You are here1984-1989

1984-1989


By admin - Posted on 27 June 2008

1984-1989

Ngày 14-7-1984, trong cuộc họp của các MSTĐ tại Nhà thờ đường Tô-Hiến-Thành, Mục sư Hội Trưởng đã vội vàng cho cử một Ban gọi là “Ban Đường Hướng” theo đề nghị của Ms Nguyễn văn Quan, trong đó Ms Quan làm Trưởng ban. Mục đích là để soạn thảo một Văn bản muốn Hội thánh Tin Lành ở Miền Nam theo khuôn mẫu của Hội thánh tại Miền Bắc, xác định ủng hộ Chánh quyền. Đổi lại, Chánh quyền hứa sẽ cho Hội thánh Hai Miền thống nhất và được tư cách pháp nhân. Nhưng việc nầy gặp phản ứng của đa số quyết định giữ tinh thần thuần túy tôn giáo. Thêm vào đó có nguồn tin là Ban nầy sẽ thay thế Ban Trị Sự Địa Hạt Miền Đông Nam Bộ, cho nên việc cũng không thành. Hậu quả tạo nên sự rõ nét những thế lực trong vòng MSTĐ Đông Nam Bộ: một số dựa vào Ms Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng; một số muốn được sự ủng hộ của Chánh quyền với hai Nhóm: Nhóm của Ms Trần Bá Thành dựa vào Ms Hội Trưởng và Nhóm của Ms Nguyễn văn Quan.

VĂN BẢN THAM KHẢO
(Trích Thông cáo số 20/84/ĐHĐNB/TC của Văn phòng Địa hạt Đông Nam Bộ, ngày 25-6-1984.

Khoản III. Về Ban Soạn thảo Bản Đường Hướng của Hội thánh Tin Lành Việt-nam trong Tp.HCM.
Chúng tôi tin rằng theo sự trình bày rất rõ ràng của chúng tôi trong buổi họp chiều ngày Bồi linh của các Ông Bà MSTĐ chúng ta họp tại phòng họp của Hội thánh Tô-Hiến-Thành, Quận 10, Tp.HCM, vào chiều ngày 17-4-1984 vừa qua, không ai có thể hiểu sai lầm được rằng tôi xin phép đề cử (vì không thể bầu cử như phải có) một Ban gồm có 6 MSTĐ hiệp với tôi chỉ để soạn thảo một Bản Đường Hướng tóm tắt như có đính kèm theo đây, để trình xin UB Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố giúp đỡ Hội thánh Tin Lành Việt-nam tại trong Thành phố HCM được có danh nghĩa, có pháp nhân trước luật pháp. Vì chúng ta là những công dân ở trong phạm vi Tp.HCM không thể vượt khỏi giới hạn của chúng ta, quyền hạn của Chánh quyền trong Tp.HCM cũng chỉ trong phạm vi Thành phố như lời của UB Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố đã cho biết. Chúng tôi đương đợi sự cứu xét của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố qua UB Mặt Trận Tổ Quốc TP.HCM, rồi chúng tôi thông báo cho toàn thể Tôi Tớ Con Cái Chúa trong Thành phố được biết để chúng ta tìm dịp thuận tiện và được phép có buổi họp chung cùng nhau chung lo Nhà Chúa trong Thành phố đạt được mục đích nói trên.
Chúng tôi có ý chờ đợi sự giúp đỡ của Chánh quyền rồi thông báo một lần cho tiện, nhưng nay nghe có nhiều tin đồn quá ư thất thiệt, không rõ bởi sự vô tình hoặc hữu ý của số người xuyên tạc gieo sự hoang mang cho các con cái Chúa, nên chúng tôi xin có mấy dòng thông cáo nầy để dập tắt những tin đồn thất thiệt đáng tiếc như hiện lây lan đây đó, có hại cho công việc chung của Nhà Chúa. Xin chúng ta hiểu một cách đúng đắn như lời chúng tôi đã công bố trong buổi chiều Hội Đồng Bồi linh nói trên là Ban nầy chỉ có một việc soạn thảo Bản Đường Hướng như đính kèm đây, chớ không phải là một Ban Hành chánh, không phải là của Tổng Liên Hội hoặc của Địa Hạt, chỉ riêng một việc trong Thành phố HCM mà thôi. Rất mong Chúa ban ơn cho lời Thông cáo nầy được chấm dứt những tin đồn vô căn cứ, thất thiệt có ý xuyên tạc, phá hoại khiến cho một số con cái Chúa hoang mang rất đáng tiếc.

...............................................

Mục sư Ông Văn Huyên

CÁC SỰ NGĂN TRỞ VU CÁO CỦA
MỤC SƯ TRẦN BÁ THÀNH ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG VĂN BẢN
XÁC ĐỊNH NIỀM TIN VÀ CUỘC SỐNG NGƯỜI CƠ-ĐỐC
Trích thư của Ms Nguyễn văn Quan không ghi ngày)

-/-
VIỆC NGĂN TRỞ XIN 5.000 KINH THÁNH
Từ thập niên 80, do cuộc vận động của Mục sư Bùi Hoành Thử và Mục sư Nguyễn văn Phương, Hội thánh Tin Lành Việt-nam (HTTLVN), Hội thánh Tin Lành Cộng hòa Dân Chủ Đức và Cộng hòa Liên bang Đức đã biếu tặng Hội thánh Tin Lành Việt-nam 20.000 quyển Kinh thánh Tân Cựu Ước và 20.000 Thánh ca để dùng trong các sự thờ phượng của HTTLVN, số Kinh thánh (KT) và Thánh ca (TC) nầy được nhập vào cảng Hải phòng. Chính Tiến sĩ Hansotte Hahn là người trao tượng trưng hai quyển KT và TC cho HTTLVN Miền Bắc có nói rõ: Trong 20.000 KT và 20.000 TC đó 10.000 KT và 10.000 TC cho HTTL Miền Bắc và 10.000 KT và 10.000 TC cho HTTL Miền Nam. Vì vậy, tất cả MSTĐ và tín hữu HTTLVN Miền Nam đều mong mỏi, vì KT, TC vốn có tại Miền Nam ngày càng cũ rách, nên rất nhiều, thậm chí khi HTTLVN Miền B8ác phân phát số KT cho Hội thánh ngoài đó, thì chính một số MSTĐ và tín hữu tìm cách ra mua lại, trong đó có Ms Trần Bá Thành cử ông Trần Hữu Am đi mua 50 bộ KT và 50 bộ TC, trong số những người đi mua như thế thì cũng có người mua đi bán lại để kiếm lời lên gấp hàng chục lần.
Đầu năm 1985, UBMTTQ Quận 10 có tổ chức đoàn đi tham quan Miền Bắc, trong đó có tôi và Châu văn Đằng là một chức viên của Hội thánh Bàn Cờ, trong đoàn cũng có Ms Trần Bá Thành, Tđ Phan Quang Thiệu, Tđ Nguyễn A-se và một số tín hữu Tin Lành. Được sự khuyến khích của ông Nguyễn văn Đông và chị Nguyễn thị Thanh Tuyền trong Ban Tôn Giáo UBMTTQ Thành phố, tôi làm đơn xin cho HTTL Bàn cờ 500 KT và 500 TC, Cụ Ms Ông văn Huyên cũng làm đơn ủy quyền cho tôi xin cho HTTLVN (TP) 5.000 KT và 5.000 TC và được ông Trần văn Cầu giới thiệu rất tốt. Nhưng tôi không biết có sự hội ý giữa ông Hoàng Minh Viễn, Ms Trần Bá Thành và bà Đoàn Lê Hương thế nào, mà đã có sự “Góp ݔ ngăn trở của bà Đoàn Lê Hương với ông Trần văn Cầu trước lúc đoàn lên đường. Dẫu vậy, tôi cũng không hề hay. Khi ra đến khách sạn ở Hà-nội, tôi xin phép ông Hoàng Minh Viễn, trưởng đoàn, cho tôi lên Ban Tôn giáo Trung Ương trình đơn, thì ông hẹn đi hẹn lại hai ba lần, tôi đến mời ông Ms Bùi Hoành Thử, ban đầu ông Ms Thử từ chối và can tôi không nên đi, sau lại ông cho biết ông Hoàng Minh Viễn ra trước và đã nói với ông rằng, vì ông Trần văn Cầu chứng nhận đơn xin KT của Cụ Ms Ông văn Huyên và của tôi, mà ông bị đem ra chi bộ Mặt Trận kiểm điểm, đồng thời ông nói: theo lời ông Hoàng Minh Viễn nói với ông, nếu tôi đem đơn xin KT, TC lên Ban Tôn giáo TW, thì khi về Công an sẽ làm khó tôi. Sau đó, tôi hỏi lại ông Hoàng Minh Viễn, thì ông Viễn cho biết rằng: ông không có nói như thế, mà chỉ nói với ông Ms Thử rằng: vì sự chứng của ông Trần văn Cầu, Phó Chủ tịch thường trực UBMTTQ TP., mà bà Đoàn Lê Hương, CT UBMTTQ Quận 10 đã góp ý với ông. Tôi thấy việc ấy không có gì quan trọng, nên sau đó tôi xin phép ông Hoàng Minh Viễn, tôi cùng ông Châu văn Đằng lên Ban Tôn giáo, được ông Trần An Phong tiếp và khi xem đơn xong, ông hứa đồng ý giải quyết (nhưng còn phải hỏi lại địa phương ?). Sau đó im lặng luôn. Sau khi trở về Nam, tôi đến thăm ông Trần văn Cầu, ông Nguyễn văn Đông, hỏi thăm có rắc rối gì trong việc chứng đơn của chúng tôi và Cụ Ms Ông văn Huyên trong việc cin KT, TC kể trên không ? Thì các ông cho biết, đó là chức năng của các ông chớ không có gì sai cả ! Nhưng khi đến thăm Cụ Ms Hội Trưởng, thì Cụ hoảng hốt cho rằng việc ấy “nguy lắm”, vì Cụ nghe lời Ms Trần Bá Thành hù dọa Cụ. Nhưng tôi trấn an Cụ và cho biết rằng không có gì rắc rối cả, vì tôi đã hỏi ông Trần văn Cầu và UBMTTQ-TP rồi. Sau đó bà Đoàn Lê Hương thông qua ông Hoàng Minh Viễn và ông Nguyễn văn Hảo Phó Chủ Tịch UBMTTQ Quận 10 đưa việc nầy ra trong bản báo cáo Quí 2/1985 với lời buộc tội: ông Ms Nguyễn văn Quan làm đơn xin mua KT, TC. Mặt Trận góp ý không nên. Tôi có dịp trình bày việc Cụ Ms Ông văn Huyên và tôi làm đơn xin KT, TC, là việc Nghị quyết 297/Tg có qui định cho phép, có phép xuất bản của Bộ Thông tin Văn hóa, có phép nhập, và đã phân phát cho tín đồ Miền Bắc. Vì vậy, việc chúng tôi làm đơn xin, có sự giới thiệu của UBMTTQ-TP là hợp lệ. Để sửa sai, ông Hoàng Minh Viễn đã cho thâu hồi lại bản báo cáo đó và làm lại bản khác không có đề cập đến vấn đề nầy; nhưng ông cũng bào chữa rằng: sở dĩ ông ngăn như vậy vì Ms trong đoàn hôm đó không đồng ý việc tôi xin KT, TC (kỳ thật là tôi được Cụ Ms Ông văn Huyên ủy quyền cho tôi nhận và đem về, còn đơn xin là do Cụ đứng tên). Điều cần nói thêm rằng, trong chuyến đi Hà-nội kể trên, ông Hoàng Minh Viễn có nhờ, qua ông Ms Trần Bá Thành trao đến tay ông Nguyễn Đình Tứ (anh em cột chèo với ông Ms Trần Bá Thành) đơn của ông Hoàng Minh Viễn, nhờ ông Bộ Trưởng Đại học và Chuyên nghiệp can thiệp cho con ông là sinh viên trường Đại học nào đó tại thành phố, đang bị trở ngại về vấn đề gì đó. Còn ông Nguyễn văn Hảo lại nhờ ông Ms Trần Bá Thành gởi thơ cho ông Ms Nguyễn Long Giáp đang ở Úc, nhờ bảo lãnh giúp con ông vượt biên, ở đảo, có thể vào được nước Úc. Do vậy mà có sự cấu kết để ngăn chận việc xin KT, TC của Cụ Ms Ông văn Huyên và của tôi, như đã trình ra bên trên. Sau đó, đến ông Võ Ái Dân, làm Chủ Tịch UBMTTQ Quận 10, tôi đã đề nghị Cụ Ms Ông văn Huyên làm đơn xin lại lần thứ hai 5.000 KT và 5.000 TC có sự chứng nhận của ông Trần văn Cầu và ông Võ Ái Dân, nhưng ông Võ Ái Dân cũng được ông Ms Trần Bá Thành góp ý thế nào, rồi sau đó cũng bị ngăn trở. Có điều xin nói rõ là: sau một thời gian ông Phạm Hùng qua đời, rồi sự việc cũng rơi vào im lặng cho đến ngày hôm nay, mất biệt.

