You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương II)

LICH SỬ HT/VN (Chương II)


By admin - Posted on 20 February 2009

Chương Hai
SỰ SẮP ĐẶT VÀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Việt-nam là một xứ nhỏ tọa lạc ở góc Đông Nam lục địa Á châu. Miền Bắc tiếp giáp Trung hoa, miền Tây giáp Lào và Kampuchia, còn Đông và Nam có biển Nam Hải bao bọc. Hai miền châu thổ phì nhiêu của sông Hồng miền Bắc và có sông Cửu Long miền Nam được nối liên với nhau bởi một dãy núi hẹp trải ra trên một ngàn dặm, bên hông có những đồng bằng nhỏ và các vịnh ngoạn mục. Hình thể nước Việt-nam thường được ví sánh cách linh động như một đòn gánh nhún nhảy trên đôi vai thon đẹp của phụ nữ Việt-nam, mỗi đầu mấu kẽo kẹt dưới sức nặng (trọng lượng) của thúng gạo lớn.

THÀNH PHẦN NHÂN CHỦNG

Tổng số dân ở Bắc lẫn Nam Việt-nam năm 1970 lên đến 39.207.000 trong số đó 21.340.000 sống miền Bắc và 17.857.000 ở miền Nam [1]. Dân cư nầy gồm nhiều thành phần, phần chính là người Việt-nam pha trộn dòng giống Mông cổ và Indonesia, chừng 3.600.000 dân tộc thiểu số khác nhau, phần chính là người Thái, Mon-Khmer và gốc người Malay-Polynesia [2]. Trong số 1.500.000 Hoa kiều di cư, chừng 1.200.000 trú ngụ tại Nam Việt-nam và hầu hết nhập quốc tịch Việt-nam hồi đầu thập niên 1960 [3]

Nửa triệu người Khmer-Krems (hoặc Nam Kampuchia) vẫn còn sống ở đồng bằng sông Cửu long cấu thành một kỷ niệm sống của đế quốc Khmer hùng mạnh trước kia mà lãnh thổ đã mở rộng tới đầu mút châu thổ miền Nam cho đến thế kỷ 19.

Nói chung, người Việt-nam, người Hoa kiều và Khmer, chiếm cứ các châu thổ và thung lũng duyên hải, để chừa lại phần lớn hơn các núi non và cao nguyên cho các dân tộc thiểu số thường được gọi là các bộ lạc hoặc người Thượng. Những người nầy đại diện cho một quang phổ lớn của các bộ lạc Đông Nam Á sắp từ người Thổ, Thái, Mường, mỗi giống có trên 400.000 [4] cho đến các chi phái ít khi được biết đến là Rai, Polon, Monon, với dân số chưa đầy 10.000 [5]. Ba mươi tám trong số bốn mươi  lăm bộ lạc sống tại Việt-nam được tập trung ở miền Nam, mỗi bộ lạc nói thứ tiếng riêng [6]. Người Chàm, với một dân số khoảng 60.000 thật ra là số dân sót của một dân tộc từng có nền văn minh cao [7] mà lãnh thổ đã dần dần bị chinh phục và lấn chiếm bởi người Việt-nam trên bước đường Nam tiến.

Thật ra các nhà nhân chủng học và khảo cổ học đã tìm thấy trong vòng khu vực 128.4000 dặm vuông ở Việt-nam, những tàn tích của ít nhất năm giống người tiền sử là người da sạm Melanesia, Indonesia, người Negro lùn, người Úc và Mông cổ. Quá trình pha trộn nhân chủng trải qua các thế kỷ lai hóa đã đưa đến kết quả là có một nòi giống đồng nhất ít hay nhiều mà các nét mặt nổi bật bao hàm cả giống Mông cổ và Indonesia, phát sinh giống có đặc tính hoàn toàn đơn thuần nhưng có những nét lai.

ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA TRUNG HOA - ẤN ĐỘ:

Việt-nam cùng với các nước láng giềng trong bán đảo Đông dương đã chịu ảnh hưởng của Trung hoa và Ấn độ đến mức hầu như ngang nhau. Joseph Huttinger, một trong những người Mỹ có uy thế trong vấn đề lịch sử Việt-nam đã khéo nhận xét  trong tác phẩm "Con Rồng Nhỏ Hơn" của ông: "Những thương gia và các thầy tế lễ Ấn độ đã góp phần vào sự khai triển nền văn minh Đông dương cũng như các hiền triết đạo đức, các nhà chinh phục, các chính khách cai trị của Trung hoa. Tôn giáo, triết học, nghệ thuật và tổ chức chính trị chứng tỏ ưu thế, hoặc Ấn độ, hoặc Trung quốc trên lãnh thổ nầy trải qua gần hai ngàn năm…" [8]

Điều thật hiếu kỳ là cho đến cuộc chinh phục của người Pháp vào thế kỷ 19, lịch sử dân tộc Đông dương phần chính là sử ký ghi chép cuộc đấu tranh lâu dài giửa các nền văn hóa Trung hoa va Ấn độ, trong đó người Việt-nam học biết cách thâu góp và phối hiệp nền văn hóa trên và lần lần biến nó thành một lợi khi để chiến đấu với cả người Trung hoa ở miền Bắc và các đại diện của văn hóa Ấn độ ở miền Nam biên giới Tây và Nam bộ.

Trung thành với những đặc sắc chủng tộc mà các quan sát viên thường mô tả như là 'cần cù', 'thủ cựu', và khôn khéo trong nghệ thuật thích dụng, dân Việt-nam bị lệ thuộc, nhất là trong thời kỳ gần đây vào hầu hết các luồng tư tưởng lớn kể cả những triết lý tôn giáo, nhưng vẫn bất biến thích ứng chúng vào trong văn mạch xã hội văn hóa của riêng mình.

Mặc dầu trải 22 thế kỷ có lịch sử ghi chép [9], nhiều nhà chép sử vẫn tự quả quyết thời kỳ 18 thế kỷ phụ thêm, thật ra thuộc kỷ nguyên huyền thoại và cho đến chừng đệ nhị thế chiến kết liễu, nước Việt-nam thật ra rất ít được hầu hết các học giả Âu châu biết đến, chỉ trừ một số ít bác học Pháp. Có lẽ vì lãnh thổ Việt-nam đã bị những người xâm lăng Pháp phân chia thành ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, được mệnh danh là Đông dương thuộc Pháp, cũng bao gồm cả vương quốc Lào và Cao Miên.

TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ:

Chính tên Việt-nam (hoặc đúng hơn là Việt và Nam) có một lịch sử dài, liên hệ mật thiết với sự tiến hóa chính trị của quốc gia, vì nó đã xuất hiện trong hình thức nầy, hoặc hình thức khác, bằng nhiều tên khác nhau của xứ từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Vào năm 207 trước Công nguyên, Triệu Đà gọi vương quốc nầy là Nam Việt. Người Trung quốc chinh phục và cai trị từ 111 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên, trước hết đặt tên là Giao chỉ, sau nầy là Giao châu, và cuối cùng là An nam. Khi khôi phục được quyền độc lập xứ lấy ba tên hiệu dưới năm triều đại liên tiếp: Đại Cồ Việt dưới đời nhà Đinh và Tiền Lê (968-1009), Đại Việt dưới đời nhà Lý và Trần (1010-1400), Đại Ngu dưới đời nhà Hồ (1400-1407). Tên hiệu An nam lần nữa được nhà Minh bên Trung quốc sử dụng khi chiếm đóng xứ trong một thời gian ngắn từ 1407-1427. Lê Lợi giải phóng đất nước khỏi quyền thống trị của nhà Minh và lập lên triều đại kéo dài từ năm 1428-1788, lập lại quốc hiệu của nhà Lý và nhà Trần. Từ năm 1801-1832, nhà Nguyễn lấy tên Việt-nam và từ năm 1932-1945 thì được gọi là Đại Nam.

