơn vị riêng biệt vào năm 1946). Đến tháng 1 năm 1953, Hội Truyền giáo Đông dương to lớn đã phân chia thành bốn địa hạt tự trị, ấy là Việt-nam, Kampuchia, Lào, các chi phái (bộ lạc) ở Việt-nam, mỗi địa hạt có "Ban Chấp Hành" riêng, được bầu hằng năm bởi Hội Đồng khu vực truyền giáo.

HTTLVN là một hội độc lập được quản trị bởi Hội Đồng chung hoặc Ban Trị Sự Tổng Liên Hội. Hội Đồng toàn quốc được mệnh danh là Hội Đồng Tổng Liên Hội là đoàn thể lập pháp của HTTLVN triêu tập hằng năm để sắp đặt công việc và quyết định chính sách chung của Hội thánh. Hội đồng gồm có những Mục sư, Truyền đạo và các đại biểu đại diện tất cả những Hội thánh địa phương. Hội đồng bầu Ban Trị Sự Tổng Liên Hội là ban đảm trách việc quản trị Hội thánh suốt năm trong khi Hội đồng lập pháp không họp. Ban Quản trị nầy gồm một Hội trưởng, một Phó Hội trưởng, một Tổng Thư ký, một Tư hóa, các Chủ nhiệm địa hạt và một số Nghị viên, mỗi địa hạt một vị. Để hiểu rõ tập khảo cứu nầy, chữ 'địa hạt' chỉ về một khu vực lớn trong xứ tương đương với 'vùng' của danht ừ chính trị ngày nay, và gồm những Hội thánh địa phương trong một số tỉnh. Hội đồng thương niên của các Mục sư và Truyền đạo các Hội thánh trong một địa hạt, cũng được gọi là Hội Đồng Địa Hạt nhóm lại hằng năm để thương lượng công việc và quyết định những luật lệ trong vùng, cùng bầu cử một Ban Trị Sự Địa Hạt, đứng đầu là Chủ nhiệm để thực hiện chương trình của Hội Đồng suốt năm. Ban Trị Sự Địa Hạt gồm có chủ nhiệm, một phó chủ nhiệm, một thư ký, một thủ quỹ và từ 1-3 nghị viên. Ban Trị Sự có đặc quyền giám thị sự điều hành đúng đắn của Hội thánh địa phương, sắp đặt dưới thẩm quyền của mình. Một chi hội Hội thánh Tin Lành là đơn vị nhỏ nhất trong Hội thánh toàn quốc gồm có một nhóm tín hữu có tổ chức, điều hành hợp thức trong cả địa phương đã định (thành thị, thị trấn, một hạt hoặc một làng).

Như một kết quả của những cố gắng của cả Hội Truyền giáo PÂLH lần HTTLVN, một Hội thánh Tin Lành được thiết lập giữa vòng các nhóm thiểu số tại Việt-nam thường được gọi là người Thượng. HTTL Thượng du nầy lúc đầu được tổ chức riêng biệt khỏi HTTLVN, nhưng cuối cùng đã gia nhập HTTLVN như là một địa hạt của đoàn thể quốc gia năm 1959.

Mọi vấn đề thuộc sự liên hệ giữa Hội thánh và Hội Truyền giáo được đặt dưới thẩm quyền của Ban Trị Sự chung, gồm có Ban Trị Sự Tổng Liên Hội của HTTLVN và Ban Chấp Hành của Hội Truyền giáo PÂLH. Cuối cùng, chữ "Hội thánh bản xứ" trong đoàn thể tôn giáo chỉ về Hội thánh tự trị, tự dưỡng và tự quảng bá.

VĂN CHƯƠNG LIÊN HỆ:

"Thần học của Hội Truyền giáo" (1928-1958) là một luận án tiến sĩ của Gerald Harry Anderson đệ trình lên Trường Đại Học Boston vào năm 1960. Đây là một tập nghiên cứu lịch sử sự khai triển thần học và những phương thức truyền giáo trong các Hội thánh Tin Lành khoảng từ năm 1928-1958. Khảo cập vấn đề theo liên đại học và mô tả, bản luận án khởi sự xem xét bối cảnh từ cuối thế kỷ 19 và phân tích các biến động lớn cùng các sách báo xuất bản góp phần vào sự phát triển thần đạo Tin Lành truyền giáo. Tập nghiên cứu nầy phần lớn tập trung vào các cuộc hội thảo toàn cầu của Hội nghị truyền giáo quốc tế và điểm chạm của chúng trên công cuộc truyền giáo Tin Lành trong thế kỷ 20: Edinburg (1910), Giê-ru-sa-lem (1928), Tambaram (1938), Whitby (1947), Ghana (1957-1958). Tuy nhiên, trọng điểm được đặt trên vai của một hội nghi về việc làm sáng tỏ những cớ tích, phương pháp, sứ điệp và mục đích của những Hội truyền giáo Cơ-Đốc.