Biến cố về Ms Đinh Thiên Tứ 1986-1988
Từ tháng 6/1975, Ms Đinh Thiên Tứ về làm chủ tọa Hội thánh tại đường Tuy Lý Vương. Đây là một Hội thánh không lớn lắm, sự nhóm lại thưa thớt, những buổi Truyền giảng thường không có thân hữu. Tình trạng đó kéo dài đến tháng 11/1983, khi Hội thánh tại An đông và Trần Cao Vân bị đóng cửa, đa số tín đồ tại hai Hội thánh đó kéo về Hội thánh tại Tuy Lý Vương, hiệp tác với Ms Tứ, mang theo tinh thần nóng cháy truyền giảng Tin Lành.
Những bài giảng của Ms Tứ lúc bấy giờ thỉnh thoảng căng với Chánh quyền, nhưng thu hút rất nhiều người, nhất là giờ truyền giảng mỗi tối Chúa nhật. Mặc dù Chánh quyền chỉ cho Hội thánh tại Tuy Lý Vương nhóm 1 giờ 30 phút mỗi sáng và tối Chúa nhật, nhưng sự hạn chế thì giờ không thể hạn chế lòng yêu mến Chúa của tín hữu và lòng yêu mến linh hồn tội nhân.

Khi công việc đang phát triển, thì vấn đề xảy ra…

I/. Nguyên nhân:

1/. Ý kiến của Ms Hội Trưởng Ông văn Huyên kiêm Chủ nhiệm Đông Nam Hạt và Ban Trị sự Địa Hạt Đông Nam Bộ:

- Ông Tứ chưa được phong chức Mục sư, lại tự ý thi hành chức năng Mục sư như làm báp têm, chúc phước, cử hành Lễ Hôn phối.
- Ông Tứ dạy sai Giáo lý (13 bài Phước Âm Yếu Chỉ do Ms Tứ soạn, trong đó có các phần gây tranh cãi như câu:
-Chấp nhận không có Đức Chúa Trời là từ huề đến lỗ. Chỗ tranh cãi là người không nhận có Đức Chúa Trời thì không thể HUỀ ĐƯỢC, mà chỉ có lỗ.
-Vấn đề Báp têm lại. Ms Tứ khuyên Tân Tín hữu có gốc Công Giáo Lamã lúc nhỏ đã chịu Bí-tích rửa tội, bây giờ qui đạo phải làm báp têm lại. Cách giải thích vô tình bị hiểu là chủ trương phải báp têm lại do chính Ms Tứ làm.
-Về ngày Giỗ kỵ. Ms Tứ chấp nhận cho Giỗ kỵ để truyền giảng Tin Lành.
- Ông Tứ cử hành một tháng hai lần Tiệc thánh, trái qui định của Hội thánh Tin Lành Việt-nam là mỗi tháng một lần.
- Các nhân sự của Ông Tứ hoạt động dẫm chân các Hội thánh khác. Như khi các nhân sự đó đến một địa phương nào đó làm chứng. Khi có người tin Chúa, thay vì chuyển giao cho Hội thánh địa phương, thì các nhân sự đó tự dạy giáo lý, rồi tự đưa những người đó đến Hội thánh tại Tuy Lý Vương để Ms Tứ làm báp têm, mà không thông qua các MSTĐ địa phương.
Trong một lần trò chuyện tại Nhà thờ Khánh hội, Ms Lương văn Sấm – Thơ ký Địa hạt Đông Nam Bộ, đã nói với Ms Trần Thái Sơn: “Cầu thủ dầu có đá hay (ám chỉ Ms Tứ), nhưng cứ đá vào chân người khác (Dẫm chân người khác), thì trọng tài cũng phải thổi phạt”. Đáp lại Ms Sơn đã nói: "Nếu có phạt thì chỉ phạt thẻ vàng, đừng phạt thẻ đỏ".

VĂN BẢN THAM KHẢO:
Văn thư số 06-87/ĐHĐNB/VP, ngày 22/6/1987 của Địa hạt Đông Nam Bộ.
………………………………………….
Kính gởi: TRUYỀN ĐẠO ĐINH THIÊN TỨ
Hội thánh Tin Lành 71 Tuy Lý Vương, Quận 8
Tp.HCM

(Trích yếu: v/v THI HÀNH CHỨC VỤ ĐÚNG NHƯ TINH THẦN TỔ CHỨC CỦA HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM)

Chúng tôi nhận thấy các sinh hoạt trong Hội thánh Tin Lành Tuy Lý Vương nhiều điều không đúng với tinh thần tổ chức của Hội thánh Tin Lành Việt-nam. Xin Chủ tọa và Ban Trị sự điều chỉnh lại để hiệp với sinh hoạt của các Hội thánh trong Hội thánh Tin Lành Việt-nam:

1/- VỀ LỄ TIỆC THÁNH: Thể thức và thì giờ giữ Lễ Tiệc thánh mỗi Giáo phái trong Cơ-Đốc giáo khác nhau; nhưng thuộc Giáo phái nào thì giữ Lễ đó nhất trí. Hội thánh Tin Lành Việt-nam chúng ta nhất tề giữ Lễ Tiệc thánh vào mỗi sáng Chúa nhật đầu tháng. Có Hội thánh không họp được đông đủ buổi sáng, thì cử hành buổi chiều; ngoại trừ trường hợp Hội thánh không có chủ tọa, thì Ban Trị sự Hội thánh nhờ chủ tọa Hội thánh phụ cận đến giúp đỡ vào tuần lễ thứ hai, đó là trường hợp đặc biệt ngoại lệ.
2/- VỀ GIÁO LÝ: Dạy cho những người cầu lễ Báp-têm. Hội thánh Tin Lành Việt-nam chúng ta đã có Phước Âm Yếu chỉ được công nhận và phổ biến đã 70 năm nay. Chúng ta tùy theo khả năng và trình độ mà dạy cho những người cầu Lễ Báp-têm. Những sách vỡ hoặc tài liệu nào chưa được Ban Soạn duyệt Thư Tịch của Hội thánh Tin Lành Việt-nam xét nhận và chưa được Văn hóa Thông tin của Nhà Nước cho phép, thì không được phép sử dụng và phổ biến. Vậy xin ông rút lại bản Phước Âm Yếu Chỉ của ông đã soạn và phổ biến, mặc dầu ông đã nói với chúng tôi là ông chỉ dùng nội bộ. Xin ông thu hồi, đợi khi nào cơ quan hữu trách chấp thuận thì mới được phép sử dụng.
3/- VỀ PHẠM VI SANH HOẠT CỦA HỘI THÁNH: Hội thánh Tin Lành Việt-nam chúng ta ở mỗi Hạt, mỗi địa phương đều có những Mục sư, Truyền đạo chịu trách nhiệm chăm sóc tín đồ, chứng đạo trong địa phận mình; ngoại trừ các cơ quan lúc trước đã có là: Truyền đạo lưu hành, Truyền đạo Sâu rộng, v.v… do Tổng Liên Hội hoặc Địa Hạt tổ chức và chịu ttrách nhiệm. Không được dẫm chân lên địa phận của nhau; các Mục sư, Truyền đạo, cũng như tín đồ qua Hội đều phải theo sự chỉ dẫn của Điều lệ Hội thánh Tin Lành Việt-nam. Vậy, xin ông phải sửa lại mọi sanh hoạt cho đúng với đường lối của Hội thánh Tin Lành Việt-nam hiện nay:
4/- Trong phạm vi của Hội thánh Tin Lành Việt-nam, chúng ta có sự thông công với nhau để giữ dây liên lạc của Thánh Linh. Chúng tôi nhận thấy mọi sanh hoạt của ông có tánh cách chia rẽ và biệt lập. Cũng có thể nói ông muốn xây dựng một tổ chức riêng nằm trong Hội thánh Tin Lành Việt-nam. Vậy, xin ông phải sửa lại điều nầy như đã làm từ trước. Chúng tôi rất hoan nghênh, cổ võ và khích lệ các Hội thánh, các Tôi tớ con cái Chúa có tính thần phục vụ Chúa, sốt sắng chứng đạo cứu người và xây dựng thân thể Đấng Christ. Song chúng ta phải làm trong Thánh Linh và trong vòng trật tự, không đảo lộn thứ bậc của mình đương có. Chúng tôi trao Văn thư nầy, xin ông ý thức tinh thần trách nhiệm mà sửa lại theo 4 điều nói trên đây. Nếu ông không chịu sửa lại, thì chúng tôi nhận thấy ông đã tự ý ra ngoài Hội thánh Tin Lành Việt-nam, thì chúng tôi buộc phải đối xử với ông trong cương vị đó. Cầu Chúa ban ơn dẫn dắt ông và Hội thánh trong mọi sanh hoạt thông công chung với nhau như đã có trước khi Hội thánh Trần Cao Vân và An Đông bị bế tắc. Cầu Chúa ban ơn cho ông được hướng dẫn dùng dây hòa bình giữ sự hiệp một của Thánh Linh.

HỘI TRƯỞNG KIÊM CHỦ NHIỆM ĐỊA HẠT ĐÔNG NAM BỘ Mục sư ÔNG VĂN HUYÊN

Văn thư số 09-87/ĐHĐNB/VP, ngày 23-7-1987 của Địa Hạt Đông Nam Bộ
……………………….
1
/- Nhắc lại và xin ông cứ giữ ban Tiệc Thánh vào mỗi sáng Chúa nhật đầu tháng. Ông nên cử thêm số người phụ ttrách để kịp thì đưa bánh và chén cả hai Lễ vào sáng Chúa nhật hoặc chiều Chúa nhật đầu tháng trước thì giờ truyền giảng, để đồng thông công với cả Hội thánh Tin Lành Việt-nam được nhất trí.
2/- Về chức vụ Mục sư của ông: Về mọi thủ tục phong chức Mục sư cho ông và 3 ông Thái Phước Trường, Võ văn Lạc và Trương văn Ngành, đều do Ban Trị sự Tổng Liên Hội và Ban Trị sự Địa hạt Đông Nam Bộ tiền nhiệm sắp đặt cử hành Lễ Tấn phong Mục sư vào ngày Lễ Phục sinh năm 1977. Lúc ấy tôi mới vào ở tại Trụ sở 07 Trần Cao Vân, không có dịp dự phần. Sau tôi có nghe 3 ông kia được giấy phép cử hành Lễ phong chức Mục sư ngày đó. Về phần ông thì cử hành sau ngày đó, vì chưa có giấy phép, nên ông Chủ nhiệm đương thời là Ms Phạm văn Thâu, cũng là Chủ tịch Hội đồng thẩm vấn và tấn phong không dự. Ông Thơ ký Hội đồng thẩm vấn và tấn phong Mục sư là Ms Nguyễn thành Sơn cũng không dự. Rốt cuộc, ông Ms Nguyễn Thanh Hằng giảng một bài ngắn cho các MSTĐ đương họp tại đó và Cụ Cố Ms Trần Xuân Hỉ tuyên bố làm LỄ ĐẶT TAY CẦU NGUYỆN THÊM SỨC cho ông mà thôi. Nên sau đó, cố Ms Phạm văn Thâu với tư cách là Chủ tịch Hội đồng thẩm vấn và tấn phong Mục sư có văn thư gởi ông đề ngày 10/5/1977, nội dung nhắc nhở và lưu ý ông như sau:
...ĐANG KHI CHỜ ĐỢI SỰ CHẤP THUẬN CHO PHÉP CỦA CHÍNH QUYỀN VỀ VIỆC LÀM LỄ TẤN PHONG MỤC SƯ CHO ÔNG, ĐỀ NGHỊ VỚI ÔNG KHOAN (ĐỪNG) THI HÀNH CÁC GIÁO NGHI ĐƯỢC ẤN ĐỊNH CHO MỤC SƯ... (Có bản sao phóng ảnh đính kèm)
Tôi không được rõ lắm, tôi nghĩ rằng 03 ông kia đã được hành chức, thì chúng tôi cũng cứ thầm lặng để ông hành chức vụ. Lúc ấy, Ms Hồ Hiếu Hạ là Thư ký Văn phòng Tổng Liên Hội có giải thích và làm Chứng minh thư số 528/78 ngày 11/8/1978 cho ông, tôi bằng lòng ký. Không ngờ sau đó, UB Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố bảo tôi phải cho danh sách MSTĐ trong Thành phố, chúng tôi để ông vào hàng Mục sư, thì UB Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố gạch bỏ và bảo rằng phải để ông vào hàng Truyền đạo. Còn 03 ông kia thì họ để nguyên trên danh sách Mục sư. Dầu vậy, nếu ông cứ yên lặng thi hành chức vụ bình thường như những Truyền đạo được đặc cách hành lễ trong trường hợp rất đặc biệt, giữ sự liên lạc chặt chẽ với Địa Hạt và các Hội thánh trong Địa Hạt như thường, thì chắc mọi sự vẫn bình thường. Vả lại, Chứng minh thư ấy chỉ có thời hạn 02 năm mà thôi, và dầu đã được tấn phong Mục sư rồi, nhưng nếu không giữ trật tự tinh thần tổ chức của Hội thánh Tin Lành chung, thì cũng có thể ngưng chức hoặc cách chức. Rất tiếc, sự hành động của ông sau đó đã không giữ được trật tự như đáng phải có.
2/- Xin ông rút lại bản Phước Âm Yếu Chỉ của ông đã soạn và đã gởi cho nhiều Hội thánh mặc dầu ông đã nói chỉ dùng nội bộ mà thôi. Phải chờ đợi sự duyệt xét của Ban Soạn duyệt Thư Tịch do Hội đồng Tổng Liên Hội đã cử. Việc Thầy Võ Đình Chương tự tiện dạy bản Phước Âm Yếu Chỉ của ông tại Hội thánh Sàigòn đây, thì hoàn toàn tôi không hay biết. Hiện nay chúng tôi không cho phép dạy bản Phước Âm Yếu Chỉ đó nữa.
Về bài vở của Cụ Ms Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng soạn, do Cụ là Chủ tịch của Ban Soạn Duyệt Thư Tịch, cũng đã được Ban Trị Sự Tổng Liên Hội cử Cụ soạn bài vở theo Biên bản Ban Trị Sự Tổng Liên Hội số 3/7/BTS-TLH/204 ngày 18-6-1976, khoản 13. Nên không có gì trái với tổ chức của Hội thánh chung.
Xin ông cũng nên nhớ lại thái độ của ông trong ngày 22/6/1987 vừa qua đối với Ban Trị Sự Địa Hạt Đông Nam Bộ, có sự hiện diện của tôi và ông Thơ-ký với ông Thủ quỹ của Hội thánh Tuy Lý Vương, thì ông có những cử chỉ rất là khiếm lễ. Dầu tôi không thấy, nhưng 03 ông chức viên nói rõ là ông có những cử chỉ nói, cười không đúng đắn. Người có lễ phép không bao giờ có hành động đó được. Xin ông tự hối, tu tỉnh lại cho hiệp với tư cách một Tôi tớ của Chúa. Về phần tôi đối với ông nói điều đáng phải nói, có lời khuyên ôn tồn, nhẹ nhàng, chớ không vô lễ với ông. Còn ông thì trái lại. Chúng tôi cầu nguyện cho ông có tư cách đúng đắn là một Tôi tớ của Chúa ở giữa Hội thánh Tin Lành Việt-nam.
3/- Xin đừng dẫm chân trên các Hội thánh thuộc về phần hành của các chủ tọa. Điều nầy không thể áp dụng Math.28:18-20; Mác 16:15. Chắc ông hiểu rõ các câu Kinh thánh ấy. Không nên cượng giải, vì ông đã hành động ra ngoài phạm vi của mình, theo thủ đoạn cấy người của ông vào Hội thánh khác để lủng đoạn Hội thánh khác. Các tín đồ có lòng sốt sắng chứng đạo gần xa là điều rất tốt, rất đáng khích lệ và đôn đốc. Nhưng không có tánh cách lập một BẦY NHỎ trong các Hội thánh ngoài địa phận của mình, như là đặt các Tổ trưởng, Tổ phó tại những chỗ như ông đã làm và có tánh cách lôi cuốn tín đồ của Hội thánh khác nhập vào Hội thánh của mình. Trong phạm vi văn thư nầy không thể kể hết, nếu cần chúng tôi sẽ công bố chung cho các Hội thánh được biết. Nếu tín đồ khi được ơn chứng đạo một chỗ nào đó có nhiều người tin Chúa, có thể lập một Hội thánh, thì nên liên hệ với Hội thánh sở tại, với Địa Hạt đó để có thể xin phép mở Hội thánh mới như chúng ta đã làm từ trước đến nay. Như vậy thì danh chánh ngôn thuận, ai cũng hoan nghênh. Đáng lý tín đồ quý Hội thánh có dịp dắt đem người ở Hội thánh nào trở về với Chúa, thì nên giao lại cho chủ tọa của Hội thánh ấy chăn nuôi, chớ không phải lập một BẦY NHỎ của Hội thánh ông tại đó, như đã làm tại Gia-định, Minh Mạng… và ngay tại Sàigòn đây nữa mà ông không thể chối là không biết được. Tất cả mọi tổ chức chánh trị, tôn giáo, v.v… đều theo thứ tự. Trung ương muốn đến các địa phương về việc gì, thì luôn luôn phải qua các cấp như Tỉnh, Quận, Huyện, Phường, Xã, v.v… và ngược lại cũng vậy. Chớ không thể tự tiện băng ngang, nhảy vào chỗ nào. Dù các Thiên sứ cũng không bỏ thứ bậc của mình. Vậy xin ông rút lại các hành động đó.