Ấy là trong triều đại nầy mà nước Việt-nam lần lần bị các nhà xâm lược Pháp chinh phục và gọi dân bản xứ là 'Les Annamites', lãnh thổ gồm có Bắc kỳ, Trung kỳ, và Nam kỳ. Chúng ta có thể chú ý rằng sự việc nầy đúng như những người Trung quốc đến trước. Theo các bản hiệp ước năm 1874 và 1834, xác định sự bành trướng quyền bính người Pháp tại Việt-nam, và Bắc kỳ được 'gián tiếp' cai trị bởi một vị thống sứ Pháp, mỗi tỉnh đều có một Công sứ giúp đỡ, là người điều hành chung với một hệ thống quan lại Việt-nam. Trung kỳ còn giữ ngôi vua và triều đình cũng được giúp bởi một vị Khâm sứ, các quan Công sứ là người thật sự cai quản cả mọi từng lớp. Chỉ riêng Nam kỳ, bị chiếm giữa năm 1859 và 1862, được kể vào hạng thuộc địa dưới quyền cai trị trực tiếp của người Pháp [10].

Cùng với hai xứ bảo hộ là Kamphuchia và Lào, Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ lập thành liên bang Đông Pháp. Toàn bộ được cai trị bởi Quan Toàn Quyền, người trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Thuộc địa ở Ba-lê. Quan Toàn Quyền khi ở Saigon, lúc ở Hà-nội, điều khiển chính phủï với các vị Tổng thanh tra tương đương với các tham vụ của các bộ khác nhau trong một chính phủ. Tại trung kỳ với sự hiện diện của hoàng đế, quốc vương điều hành qua một hội đồng cơ mật gồm 6 vị Thượng thư, trên hết có vị Khâm sứ. Tuy nhiên, ngay tại cấp nầy, người Pháp cũng can thiệp như là 'chế tôn phế vua' -  lập vua nầy và phế bỏ vua nào ngang ngạnh, lưu đày thượng thư nào phản động tùy ý của họ. Tóm lại, tuy bề ngoài chính quyền Việt-nam được duy trì tại Bắc kỳ và Trung kỳ, nhưng quyền bính của người Pháp thấm thấu vào trong toàn bộ hệ thống hành chánh của ba kỳ dưới những hình thức khác nhau.

TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ XÃ HỘI:

Về mặt kinh tế, Việt-nam là một xứ nông nghiệp với tỉ lệ từ 85 đến 90% dân số sống bằng nghề nông. Họ trồng bắp, đậu, ngô, khoai, sắn, trà, cà-phê, v.v… Mùa màng chính và năng suất lên tới độ cao nhất là lúa gao. Khắp nơi đều trồng lúa, nhưng các vựa lúa thật là miền trung châu sông Hồng ở Thái Bình Bắc bộ và miền châu thổ sông Cửu Long ở Nam Bộ. Trung châu Bắc bộ trải dài khoảng 120 dặm, rộng chừng 70 dặm tại cửa sông. Sông Hồng được gọi thế vì nước thật đỏ hơi nâu, nhập với Bắc giang và các sông tỉnh Thái Bình để chở hàng ngàn tấn phù sa mỗi năm, bồi đắp cho miền trung châu là mơi có hơn 7 triệu dân cư ngụ [11]. Đồng thời sông Hồng cùng các sông nhánh, hằng năm là mối đe dọa cho dân chúng. Những cơn lụt tàn khốc khiến dân phải đấp đê, dài chừng 1.600 dặm và vấn đề hộ đê trong các tháng hè (từ tháng 6-8) đã tạo nên một nan đề quốc gia. Mật độ dân số tại miền trung châu nầy là 1256 người trên mỗi dặm vuông, đã lên đến 3.800 tại tỉnh Nam Định.

Miền trung châu Nam bộ rộng lớn và phì nhiêu hơn đồng bằng đối nhiệm ở miền Bắc. Những cơn lụt hợp với thời tiết không xảy ra thình lình hoặc quá lớn, thì được coi là thuận lợi vì những lớp phù sa phì nhiêu để lại trên những cánh đồng bằng, nhờ có một hệ thống thủy lợi hữu hiệu do một kỹ sư Pháp sửa mới lại và phát triển. Diện tích đồng ruộng tại Nam kỳ tăng từ 1.175.000 hecta năm 1900 đến 2.235.000 hecta năm 1928 [12]. Đất đai miền Nam phì nhiêu đến độ từ năm 1928-1940 Nam kỳ đã có thể xuất khẩu từ 1 đến 2 triệu tấn gạo mỗi năm, thêm vào đó một số lượng đáng kể đã chở bằng tàu ra Bắc và Trung kỳ [13]. Thí dụ, năm 1938, tổng số gạo thâu hoạch tại miền Nam lên đến 5.300.000 tấn, trong số đó 1.410.000 tấn được xuất khẩu.