Giáo sư Kenneth S. Latourette đã xuất bản vào năm 1929 cuốn sách giá trị nhan đề "Lịch sử các Hội Truyền giáo Cơ-Đốc tại Trung hoa". Tác giả đã tường thuật đầy đủ những công trình truyền giáo của các giáo hội Nestorien, Công giáo Lamã và Tin Lành tại Trung hoa cho đến giữa thập niên 1920. Bắt đầu từ sự thành lập Hội thánh Nestorien tại Trung hoa dưới triều Mãn Thanh, tập khảo luận bao hàm sự phát triển, tranh đấu và tăng trưởng của đức tin Cơ-Đốc giữa một quốc gia cừu địch do Khổng giáo và Phật giáo thống trị với một cảm xúc độc đáo của chủ nghĩa đế quốc chống Tây phương. Sách Sử ký của Latourette liên quan đến hai phương diện có ý nghĩa của các Hội truyền giáo hiện đại: sự trái ngược của Cơ-Đốc giáo và các tôn giáo Đông phương, và sự khác biệt giữa những mục tiêu và phương pháp của các Hội truyền giáo Tin Lành và Công giáo Lamã.

Martin Luther Dolbeer năm 1957 đã đệ trình lên hội nghị Hartford Seminary Foundation một luận án nhan đề "Lịch sử thuyết Luther tại Andhra Desa (lãnh thổ Telugu tại Ấn độ) từ năm 1842 đến 1920". Đây là một cố gắng mô tả những phong trào khác nhau nằm sau sự tăng trưởng của một trong các Hội thánh và những cố gắng Cơ-Đốc đầu tiên tại Andhra Desa Delbeer xét đến sự phát triển của bốn Hội Truyền giáo Luther trong khu vực. Đặc biệt chú ý đến sự liên hệ giữa các giáo sĩ và chính phủ, các lãnh tụ dân chính, các lãnh tụ tôn giáo và thường dân. Những chính sách truyền giáo, sự giáo dục tôn giáo, sự phát triển văn chương dân tộc, huấn luyện dẫn đạo chỉ huy quốc dân, đều được phân tích và đánh giá kỹ lưỡng. Giống HTTLVN, Hội thánh Telugu bị cản trở sự tăng trưởng bởi những năm chiến tranh và kinh tế khủng hoảng. Đoạn chót, bao hàm những năm giữa khoảng 1914-1920, đã giám sát kỹ một thời kỳ bành trướng lớn lao cố nhiên là có những nan đề thông thường mà Hội thánh bản xứ non trẻ phải đương đầu.

Một cuộc nghiên cứu về sự tuyển mộ, huấn luyện cấp dưỡng thực hiện của các lãnh tụ giáo hội trong ba giáo phái Tin Lành tại Liên bang Giáo hội Cơ-Đốc ở Phi-luật-tân là một luận án tiến sĩ của Henry Welton Rotz trình lên Hội đồng giáo sư tại trường Đại học Cornell năm 1955. Đây là một khảo luận do 651 lãnh tụ giáo hội đã lập thành 80% của tổng số các mục sư trong giáo hội Báp-tít, Methodist và Hội thánh Đấng Christ thống nhất của xứ Phi-luật-tân. Cuộc sưu tra của Rotz có liên quan đến vài phương diện của tập nghiên cứu nầy bởi những nguyên tắc và phương tuyển mộ, huấn luyện và ủng hộ lãnh tụ Hội thánh với các sở trường và sở đoản thường thấy trong các xứ chậm tiến trên cả Á châu.

Trong bản luận án nhan đề "Những Hội thánh bản xứ của Hội Truyền giáo PÂLH" đệ trình lên Hội đồng giáo sư của Đại học Đường Nữu Ước năm 1965, John F. Taylor xét đến phong trào Hội thánh bản xứ truy ngược lại thời kỳ các sứ đồ và phân tích những nguyên tắc thiết lập Hội thánh bản xứ như phát biểu bởi các lãnh tụ truyền giáo Tin Lành và các Hội nghị truyền giáo quan trọng trong thế kỷ thứ 19 và 20. Tuy nhiên, sự nhấn mạnh chính là trên chính sách bản xứ của Hội truyền giáo PÂLH ở Đông Nam Á, các hiệu quả trên các Hội thánh quốc gia trước và trong kỳ đệ nhị thế chiến. Các cố gắng mới để áp trên và trước chính sách nầy càng nghiêm nhặt hơn sau kỳ đệ nhị thế chiến và những kết quả đến sau trong 10 công trường truyền giáo Á châu cho đến năm 1962.