HỘI TRƯỞNG kiêm CHỦ NHIỆM ĐHĐNB
MỤC SƯ ÔNG VĂN HUYÊN

THƯ RIÊNG CỦA MỤC SƯ ÔNG VĂN HUYÊN
gởi Chủ tọa ĐINH THIÊN TỨ ngày 13-8-1987

Kính ông,
Tôi xin gởi thư nầy đến ông với tư cách một người cha (vì tôi lớn tuổi hơn thân sinh của ông) và là một người thầy có dự phần giúp đỡ cho ông trong chương trình Tốt nghiệp và cũng tán trợ ông trong sự hầu việc Chúa lâu nay, xin ông vâng lời tôi:
1/- Viết thư cho Ms Trương văn Được ở Long xuyên; Ms Ngô văn Bửu ở Cao Lãnh và những người mà ông gởi quyển Phước Âm Yếu Chỉ của ông. Xin họ gởi trả lại cho ông để hiệp với điều mà ông đã hứa với tôi là chỉ dùng nội bộ, không quảng bá.
2/-Xin ông cứ tiếp tục và hầu việc Chúa trong mọi sanh hoạt đồng nhất với các Tôi Tớ của Chúa trong Hội thánh Tin Lành Việt-nam như trước.
3/- Ông thi hành chức vụ theo Điều lệ của Hội thánh Tin Lành Việt-nam và theo Giáo nghi đã tỏ ra trong bản Mục sư chỉ nam của Hội thánh Tin Lành Việt-nam như ông đã phục vụ trước đây.
4/- Chúng tôi cầu nguyện đặc biệt xin Chúa cho ông bà đồng tâm hiệp ý với tất cả Mục sư, Truyền đạo chúng tôi, hòa đồng, nhất trí trong nhà Chúa một cách vui vẻ. Chúng tôi sẽ liên hệ với ông bà và quý Hội thánh như trước.
5/- Xin ông giữ liên hệ chặt chẽ với Địa Hạt Liên Hội và Tổng Liên hội như trước.
Cầu Chúa ban mọi ơn phước cả thuộc linh lẫn thuộc thể trên chức vụ của ông bà, trong mọi sanh hoạt đều vinh hiển Danh Chúa, hòa vui với bạn đồng lao trong Hội thánh Tin Lành Việt-nam.

Chào thân ái

Mục sư ÔNG VĂN HUYÊN

VĂN THƯ số 02-88/ĐHĐNB/VP của Địa Hạt Đông Nam Bộ, ngày 21-1-1988
Gởi Chủ tọa ĐINH THIÊN TỨ và Ban Trị Sự HT Tuy Lý Vương.

.... Sau đây xin tỏ lại với Quý Chủ tọa và Ban Trị Sự một điều quan hệ theo tinh thần của Hội thánh Tin Lành Việt-nam do Đại Hội Đồng Tổng Liên Hội đã biểu quyết, cũng thể theo tinh thần của Lời Chúa trong I Cô.7:10-11. Vì tôi được tờ trình của Ban Trị sự HT Phạm Thế Hiển, Q.8 cho biết và đồng thời cũng được xem thiệp báo hỉ về Lễ Thành hôn của Cậu NGUYỄN DUY THẮNG với cô PHẠM THỊ HUỆ sẽ cử hành tại HT Tin Lành Tuy Lý Vương, Q.8 vào lúc 8 giờ ngày 24 tháng 01 năm 1988 do ông là Chủ tọa Đinh Thiên Tứ hành lễ. Trong văn thư của Ban Trị sự HT Phạm Thế Hiển cho biết cô Phạm thị Huệ là tín đồ của Hội Thánh Phạm Thế Hiển chưa qua Hội khác. Và cậu Nguyễn Duy Thắng đã để vợ. Theo Thông báo của Văn phòng Tổng Liên Hội ngày 13-7-1983, khoản 4 nhắc lại biểu quyết của Đại Hội Đồng Tổng Liên Hội nói trên, thì tôi xin nhắc lại ông, trong tinh thần tổ chức của Hội Thánh Tin Lành Việt-nam, thì ông không thể cử hành Lễ ấy tại Nhà thờ như đã ấn định. Ông nên khuyên lơn và giúp đỡ cho đôi bạn nói trên đây tại Tư gia như Hội Thánh của chúng ta đặc cách thi hành trong những trường hiệp ấy như lâu nay, để giữ tinh thần chung của Hội Thánh Tin Lành Việt-nam và sự dạy dỗ của Lời Chúa.

HỘI TRƯỞNG KIÊM CHỦ NHIỆM ĐHĐNB
Mục sư ÔNG VĂN HUYÊN

VĂN BẢN THAM KHẢO
BẢN ĐỀ NGHỊ NGƯNG CHỨC CHỦ TỌA HỘI THÁNH TIN LÀNH 71 TUY LÝ VƯƠNG, Q.8 của TĐ. ĐINH THIÊN TỨ.

Văn thư của Địa hạt Đông Nam Bộ.

Kính gởi: CỤ MỤC SƯ HỘI TRƯỞNG
và BAN THƯỜNG TRỰC TỔNG LIÊN HỘI
Hội Thánh Tin Lành Việt-nam.