Cùng năm đó, cả nước Việt-nam sản xuất được 7.740.000 tấn gạo, 650.000 tấn bắp, 20.000 tấn dầu phụng, 15.000 tấn đậu trắng, 30.000 tấn cơm dừa khô, 15.000 tấn trà, 75.000 tấn đường cát trắng, 15.000 tấn thuốc lá, 60.000 tấn cao su,… trong khi tổng số dân chỉ vỏn vẹn 18.600.000 người [14]. Kinh tế ruộng đất cơ bản nầy, dù lạc hậu đến đâu, đã khiến cho ba kỳ Việt-nam có được thế quân bình thương mại thuận lợi, nhất là khi miền Bắc bước những bước đầu tiên về kỹ nghệ hóa với những mỏ than khổng lồ ở Hòn-gay, nhà máy cement ở Hải Phòng, các trung tâm dệt vải ở Nam Định, và các công xưởng khác gồm hai nhà máy điện ở Vinh, Bến Thủy và tại miền Nam cất xong hãng chế đường Hiệp Hòa, tại Chợ lớn có máy xay lúa và các xưởng thuốc lá.

Các bảng thống kê nầy có thể bị lừa phỉnh. Trong khi hệ thống tư bản Pháp hưởng một sự thịnh vượng ngày càng tăng do ở chỗ độc quyền thương mại mà họ có chia xẻ cách tằn tiện cho các thương giá Huê kiều và một số nhỏ điền chủ và kỹ nghệ gia người Việt, đại đa số người dân Việt-nam sống từng ngày và đôi khi phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có miếng ăn. Như những tá điền trong đồng bằng sông Cửu Long, cu-li trong các đồn điền cao-su và cà-phê, các công nhân nơi cơ xưởng, hoặc thợ mỏ trong các khu vực đầy bịnh sốt rét, họ đã bị khai thác, đối xử tàn tệ, chỉ cho tạm sống và cấp dưỡng gia đình họ. Năm 1927, Hồ Chí Minh, bấy giờ lấy biệt hiệu là Nguyễn Ái Quốc đã ghi nhận như sau: "Thời trước, dưới chế độ An-nam, đất đai phân thành nhiều phạm trù tùy theo khả năng sản xuất. Các sắc thuế căn cứ vào sự phân loại nầy để thu. Dưới chế độ thuộc địa… khi tiền bạc còn thiếu thốn, quyền hành chánh Pháp chỉ cần cho thay đổi các loại đất (phạm trù) và người dân quê An-nam bắt buộc phải trả thuế ruộng đất hơn số huê lợi của ruộng đất có thể sinh lợi."

Roy Jumper và Marjorrie W. Normand đã chứng quyết sự xác nhận nầy về số phận của nông dân Việt-nam trong thời kỳ nầy: "Dầu tỉ lệ người nông dân thuê đất của các điền chủ vắng mặt ở Nam kỳ cao hơn ở Bắc và Trung kỳ, số phận của nông dân ở khắp cả ba miền đều khốn khổ. Sưu cao thuế nặng là nhân tố đã đóng góp vào việc bắt buộc những tiểu từ sản phải bán hoặc cầm cố tài sản của họ và sự cho vay nặng lãi đã sản xuất một hệ thống hư tệ của sự mắc nợ ở nông thôn. Một sự nhũng lạm khác gây nên sự nghèo khó lớn ở miền quê là do các độc quyền chính phủ thiết lập về sự mua và phân phối rượu, thuốc phiện và muối. Như vậy đã tước đoạt khỏi nhiều làng cách sinh sống phụ của họ [15].