PHƯƠNG THỨC:

Những chức viên của HTGPÂLH rất thanh nhã trong việc mở các hồ sơ và hầm lưu trữ tài liệu cho nhà khảo cứu mà không dè dặt. Những thư ký văn phòng Hội Liên Hiệp tại Nữu Ước cũng tích cực giúp đỡ, vài nhân viên cũng còn khiến cho công việc của nhà khảo cứu thu thập tài liệu dễ dàng hơn, bằng cách chụp hình hằng trăm trang tài liệu liên hệ tới Hội Truyền giáo và Hội thánh Đông dương từ hồ sơ Hải ngoại vụ. Mặc dầu có nhiều sổ sách từ các cơ sở gởi đến Hải ngoại vụ của HTGPÂLH trước năm 1947, đã bị hủy đi lầm lẫn hồi đầu năm 1950 may mắn cho nhà khảo cứu đã tìm được đủ tài liệu lịch sử về khu vực Đông dương để trám bằng khoảng trống đó.

Sách của Giáo sĩ E. F. IRWIN nhan đề "Với Chúa Cơ-Đốc tại Đông dương" gồm có nhiều báo cáo chứng kiến tận mắt về HTGPÂLH và HTTLVN giữa 1911-1936. Giáo sĩ G. H. Smith viết cuốn "Người săn huyết" và "Truyền giáo và Nhân chủng học" cũng như cuốn "Tiếng cồng trong đêm khuya" và "Sự đắc thắng ở Việt-nam" của bà Smith đã chiếu ánh sáng trên những phương diện nhân chủng học của công cuộc truyền giáo giữa đồng bào thượng ở Trung bộ Việt-nam. Nhiều bài do các giáo sĩ phục vụ tại Việt-nam được đăng trên báo Alliance Weekly (Tuần san) hiện nay đổi thành Alliance Witness. Tiếng gọi Đông dương, tiếng gọi Việt-nam, nhưng biên giới rừng rậm và các tập san luận giải các dữ kiện, những tài liệu trên được xem xét để quyết định những đặc tính của HTTLVN, những chính sách và phương pháp như so sánh với các văn bản của HTGPÂLH đều nhằm mục đích xây dựng Hội thánh bản xứ tại Việt-nam. Để đề phòng chống thành kiến cũng như sự quá đáng có thể xảy đến nên nhà khảo cứu đã xem xét những nguồn tin từ nhiều quan điểm khác nhau và đã so sánh các dữ kiện đắn đo các phong trào theo thời gian trôi qua.

Những nguồn tin chính lẫn phụ thuộc phải qua sự phê phán bên trong lẫn bên ngoài theo tiêu chuẩn do Giáo sĩ Louis Golfschalt ấn định trong sách: "Tìm hiểu lịch sử, sách vở lòng của phương pháo lịch sử" và bởi giáo sĩ Jacques Barzun và Henri F. Graft trong sách "Nhà khảo cứu hiện đại."

  1. Phê bình ngoại tại, xem xét sự đích thực của các văn kiện, những chứng cớ của tác giả, thì giờ biên soạn, hình thức nguyên thủy của bản văn.
  2. Sự phê bình nội tại, xem xét ý nghĩa của bản văn, sự đáng tin cậy của nhân chứng, khả năng và sự đáng tin cậy cùng sự chứng thực độc lập.

Nhà khảo cứu đã đánh giá các tài liệu, thừa nhận là rất có giá trị, tránh những tai họa dưa trên lời chứng độc lập của hai hoặc nhiều người chứng đáng tin cậy. Vì tình hình chiến tranh hiện tại ở Việt-nam và nguồn tin không thể kiểm chứng như thế sẽ được nêu lên và sử dụng với một sự dè dặt tối đa lớn hơn để kết luận. Sau khi đã cẩn thận phân tích, kiểm chứng và đánh giá một cuộc tổng hợp các điều kiện được trình bày trong các trang kế tiếp theo một trật tự, theo tiền đề và niên đại học. Tuy nhiên, đôi khi rất cần nhấn mạnh những sự biến đổi tùy theo mẫu mực địa lý.Tất cả những tài liệu (văn kiện) được trình bày theo tiêu chuẩn một luận án như đã phác họa bởi Kate L. Turnbian trong cuốn "Cẩm nang cho các soạn giả viết báo theo thời hạn, chủ đề luận án."

CHÚ THÍCH:
[1] Biên bản của Hội Đồng chung, năm 1970 (New York, HTGPÂLH, 1970, trang 157, 209)
[2] Chủ nhiệm Tuần san  Alliance Witness (ra ngày 26.5.1971, trang 24)

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 4 guests online.

Hosting by