Kính thưa Quý Vị,

Để làm sáng tỏ biên bản của Ban Thường trực Địa hạt Đông Nam Bộ họp ngày 06 và 11-11-1987 về việc ngưng chức Chủ tọa Hội Thánh của ông TĐ. ĐINH THIÊN TỨ một năm. Hôm nay Ban Thường trực Địa Hạt ĐNB chúng tôi xin trình lên Cụ Mục sư HỘI TRƯỞNG và Quý MỤC SƯ BAN THƯỜNG TRỰC TỔNG LIÊN HỘI bảng đúc kết sự việc của ông TĐ. Đinh Thiên Tứ, gồm 02 điểm chính vi phạm ĐIỀU LỆ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM như sau:

I/- DẠY VÀ PHỔ BIẾN SAI LẠC LẼ ĐẠO TRONG KINH THÁNH (điều 3, KHOẢN 5, trang 22, ĐIỀU LỆ HTTLVN)

1-Làm Báp têm lại (Chương II, Điều 5 Phước Âm Yếu Chỉ do ông soạn lại). Trưng dẫn không đúng các câu Kinh thánh chép ở Công vụ 19:1-5, khi chủ trương ‘con trẻ chưa có đức tin mà đã Báp-têm, phải làm lại’.
2-Cho phép tổ chức lễ Kỷ niệm ghi nhớ công ơn Tổ tiên (Chương 8, điều 6). Trưng dẫn lệch lạc câu Kinh thánh II Sử 29:2, vì Tổ tiên của vua Ê-xê-chia là Đa-vít hoàn toàn khác hẳn tổ tiên chúng ta về sự tin thờ Đức Chúa Trời. Vả lại, có 02 hiểm họa do lễ Kỷ niệm nầy gây ra: 1/Có thể gây mối bất hòa trong gia đình thân tộc do bất đồng quan điểm. 2/Người ngoại đạo dèm chê Tin Lành làm đám giỗ trá hình. Đức Chúa Jêsus phán dạy không nên vướng bận về kẻ chết (Math. 8:21-22).
3-Không xác quyết đức tin về Đức Chúa Trời (Chương 1, điều 3) dạy rằng kẻ vô tín nhận thân phận từ huề đến lỗ, lỡ có thì sao ? Đây là một kẻ hỡ lớn cho người vô tín nghĩ rằng mình sẽ huề. Trong khi tín đồ yếu đuối có thể sống hàng hai để hi vọng từ huề đến lời. Thật trái hẳn với đức tin do Kinh thánh minh định ở Hêb.11:1; I Cô. 15:19.
4-Xác minh điều Kinh thánh không xác minh (Chương 13, điều 5), ông Đinh Thiên Tứ viết: ‘THÂN THỂ KẺ ÁC SẼ BIẾN HÓA ĐỂ KẾT HỢP VỚI ĐỊA NGỤC’. Hai câu Kinh thánh Khải. 20:13-14 được trưng dẫn, không nói đến sự biến hóa thân thể kẻ ác. Thần đạo học của J. D. Olsen, chương 4, điều 4, khoản 2, trang 929, xác nhận Kinh thánh không nói rõ về thân thể kẻ ác khi sống lại, tác giả suy luận thân thể chắc giống Satan, và cũng không nói đến sự biến hóa.
5-Giải thích thắc mắc của kẻ vô tín: “Ai đã dựng nên Thượng đế ?” (Chương I điều 4). Có 04 sự ngộ nhận trong các minh chứng sau đây: 1/Tội nhân không thể biết được Thương đế do trí khôn Rôm. 1:19-20; I Cô. 1:17-19. 2/Minh chứng Thượng đế bằng sự quy định của loài người về toán học, về ngôn ngữ hàm chứa, chỉ bộc lộ lòng vô tín trong khi câu hỏi đặt ra của kẻ vô tín có tính cách hạ thấp thân vị Đấng Tạo hóa. 3/Kinh thánh không cho phép ai so sánh Thượng đế với tạo vật. Êsai 40:25-26. 4/Đức Chúa Trời không trình bày cách thức để Môi-se nói với dân Y-sơ-ra-ên biết Ngài là ai. Chính Đức Chúa Trời đã tự xưng: "TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU, HẰNG HỮU"

II/. KHÔNG VÂNG PHỤC SỰ TỔ CHỨC CỦA HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM (Điều III, khoản 5, trang 22)

  • 1-Phổ biến Phước Âm Yếu Chỉ tự biên soạn trái lẽ đạo, sai nguyên tắc, và cũng không vâng lời cấp lãnh đạo để thu hồi. Văn thư Mục sư Hội Trưởng ngày 23/7/1987, điều 2)
  • 2-Hành chức MỤC SƯ bất chấp văn thư của Chủ Tịch Hội Đồng Thẩm Vấn và Tấn phong yêu cầu khoan (đừng) thi hành chức MỤC SƯ. Văn thư ngày 10-5-1977.
  • 3-Cử hành Lễ Báp-têm, Hôn phối cho thuộc viên các Hội Thánh khác, nhưng không có giấy giới thiệu của chủ tọa. Cũng bất kể lời khuyên ngăn của Mục sư Hội Trưởng TLH, văn thư ngày 13-4-1987 và văn thư 21-01-1988.
  • 4-Cử các Cán bộ Giáo lý từ Hội Thánh Tin Lành Tuy Lý Vương và dùng tín hữu Hội Thánh khác làm Cán bộ không thông qua Chủ tọa, khiến cho việc điều hành dẫm chân lên nhau (Theo các tờ trình gởi về Địa Hạt).

Kính thưa Mục sư Hội Trưởng và Quý Mục sư Ban Thường trực TLH,
Trong thời gian hơn một năm kể từ ngày 10/10/1986, Ban TT/ĐH chúng tôi đã kiên nhẫn theo dõi và khuyên ngăn ông TĐ Đinh Thiên Tứ về những sai phạm giáo lý lẫn tổ chức của HTTLVN, song không có kết quả. Trái lại chúng tôi thấy càng ngày ông TĐ Đinh Thiên Tứ càng đi xa trên đường tẻ tách HTTLVN. Ngày 20/11/1987, BTS/ĐH đã mời ông Chủ tọa và BTS/HT/TLV đến bàn bạc, xem xét việc sai quấy để khắc phục, song không đạt được kết quả. Nên ngày 11/11/1087, chúng tôi ngưng chức bổ nhiệm chủ tọa của TĐ. Đinh Thiên Tứ một năm để cảnh cáo. Trong thời gian từ ngày có tờ trình TLH xin ý định ngưng chức đến nay đã hơn 4 tháng, chúng tôi chờ đợi ông hối lỗi, song chỉ nhận được những tin tức vô trách nhiệm mang tính cách hù dọa, chê bai, cười cợt cách khiếm lễ. Một hai Truyền đạo đau buồn do ảnh hưởng của HT/TLV đã tạm nghỉ chức vụ để phản đối. Chúng tôi nhận xét không có biện pháp xử lý ông TĐ Đinh Thiên Tứ đối với sự bất tuân phục hàng lãnh đạo thì chẳng bao lâu nữa HTTLVN sẽ không còn giữ được sự thuần túy của Cơ-Đốc giáo và BTS/ĐH chúng tôi cũng chẳng làm gì được nữa.

Tp.HCM, ngày 12 tháng 3 năm 1988
Nay kính trình
Đồng ký tên:
Ms Bùi Trung Nguơn (Ủy viên) Ms Nguyễn Thành Sơn (Ủy viên)
Ms Trần Bá Thành (Thủ quỹ) Ms Lương văn Sấm (Thư ký).

Ý kiến của Ms Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng:

- Người ta báo cho tôi (Ms Miêng) biết là có những người tin Chúa chim mồi để lôi cuốn người khác. Nếu hằng tuần có số người tin Chúa như vậy thì hai năm nay, Nhà thờ nào chứa cho đủ.
- Bản Phước Âm Yếu Chỉ của ông Tứ có ý tốt, nhưng có mấy chỗ sai, ông Tứ phải nhận và sửa lại.

Ý kiến của Mục sư Trí sự Nguyễn văn Tôi:

- Tôi nghe nói ông Tứ sắp lập một Hội mới (trước khi sự việc xảy ra)

Ý kiến của Mục sư Nguyễn văn Quan (sau khi sự việc xảy ra, do bất đồng ý kiến với Địa hạt bao lâu nay)

- Tôi có lên gặp Chánh quyền, thì bị khiển trách vì muốn binh vực ông Tứ.

Ms Thái Phước Trường nói: (khi sự việc bắt đầu rạn nứt)

- Ms Tứ có cho tôi xem danh sách những người ủng hộ.

Ms Trần Thái Sơn nói:

- Ms Tứ nói rằng nếu ông ra khỏi Hội Thánh Tin Lành Việt-nam, sẽ có 14 MSTĐ ra theo.

Ms Tứ giải thích:

- Câu "Từ huề đến lỗ" chỉ là một cách lý luận.
- Việc Báp-têm lại là áp dụng cho những người trước đây theo Công giáo đã chịu Bí-tích rửa tội.
- Tiệc thánh phải cử hành 2 tuần trong tháng là vì thời gian Chánh quyền cho HT/TLV nhóm chỉ một tiếng rưởi cho hai suất nhóm, nên chia ra tuần nầy suất đầu, tuần sau suất sau.
- Chức vụ MỤC SƯ của tôi (Ms Tứ) đã được Giáo hội chấp thuận phong chức, chỉ vì giờ chót (thứ bảy trước Chúa nhật tấn phong, Chánh quyền mới có lịnh không cho cử hành Lễ. Dầu vậy, Ms Hỉ là nhân viên Ban Thẩm vấn đã đến cầu nguyện đặt tay.
- Nếu Cụ (Ms Hội trưởng) bắt con sửa một điều, thì Cụ phải sửa mười điều !

2. Diễn biến:

Sự việc càng lúc càng căng thẳng. Nhiều cuộc họp chung giữa Ms Hội Trưởng, Ms Phó Hội Trưởng, Ban Trị sự Tổng Liên Hội, Ban Trị Sự Địa Hạt Đông Nam Bộ, với Ms Tứ, với Ban Trị Sự HT Tuy Lý Vương, với những yêu cầu Ms Tứ rút lại Bản Phước Âm Yếu Chỉ, việc cử hành Lễ Tiệc Thánh một tuần đầu tháng, việc sửa lại mọi sinh hoạt cho đúng Điều lệ hiện hành của Hội Thánh Tin Lành Việt-nam. Ms Tứ bác bỏ cả 4 điểm trên.