Tại Nam kỳ, năm 1930, dân số lên đến 3.795.000 mà 2.300.000 hecta đồng ruộng được chia giữa 29% dân số nhằm lúc mà 94% sống tại vùng nông thôn. Trong số những điền chủ may mắn nầy, 2,5% chiếm hữu 48% ruộng đất, nhiều người chiếm giữ hơn 18.000 hecta, trong khi 97,5% dân chúng chia xẻ với nhau số ruộng đất còn lại [16], điều nầy có nghĩa là 71% dân chúng không có đất.

Năm 1912, chừng 7 triệu dân sống ở Bắc kỳ thấy ruộng đất phân chia giữa 23% dân số, song le 586.000 dân có ít hơn một hecta/người, trong khi đó có 238.000 người có từ 1 đến 5 hecta. 1.050 người chiếm hữu trên 50 hec ta. Điều nầy còn lại 85,7% dân không có ruộng đất.

Một số thợ thủ công nghiệp sống sung túc trong xứ trước khi người Pháp đến, đã lần lần bị loại bỏ vì sự nhập cảng ồ ạt những mặt hàng từ ngoại quốc. Tuy nhiên, một số thợ thủ công chỉnh đốn lại công việc, chẳng những chỉ sống nhưng cũng để khai triển nghề nghiệp của họ thành những cơ xưởng kỹ nghệ nhẹ, tỉ như nghề dệt chiếu tại Phát Diệm, Nam Định, dệt lụa và hàng tuýt-so ở Quảng Nam, v.v… Những nghề nầy trở thành nguồn giàu có thịnh vượng cho các khu vực đó.

Nói chung, dưới quyền cai trị của người Pháp, những trung tâm dân đô thị đã trải qua nhiều thay đổi và tối tân hóa vì cớ sự phát triển kỹ nghệ và thương mại, tùy theo đường lối của tư bản. Điều nầy khiến những thực dân Pháp, con buôn Hoa kiều và một số kỹ nghệ gia và điền chủ Việt-nam hưởng lợi nhiều, còn một giai cấp tiểu trưởng giả đang tăng gia cũng được hưởng lợi nhưng mức độ kém hơn. Đồng thời trong các nông thôn nơi trên 90% dân chúng sống, hệ thống kinh tế cũ chẳng được ảnh hưởng mấy đối với chương trình phát triển công chính và kinh tế của Nhà Nước.

Trước ngày có sự can thiệp của người Pháp, những làng Việt-nam, theo một ý nghĩa, là những đơn vị xã hội và kinh tế, nó bảo đảm an ninh xã hội cho đám thường dân. Giáo sư Vũ Quốc Thúc ở Trường Luật Saigon đã mô tả cuộc sống hương thôn của làng xã Việt-nam như là một tổng thể phức hợp những đặc trưng của xã hội, tôn giáo và chính trị: mỗi làng có Thành hoàng hoặc Thổ thần mà mỗi người dân phải thờ trong các lễ nghi công cộng, những người già nhất là thầy tế lễ cả cho cuộc thờ cúng, và cũng là chức sắc trong làng. Chính sự thờ cùng Thành hoàng cung ứng cho làng hình thức quản trị, và chính tổ chức tôn giáo nầy đã trở nên nồng cốt của xã hội Việt-nam.

Giáo sư P. Gourou, một trong những người có uy thế nhất về nhân văn địa lý ở miền Bắc Đông dương trước đệ nhị thế chiến đã khéo léo nhận xét như sau: "Tại miền trung châu Bắc bộ, một người chỉ được thực tại như là một suất đinh trong làng, vì không thể tưởng tượng được rằng một người nên sống một mình hoặc chỉ có gia đình mình ở xung quanh. Điều nầy cũng đúng đối với dân cư ở Bắc Trung kỳ và với mức độ kém hơn, đối với dân ở Trung và Nam Trung bộ."