Trong lúc ấy, các cuộc vận động hòa giải để Ms Tứ gặp riêng Ms Phó Hội trưởng, gặp riêng Ms Lương văn Sấm, do các ông Ms Trần Thái Sơn, Ms Thái Phước Trường dàn xếp, hai bên cũng không thể thỏa thuận được. Bên cạnh đó, áp lực của vài MSTĐ không đồng ý việc Ms Tứ dẫm chân lên HT của họ càng gay gắt hơn. Còn bên trong nội bộ của nhóm ủng hộ Ms Tứ cứ thúc giục ông ly khai khỏi HTTLVN, vì cho rằng Chánh quyền cho lập Hội mới (họ trưng dẫn Hiến pháp, Luật Hình sự và ý kiến vài Cán bộ Nhà Nước mà họ tiếp xúc hứa hẹn).

Cuối cùng BTS/ĐH và sau đó BTS/TLH ra quyết định ngưng chức ông Tứ một (01) năm, nhưng vẫn cho phép ở tại Nhà thờ Tuy Lý Vương. Đang lúc Quyết định được đưa ra, các tín hữu ủng hộ Ms Tứ kéo đến tư thất Ms Hội Trưởng (nơi Ban Trị Sự TLH đang họp), tư thất Ms Phó Hội trưởng, phản đối dữ dội, gây náo loạn, nhưng bị từ chối không cho gặp.

VĂN BẢN THAM KHẢO
(Thông báo số 17-88/TLH/VP của Tổng Liên Hội, ngày 17-3-1988, gởi các Chủ nhiệm và các Ủy viên TLH)

THÔNG BÁO VIỆC NGƯNG CHỨC TRUYỀN ĐẠO CHỦ TỌA ĐINH THIÊN TỨ

Kính các Quý Vị,
Như các Quý Vị đều đã nghe biết, Truyền đạo ĐINH THIÊN TỨ chủ tọa Hội Thánh Tin Lành 71 Tuy Lý Vương, Quận 8, Tp.Hồ Chí Minh, đã dạy tà giáo rất nguy hiểm và bất chấp Điều lệ Hội Thánh Tin Lành Việt-nam, hoạt động ngoài phạm vi của Hội Thánh mình, xen vào các Hội Thánh khác, gây sư rắc rối cho các chủ tọa các Hội Thánh ấy, bất chấp giáo quyền, gây loạn trật tự.

Từ ngày 10-10-1986 đến nay là một năm năm tháng trôi qua, chúng tôi đã mời đến văn phòng Địa hạt Đông Nam Bộ để khuyên lơn, giải thích nhiều lần và gởi thư khuyến cáo ôn tồn, nhưng ông ĐINH THIÊN TỨ chẳng những không vâng lời mà còn hành động mỗi ngày một tệ hại hơn: Làm lễ Báp-têm, Lễ Thành hôn, bừa bãi, vô trật tự, gây khó cho nhiều Hội Thánh. Đến nay, chúng tôi không thể khuyên lơn gì được nữa, nên thứ hai ngày 14-3-1988 nầy, Ban Thường trực Tổng Liên Hội hiệp với Ban Thường trực Địa hạt Đông Nam Bộ mời ông ĐINH THIÊN TỨ và 3 nhân viên Ban Trị Sự HT Tuy Lý Vương đến. Chúng tôi đương diện, nhắc lại lòng của chúng tôi đã đối với hành động của ông ĐINH THIÊN TỨ thế nào và ông Tứ chẳng những bất tuân mà hành động càng ngang ngạnh hơn. Nên chúng tôi tuyên bố ngưng chức Truyền đạo Chủ tọa một (01) năm. Nếu ăn năn, thì sẽ phục chức bằng không thì cách chức. Giao cho Ban Trị sự Chi hội Tuy Lý Vương điều hành các giờ Thờ phượng Chúa như thường qua sự giúp đỡ của Ban Thường trực Địa hạt ĐNB. Khi tuyên bố xong, chúng tôi xin đứng dậy và mời ông Ms NGUYỄN SƠN HÀ cầu nguyện, thì ông ĐINH THIÊN TỨ và 3 nhân viên BTS/HT Tuy Lý Vương bỏ đi ra với thái độ ngang ngạnh. Họ xách động một số tín đồ đến làm ồn khi chúng tôi họp, cứ đứng gõ cửa, kêu la phía này phía kia rất là ồn ào! Nhưng Chúa cho chúng tôi bình tĩnh cứ họp bình thường. Vậy, xin các Quý Địa Hạt thông báo cho các chi hội trong Hạt biết rõ để cầu nguyện cho ông ĐINH THIÊN TỨ biết ăn năn thành thật và không bị ai tuyên truyền thất thiệt, bênh vực mù quáng có hại cho Hội Thánh chung. Chúng tôi cũng đã trình cho Chánh quyền các cấp ở đây ở đây theo như Nghị quyết 297/CP của Hội Đồng Chánh Phủ.

Xin các Quý Vị cứ thêm lên trong sự cầu nguyện tha thiết. Chỉ mong cho ông ĐINH THIÊN TỨ biết ăn năn thành thật. Chào thân ái.

HỘI TRƯỞNG

VĂN BẢN THAM KHẢO:
(Thông báo của Tổng Liên Hội số 28-88/TLH/VP ngày 10-5-1988, tường thuật hành động của ông ĐINH THIÊN TỨ)

Vào khoảng Thượng Bán niên 1986, ông Đinh Thiên Tứ đã tự biên soạn bản ‘PHƯỚC ÂM YẾU CHỈ’ khác, nhưng ông không trình cho Cụ Ms Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng là Chủ Tịch Ban soạn duyệt Thư Tịch HTTLVN để xem xét và có ý kiến. Cho đến khi chúng tôi hay tin, có xin ông Đinh Thiên Tứ cho chúng tôi xem qua bản Phước Âm Yếu Chỉ do ông soạn. Trong bản PÂYC ấy có 04 điểm dạy tà giáo:

1/. Chương thứ nhất, phần II, trang 3:

"Chọn thái độ vô tín là chấp nhận thân phận 'từ huề đến lỗ'. Vì nếu không có Đức Chúa Trời, không có linh hồn… thì mọi người trở về với hư vô, nghĩa là bằng nhau. Nhưng 'lỡ có thì sao?' Người vô tín bán lỗ linh hồn phải chấp nhận số phận khủng khiếp".

Nhận định về Đức Chúa Trời như vậy là phạm tội lấy Danh Chúa làm chơi. Chúng ta phải xác tín, vì chính Đức Chúa Trời đã phán với Môi-se rằng: "TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU" (Xuất. 3:14)

2/. Chương thứ 8, phần VI, trang 20:

Trong phần nầy ngầm ý có thể cúng giỗ người qua đời, gây nhiều vấp phạm cho người khác. Hội Thánh chúng ta đã nghiêm cấm.

3/. Chương thứ mười một, phần V, trang 26:

"... con trẻ chưa có đức tin, hoặc người không đặt đức tin nơi Chúa Jêsus mà đã báp-têm, phải làm báp-têm lại" (Công vụ 19:1-5)!

Áp dụng rất sai về các câu Kinh thánh ấy.

4/. Chương thứ mười ba, phần V, trang 30:

… "... Thân thể kẻ ác sẽ biến đổi để thích hiệp với hỏa ngục’ (Khải.20:13-15; Đan. 12:2).
Áp dụng rất sai, vì hai chỗ Kinh thánh nói trên không nói đến thân thể của kẻ ác sẽ biến đổi để thích hiệp với hỏa ngục.

Khi được xem bản PÂYC do ông Đinh Thiên Tứ biên soạn, chúng tôi lưu ý ông về việc biên soạn các sách vở, ngoài số đã có của Hội Thánh Tin Lành Việt-nam, thì phải trình bản thảo cho Chủ tịch Ban Soạn duyệt Thư tịch HTTLVN xét duyệt và cũng phải được Sở Văn hóa Thông tin cho phép, mới có thể lưu hành được. Ông Đinh Thiên Tứ cho biết chỉ sử dụng nội bộ, không phổ biến, đồng thời hứa bỏ 04 điều sai lầm nói trên. Nhưng ông Đinh Thiên Tứ không thi hành điều đã hứa, trái lại phổ biến PÂYC do ông soạn cách rộng rãi cho nhiều HT, như: Long xuyên, Đồng tháp, v.v… có kèm bút tích của ông gởi tặng.