Tuy nhiên, tại Nam kỳ, xã hội Việt-nam lần lần được cấu tạo lại dưới quyền cai trị của thực dân. Càng ngày những chức viên người Việt được người Pháp huấn luyện đảm nhiệm sự kiểm soát hành chính địa hạt trong lúc các ông chủ Pháp cầm quyền trên toàn tỉnh, những kỳ mục trong làng xã thấy quyền bính cổ truyền trên các làng xã lần lần sụp đổ. Chính sách của Pháp, đặc biệt ở miền Nam có khuynh hướng nhấn mạnh trên cá nhân chống với trách nhiệm của cộng đồng hương thôn. Nói chung, làng Việt-nam khăng khăng giữ địa vị nguyên thủy của đời sống nông thôn nhưng nó đã mất tánh kết hợp và tự trị khá nhiều, ngay trước ngày có cuộc cách mạng tháng 8-1945 là biến cố dẫn nhập một kỷ nguyên mới trong sự phát triển kinh tế của xứ.

HỆ THỐNG GIÁO DỤC:

Quan thái thú Sĩ Nhiếp đã chính thức dẫn nhập Hoa văn cổ điển vào Việt-nam vào cuối thế kỷ thứ II. Trải qua nhiều thế kỷ, các chùa là trung tâm chính của giáo dục, nơi đó các vị sư học giả làm thầy giáo. Chương trình bao hàm triết học tôn giáo Đông phương, tức là Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo. Hệ thống nầy trải qua ít cải cách khi Việt-nam giành lại quyền độc lập từ tay Trung quốc trong thế kỷ thứ X, nhưng chương trình có hệ thống đầu tiên về nền giáo dục phổ thông không được tổ chức cho đến khởi đầu nhà Lý (1010-1125). Những sự thay đổi lần lần xảy đến trong đời nhà Trần (1225-1400), và các sách Phật và Đạo giáo cuối cùng bị bỏ khỏi chương trình chính thức bởi vua Lê Thái Tổ (1420-1433). Các văn bản Khổng giáo tức Ngũ Kinh và Tứ Thư được giải thích bởi trường phái nhà Tống trở nên những sách cổ điển duy nhất được dùng trong các trường học và trong các khoa thi chính thức. Cứ ba năm, triều đình lại mở khoa thi để kén chọn nhân tài cho ra làm quan. Như vậy, Khổng giáo duy trì được ưu thế văn hóa giáo dục của nó cho đến đầu thế kỷ thứ XX, trên ba mươi năm sau khi nước Việt-nam mất quyền độc lập về tay người Pháp.

Song song với chương trình giáo dục cổ điển Trung hoa, nền giáo dục phổ thông cũng được khai triển. Những thi ca, dân ca và châm ngôn được soạn bằng tiếng Việt và viết theo lối chữ Nôm, truyền bá những quan điểm luân lý và triết học, văn hóa ở giữa vòng dân thường. Một sự thay đổi bi thảm xảy đến tại Nam kỳ ngay sau khi được sát nhập làm thuộc địa của Pháp năm 1867, sự dạy Hán văn cổ điển được chính thức loại bỏ, các trường sơ học, tiểu học, được thiết lập trong các đô thị để dạy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp.

Cuộc cải cách không được thực hiện tại Bắc kỳ và Trung kỳ cho đến năm 1908, khi một Ủy Ban Cải Cách Giáo Dục được chỉ định để soạn thảo một hệ thống ba cấp vẫn còn đặt trọng tâm trên văn chương cổ điển Trung hoa, nhưng cộng thêm quốc ngữ là một đề tài bắt buộc và tiếng Pháp như là một môn nhiệm ý. Tuy nhiên, hệ thống chấp nối nghèo nàn nầy không kéo dài bao lâu, vì những khóa thi ba năm về văn chương cổ điển Trung hoa năm 1915 bị bỏ ở Bắc kỳ, và ba năm sau đó tại Trung kỳ cũng bỏ luôn. Cuối cùng hệ thống giáo dục trải qua ngàn năm bị bãi bỏ.

Ngày 21.12.1917, một chương trình giáo dục Pháp - An nam ra đời và được thực hiện bởi Tổng Nha Giáo Dục tại Đông Pháp. Hệ thống giáo dục mới nầy cùng với nền giáo dục chấp nhận tại Nam kỳ lại trải qua nhiều thay đổi trong năm kế tiếp, nhưng cơ cấu căn bản vẫn như sau:

  1. Cấp sơ học 3 năm, dùng quốc ngữ làm ngôn ngữ chính với mấy giờ Pháp văn và 2 giờ Hán văn mỗi tuần.
  2. Cấp tiểu học 3 năm, phần chính bằng tiếng Pháp.
  3. Cấp Cao đẳng  tiểu học (Thành chung) 4 năm bằng tiếng Pháp.
  4. Cấp Cao Trung 3 năm bằng tiếng Pháp.

Cấp cao học của vài trường cao đẳng tại Hà-nội được thiết lập bởi quan Toàn quyền Paul Bert năm 1907. Trường Đại học nầy tạm thời đóng cửa bởi Antoni Klotu Kowski và mở lại bởi Albert Sarraut, gồm trường Y khoa và Dược khoa, trường Sư phạm, Luật và Quản trị, Công chánh, Canh nông, Thú ý, Doanh nghiệp. Những trường nầy phần chính thiết lập để huấn luyện các chuyên viên kỹ thuật giúp người Pháp trong các chức dịch dân chính, chúng tôi dùng chữ của sử gia danh tiếng Đào Duy Anh, mãi đến năm 1936, mới có một trường Đại học xứng đáng với danh hiệu đó được thiết lập tại Hà-nội.

Tuy nhiên, ngay vài chục năm sau, hệ thống giáo dục Pháp đã mang một vài khuyết điểm cả về số lượng lẫn phẩm chất. Dân số đi học năm 1913 chỉ có 46.000 được đưa lên 72.000 trong tổng số 600.000 đáng được nhận vào học năm 1924. Tại Nam kỳ, với dân số 6.000.000 năm 1931 chỉ có 2.167 học trò có thể theo học các trường Trung học. Người ta ước chừng cũng trong năm đó, có ba triệu trẻ em đến tuổi đi học trong khắp xứ hầu như được chia đôi giữa nam và nữ, ít hơn 1/3 trò nam và 1/40 trò nữ có thể nhận được nền giáo dục sơ học. Theo cùng một nguồn tin đó, năm 1930, chừng 45.000 học trò đã phải học trường tư thục trong cả xứ Đông dương mà trong số đó có 34.000 được ghi tên ở các trường tôn giáo. Trong niên khóa 1937-1938 có 352.365 học sinh ở sơ cấp, 57.412 ở trường tiểu học, 4.552 trong trường cao đẳng tiểu học, trong khi một số học sinh theo học các trường cao trung tại khắp xứ, lúc ấy dân số tăng đến 20 triệu và chỉ có 400 học sinh. Cũng trong năm ấy, sinh viên đại học trong cả xứ Đông dương chỉ vỏn vẹn 547 người.

Năm 1944, dân số đi học tăng lên đến 900.000 trong các trường sơ học và tiểu học, và 4.000 trong các trường cao trung. Trong khi đó có 1.500 sinh viên đại học Hà-nội, là đại học duy nhất của Liên Bang Đông dương, 77% của Liên Bang gồm có người Việt-nam, Lào, Kaphuchia (người Pháp, những người có quốc tịch khác chiếm phần còn lại). Một sử gia Pháp ghi lại: "Một phần tỉ lệ lớn của dân cư vẫn thất học, dầu sự tiến bộ đã thấy rõ".[17]

Những con số trên chỉ rõ một sự khác nhau lớn bất thường giữa các nhóm dường như chỉ rằng quyền cai trị của người Pháp không những chỉ miễn cưỡng cung cấp đủ số trường cho các trẻ em đến tuổi đi học, mà còn cố làm nản lòng ít nhất cũng là gián tiếp, nền cao học giữa vòng người Việt-nam bằng cách áp đặt một hệ thống thi cử khó khăn để chỉ cho đậu từ 10 đến 30% số thí sinh mỗi năm, kể cả các cấp học thấp nhất. Tỉ dụ, trong năm 1936-1937, chỉ có 47.293 người đậu bằng sơ học yếu lược, trong khi đó 496.032 được ghi tên vào học chương trình ba năm tại các trường Công lập và tư thục [18]. Chính sách giáo dục nầy là nguyên do của số bách phân cao của nạn thất học. 80% theo Hoàng văn Chí, tác giả cuốc sách trứ danh Từ chủ nghĩa thực dân đến chủ thuyết Cộng sản, nạn mù chữ đó chiếm ưu thế trong xứ, ngay từ lúc khởi đầu cuộc cách mạng năm 1945 [19]. Virginia Thompson đã ghi chú thích đúng rằng "trong một xứ mà tiêu chuẩn trình độ học vấn bao giờ cũng cao, thì đa số trẻ em phải ở trong cảnh hoàn toàn không bỏ học."[20]