Xét vấn đề có tánh cách nghiêm trọng, nên chúng tôi đã có văn thư đề ngày 10-10-1986 để khuyên ông Đinh Thiên Tứ thi hành chức vụ đúng theo sự dạy dỗ của Kinh thánh và Điều lệ của HTTLVN, cũng như Nghị quyết 297/CP của Hội đồng Chánh phủ. Chúng tôi mời riêng ông Đinh Thiên Tứ đến Văn phòng Địa Hạt Đông Nam Bộ, có mời Cụ Ms PHT Đoàn văn Miêng cùng dự. BTS Địa Hạt ĐNB tỏ ý vì chức vụ riêng của hàng giáo phẩm, nên xin tôi và Cụ Ms Phó Hội Trưởng lấy tư cách bậc Thầy để khuyên ông Đinh Thiên Tứ qua Văn phòng TLH để khuyên ông và cầu nguyện với ông. Chúng tôi lưu ý nhiều lần, việc nầy là chức vụ riêng của hàng giáo phẩm tự sửa và không phổ biến. Nhưng không hiểu ông Đinh Thiên Tứ có dụng ý thể nào, khi về đem bản văn nói trên cho người sao phóng ảnh, phổ biến, xách động tín đồ hành động bất pháp.

Đến ngày 22-6-1987, qua văn thư số 06-87/ĐHĐNB/VP, Văn phòng Địa Hạt ĐNB trao cho ông Đinh Thiên Tứ, không ngoài mục đích giúp đỡ ông sửa lại những việc làm sai trái qua 04 điều: Phải hiệp nhất với toàn thể HTTLVN trong việc ban Tiệc Thánh vào mỗi Chúa nhật đầu tháng. Không nên tự tiện ban Tiệc Thánh mỗi tuần, như ông đã và đang làm. Xin đừng sử dụng PÂYC của ông soạn khi chưa hợp pháp. Xin rút lại toàn bộ PÂYC. Xin sửa lại mọi sinh hoạt cho đúng Điều lệ hiện hành của HTTLVN. Không nên dẫm chân, xen vào nội bộ các HT.

Rất tiếc, ông Đinh Thiên Tứ vẫn ngoan cố, không thi hành đúng đắn các điều khoản đã được lưu ý trong văn thư nói trên. Nên Văn phòng Địa Hạt ĐNB có văn thư số 07-87/ĐHĐNB/VP, ngày 23-7-87 tiếp tục nhắc nhở về Tiệc Thánh, về việc thu hồi PÂYC của ông Đinh Thiên Tứ soạn và đừng dẫm chân, xen vào nội bộ các Hội Thánh.

Mặt khác, chính tôi đã có một thư riêng đề ngày 13-8-1987, kính gởi Chủ tọa Đinh Thiên Tứ. Với tư cách là một người cha cũng là thầy để khuyên riêng 05 điều: Xin ông Đinh Thiên Tứ viết thư thu hồi PÂYC mà ông đã phổ biến nhiều nơi. Xin ông hầu việc Chúa đồng nhất với các Tôi tớ Chúa như trước kia. Xin ông thi hành chức vụ theo điều lệ và Giáo nghi của HTTLVN. Chúng tôi cầu nguyện đặc biệt xin Chúa cho ông bà Đinh Thiên Tứ đồng tâm hiệp ý với tất cả Mục sư, Truyền đạo và xin ông giữ sự liên hệ chặt chẽ với Địa Hạt và Tổng Liên Hội như trước. Vào lúc 19 giờ 15, thứ bảy ngày 15-8-1987, ông Đinh Thiên Tứ đến tư thất HT Sàigòn xin gặp tôi. Tôi mời vào Văn phòng, thì ông Đinh Thiên Tứ đứng dậy tỏ lời trịnh trọng xin lỗi với tôi về việc ông làm phiền lòng chúng tôi lâu nay, đồng thời cũng thay cho nhân sự của ông xin lỗi tôi. Tôi tỏ lời tạ ơn Chúa và xin ông Đinh Thiên Tứ đứng lên cầu nguyện. Ông cầu nguyện, tiếp theo tôi cầu nguyện cho ông. Sau đó, tôi có lời khuyên thêm về chức vụ theo như thư tôi đã gởi riêng cho ông ngày 13-8-1987.

Rất tiếc, ông Đinh Thiên Tứ càng ngày càng tỏ ra ngoan ngạnh đi xa hơn, tiếp tục có nhiều sai phạm nghiêm trọng. Văn phòng chúng tôi nhận được nhiều báo cáo từ Chủ tọa, Ban Trị sự các HT, nêu ra những hành động của ông Đinh Thiên Tứ vi phạm Điều lệ tổ chức của HTTLVN. Cấy người vào làm lủng đoạn các HT. Lôi kéo tín hữu các HT đến 71 Tuy Lý Vương để ông Đinh Thiên Tứ khẩu vấn, làm báp-têm cách vô nguyên tắc, như đã xảy ra ở Tân Hiệp (Đồng nai), HT Trung Mỹ Tây (Hốc-môn), TĐ chủ tọa Lê Tân Tiến có văn thư đề ngày 04-2-1987 phản đối hành động sai phạm, vô nguyên tắc, không trật tự của ông Đinh Thiên Tứ. Đặc biệt, nghiêm trọng hơn đã xảy ra ở HT Tân Bình (TÂN BÌNH), khi được ông TĐ. Lê Trọng Nghĩa báo cáo sự việc vi phạm, văn phòng chúng tôi có văn thư KHẨ N số 12-87/ĐHĐNB/VP ngày 2-10-1987, kính gởi ông Đinh Thiên Tứ, xin ông đừng xen vào HT Tân Bình trong việc sẽ làm báp-têm cho số tín hữu thuộc HT Tân Bình. Vì HT Tân Bình đã chuẩn bị làm báp-têm cho số tín hữu ấy trong tuần đó. Nhưng ông Đinh Thiên Tứ vẫn ngoan ngạnh, cứ làm báp têm cho số tín hữu thuộc HT Tân Bình.
Trong Điều lệ của HTTLVN có hướng dẫn tín đồ qua hội và vào Hội phải được Hội Thánh sở tại gởi gắm và được HT cho gia nhập có Biên bản chấp thuận chính thức và phải đợi thời gian thử nghiệm, mới được cử làm chức viên của Hội Thánh mình gia nhập. Cũng như các Mục sư Truyền đạo từ Hạt nầy xin qua Hạt khác, phải được Hạt sở tại có văn thư gởi gắm, đồng thời Hạt cho gia nhập công nhận bằng biên bản chính thức. Nhưng ông Đinh Thiên Tứ bất chấp, dùng thủ đoạn để lôi kéo một số chức viên đương nhiệm của HT khác, cũng như một số tín hữu qua HT mình một cách vô nguyên tắc, gây lủng đoạn cho nhiều Hội Thánh.

Làm Lễ Thành hôn cho những người để vợ, bỏ chồng. Mặc dầu chúng tôi đã có văn thư khuyên, nhắc nhở chỉ cầu nguyện cho họ tại gia đình, không cử hành long trọng tại Nhà thờ, vì không hiệp giáo nghi nhưng ông Đinh Thiên Tứ ngoan cố, không thừa hành.

Có thể nói, mọi hành động của ông Đinh Thiên Tứ rất bừa bãi, loạn trật tự, gây rất nhiều khó khăn cho các Hội Thánh. Vì những lẽ nói trên, nên chúng tôi có văn thư mời ông Đinh Thiên Tứ và Ban Trị sự HTTL Tuy Lý Vương (gồm: Chánh, Phó Thư ký và Thủ quỹ) đến Văn phòng Tổng Liên Hội ngày 14-3-1988. Có Ban Thường trực Tổng Liên Hội và Ban Trị sự Địa Hạt ĐNB tuyên bố ngưng chức TĐ chủ tọa của ông Đinh Thiên Tứ trong thời hạn 01 năm. Giao cho Ban Trị sự HT Tuy Lý Vương tạm lo việc thờ phượng Chúa mỗi Chúa nhật. Đang khi chúng tôi họp ở Văn phòng Tổng Liên Hội, có một số tín đồ khoảng 40 người tụ tập bên ngoài phòng họp, kêu la lớn tiếng, đập cửa liên tục, gây ồn ào như chúng tôi đã có văn thư thông báo số 17-88/TLH/VP ngày 17-3-1988.

Sáng Chúa nhật 20-3-1988, Cụ Ms PHT Đoàn văn Miêng và tôi, cùng với 3 nhân viên BTS/Địa Hạt ĐNB vào họp với HTTL Tuy Lý Vương. Tôi giảng một bài và tuyên bố quyết định của Ban Thường trực TLH và Địa Hạt Đông Nam Bộ ngưng chức Truyền đạo Chủ tọa của ông Đinh Thiên Tứ như nói trên. Kế đến, Cụ Ms Phó Hội Trưởng giảng khuyên lơn rất đầy đủ, và cầu nguyện. Đoạn chúng tôi qua tư thất họp với BTS/HT Tuy Lý Vương để khuyên nhủ thêm. Trong khi đó, một số đông ở trong, ngoài Nhà thờ tỏ thái độ bất kỉnh kiền. Chúng tôi cứ khuyên lơn, cầu nguyện và ra về. Qua ngày 21-3-1988, vào lúc 19 giờ, VP chúng tôi được một tín đồ HTTL Tuy Lý Vương đưa đến một bản sao phóng ảnh Văn thư có 518 tín đồ HTTL Tuy Lý Vương (đứng đầu bản danh sách có ông Phạm văn Thượng, Thư ký; ông Lâm Khắc Xương, Thù quỹ; ông Nguyễn Thanh, Phó Thư ký). Kỳ thực, trong đó có tín đồ các Hội Thánh Sàigòn, Trương Minh Giảng, Thị nghè, v.v… gửi cho Ủy Ban Nhân Dân Quận 8, UB Mặt Trận Tổ Quốc Quận 8, UB Nhân Dân, UB Mặt Trận Tổ Quốc Phường 12, Quận 8, và bản sao gởi cho Ủy Ban Nhân Dân Thành phố, UB Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố, Văn phòng Tổng Liên Hội, để báo cáo cho biết từ ngày gửi văn thư này HTTL Tuy Lý Vương cắt đứt mọi liên hệ với Tổng Liên Hội, Hội Thánh Tin Lành Việt-nam và độc lập. Khi được bản sao văn bản nói trên, văn phòng chúng tôi có văn thư khẩn – Kính gởi Chánh quyền các cấp Thành phố, Quận 8 và Phường 12 – Quận 8 để kính trình báo theo văn thư của 518 người đã ký gởi đến cho Chánh quyền các cấp, thì chúng tôi không chịu trách nhiệm về mọi hoạt động trong Nhà thờ Tin Lành 71 Tuy Lý Vương, nên Nhà thờ HTTL Tuy Lý Vương đã phải đóng cửa.