Tình trạng nầy trở nên càng đáng kinh khiếp hơn khi người ta nhận thấy rằng người Việt-nam trung bình có thể học đọc và viết chữ quốc ngữ, trong một hoặc hai tháng tại các lớp học tối, như Bình dân Học vụ đã thành công trong sự gắn bó để xóa bỏ nạn mù chữ ở Bắc bộ và miền Bắc Trung bộ năm 1950, nhất là trong lãnh thổ do Việt-nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát./.

[1] Tin tức niên giám mới, The New Information Almanac 1970 (Atlas and Year-book, New York, Liên hợp Don Colonpaul, 1970, trang 324-25).
[2] Bernard B. Fall, Hai nước Việt-nam (New York, Frederick A. Praeger, 1963) trang 6, 151. Hội ngôn ngữ học Summor Institute of Linguistic Vietnam Minority Languages
Ngôn ngữ dân tộc thiểu số Saigon SIL 1964, trang 1, 4.
[3] Việt-nam Cộng Hòa, Lời dẫn nhập về Việt-nam (Washington, DC. Tòa Đại sứ Việt-nam, nd. Trang 9, Fall Lec. Cit.
[4] Fall, Lec. Cit, sách đã dẫn
[5], 6, 7, như trên, sách đã dẫn
[8] Joseph Huttinger Cp, cit, trang 19 sách đã dẫn
[9] Trần Trọng Kim, Việt-nam Sử Lược (Saigon, Tân Việt, 1964) trang 28 tt, Huttinger, sách đã dẫn, trang 21
[10] Marvin E. Gontleren, Việt-nam lịch sử, những tài liệu và quan điểm trên một khủng hoảng nghiêm trọng trên thế giới (New York, Faucette World Library, 1966) trang 20.
[11] Nguyễn văn Thái và Nguyễn văn Mừng, Một Sử Ký Ngắn Gọn về Việt-nam (Saigon, The Times Publishing Co. 1958, trang 265-71).
[12] Bernard Newman, Bối Cảnh cho Việt-nam (New York, The New American Library, 1966) trang 64.
[13] Phan Khang, Việt-nam Pháp Thuộc Sử (Saigon, Khai trí, 1961) trang 23.
[14] Vũ Quốc Thúc, L'économie Commubaliste du Vietnam (Hànội, Preseses Universitaires 215) t. 198.
[15] Fall, sách đã dẫn, t. 293.
[16] Roy Jumper và Marjorries W. Norman, Vietnam Bối Cảnh Lịch Sử , NXB Marvin E. Gentlemen, New York, Faucette World Library 1966)t. 23.
. Phan Khoang, sách đã dẫn, t.428 tt
. P. Gourou, Những xứ nhiệt đới (Paris, Press Universitaires de France Co 1947, do Vụ Quốc Thúc trưng dẫn) t.33.
[17] Paul Isoart Le Phouomene Nohonal Vietnamion: De L'independence Unitaire à L'independence Fractinné (Paris Labrarie Generale de Droit et de Jurisprudence 1961) t.275.
[18] John S. Furnival, Sự Tiến bộ trong Ngành Giáo Dục tại Đông Nam Á (New York, Institute of Pacific Relotions 1943) t. 85tt.
[19] Hoàng văn Chí, Từ Chủ Nghĩa Thực Dân đến Chủ Thuyết Cộng sản, Trường hợp Lịch sử Bắc Việt-nam (New York, Frederick A Praeger 1984) t.68
[20] Virginia Thompson, Đông dương thuộc Pháp (London, Alen and Irwin, 1937) t. 305tt.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 2 guests online.

Hosting by