HỘI TRƯỞNG
MỤC SƯ ÔNG VĂN HUYÊN

3/. Hậu Quả:

Sau khi Quyết định ngưng chức được công bố, Ms Tứ cùng 518 tín hữu ký tên ly khai khỏi tổ chức HTTLVN, lập Hội Thánh Tư gia (tiền thân của Hội Liên Hữu Cơ-Đốc sau nầy) ngày 20-3-1988.

VĂN BẢN THAM KHẢO
Văn thư của 518 người thuộc Hội Thánh Tin Lành tại Tuy Lý Vương tuyên bố cắt đứt liên hệ với hệ thống Giáo quyền HTTLVN, ngày 20-3-1988.

Kính gởi: -Ủy Ban Nhân Dân Quận 8
Đồng kính gởi: -Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Quận 8.
-Ủy Ban Nhân Dân Phường 12
-Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Phường 12

Kính thưa Quý Vị,
Trong suốt những năm qua, toàn thể tín hữu Hội Thánh Tin Lành 71 Tuý Lý Vương vẫn hòa vui trong mọi sinh hoạt thờ phượng Chúa và chấp hành mọi chủ trương chính sách Nhà Nước. Nhưng hơn một năm qua, Cụ Mục sư Ông văn Huyên Hội Trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt-nam vì tuổi già khó tính (87 tuổi), thêm đôi mắt không còn thấy gì, Cụ vội nghe những lời báo cáo sai sự thật mà ra nhiều quyết định bất lợi cho chúng tôi. Nhiều lần Ban Trị Sự Hội Thánh chúng tôi đến tận Văn phòng của Cụ xin được trình bày mọi việc, nhưng Cụ từ chối không chịu tiếp. Cụ Hội Trưởng cũng tuyệt nhiên không phái người nào để tìm hiểu tại chỗ.

Vào ngày 14-3-1988, Cụ Mục sư Hội Trưởng cho mời Ban Trị Sự chúng tôi đến Văn phòng Tổng Liên Hội. Những tưởng Cụ Hội trưởng và Ba ông cụ nữa trong Tổng Liên Hội sẽ xem xét và cho phép chúng tôi trình bày mọi việc. Nhưng không hề xét hỏi, Cụ tuyên bố ngưng chức ông Đinh Thiên Tứ chủ tọa Hội Thánh chúng tôi (Văn thư đính kèm). Tuy vị Chủ tọa chúng tôi nhẫn nhục, nhưng chúng tôi nhận thấy đây là một phán quyết hoàn toàn ngược lại nguyện vọng của toàn thể tín hữu Hội Thánh 71 Tuy Lý Vương, chẳng khác gì phán quyết của Tôn giáo pháp đình thời Trung cổ.

Chúng tôi vô cùng uất ức trước tối thượng quyền của Cụ Hội Trưởng và Tổng Liên Hội, do đó, chúng tôi quyết định cắt đứt mọi liên hệ với Mục sư Ông văn Huyên, và hệ thống giáo quyền do Cụ lãnh đạo. Chúng tôi không nhằm xây dựng một tín lý mới. Chúng tôi vẫn giữ mọi sinh hoạt như từ trước đến nay: vẫn tiếp tục tín nhiệm ông Đinh Thiên Tứ trong cương vị Chủ tọa, vẫn thờ phượng trong Nhà thờ mà tập thể tín hữu chúng tôi từ trước đến nay đã đóng góp và xây dựng.

Nhiều chùa, miễu, không trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt-nam thống nhất, ngay trong giới Tin Lành, Hội Thánh tại đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Quận Phú Nhuận) không trực thuộc Tổng Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt-nam vẫn được Chánh quyền cho phép sinh hoạt bình thường. Do đó, việc chúng tôi tự trị, không trực thuộc Cụ Hội Trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt-nam, không phải là một việc lạ thường trong xã hội ta.
Vậy kể từ nay, chúng tôi chỉ còn quan hệ với Chánh quyền và Mặt Trận Tổ Quốc địa phương.

Tp.HCM, ngày 20 tháng 3 năm 1988
Ban Trị Sự và tuyệt đại đa số tín hữu Tin Lành thờ phượng tại 71 Tuy Lý Vương

Sự ra đi nầy về sau lôi cuốn thêm Ms Võ văn Lạc, TĐ Trần Đình Ái, vì việc nói tiếng lạ, ngày 30-4-1989. Không lâu sau, tháng 10-1989, Ms Lạc và Tđ Trần Đình Ái lại tách khỏi Ms Tứ. Rồi Ms Lạc lại tách khỏi TĐ. Ái, bắt đầu xuất hiện nhóm A.G. (Assembly of God), nhóm F. G. (Full Gospel).

Trong tình hình đó, TĐ. Trần Mai là chủ tọa HT tại Trương Minh Giảng, với những bức xúc, đã giảng những bài công kích lãnh đạo Giáo hội, lại có một số tín hữu lập nhóm cầu nguyện tiếng mới (tiếng lạ) trong Nhà thờ Trương Minh Giảng. Sự việc bùng lên cao, khi có sự đề kháng với các Nhóm Mới, Tổng Liên Hội cho phát hành quyển Phước Âm Yếu Chỉ mới. Nhưng vì quá vội vàng – đáng lẽ có một Ban thay vì chỉ một người soạn soạn như đã được đề nghị, nên lại có nhiều sai lầm thiếu sót (như ngay trong chương đầu nói về sự thực hữu của Đức Chúa Trời, lại thiếu một bằng cớ chứng minh quan trọng nhất là chính Chúa Jêsus). Lại tiếp thêm một văn thư do Ms Đoàn văn Miêng, Phó Hội Trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt-nam viết, nội dung công kích tiếng lạ và phép lạ, làm cho mọi người hiểu rằng Ms Miêng với địa vị lãnh đạo Giáo hội Tin Lành Việt-nam phủ nhận tiếng lạ và phép lạ. Qua đó, phản ứng từ nhiều người cho rằng Lãnh đạo HTTLVN không còn đi đúng với Kinh thánh. Có nhiều ý kiến đệ đạt lên lãnh đạo góp ý về văn bản đó, và xin cử một Ban Soạn Thảo Phước Âm Yếu Chỉ mới, sau đó sẽ trình Ban Thư Tịch duyệt để tránh sai lầm khi một người soạn một quyển Giáo lý căn bản cho Hội Thánh chung. Rất tiếc là không được trả lời. Lửa cháy thêm dầu khi TĐ. Trần Mai giảng một bài công kích hình ảnh Con Rồng, gây nên một phong trào đập phá những vật gì có hình Con Rồng gây nên nhiều chuyện nực cười, như TĐ Lê Hoàng Phúc ở Hội Thánh Long Hồ đã cầm búa đập hình con rồng trong miễu thờ, bị người ngoại bắt bồi thường. Cuối cùng, Địa Hạt và Tổng Liên Hội lại ngưng chức TĐ Trần Mai 6 tháng. Hết hạn 6 tháng, TĐ Trần Mai đưa 6 điểm yêu cầu, trong đó, Giáo hội rút lại văn bản giải thích phủ nhận tiếng lạ và phép lạ của Ms Miêng, thì ông mới trở lại chức vụ Chủ tọa HT Trương Minh Giảng. Lãnh đạo Giáo hội không chấp thuận, nên TĐ Mai lại ra khỏi HTTLVN, lập một Hội mới. Từ đấy phát sinh nhiều nhóm, nhiều phái tại Việt-nam.

VĂN BẢN THAM KHẢO
Văn thư của Tổng Liên Hội số 21/TLH/VP ngày 24-6-1989

Thưa Ông Chủ tọa và Quý Ban Trị sự,
Thay cho Ban Trị sự Tổng Liên Hội, Hội Thánh Tin Lành Việt-nam Miền Nam, Văn phòng Tổng Liên Hội chúng tôi kính gởi đến Ông Bà chủ tọa, Ban Trị sự và Quý Hội Thánh lời chào thăm trong tình thương của Chúa Jêsus Christ.

Vào giữa năm 1988, một hiện tượng quái dị xảy ra trong Hội Thánh Chúa tại Việt-nam, nhất là tại Đông Nam Bộ. Hiện tượng đó là TIẾNG LẠ: nói tiếng lạ, cầu nguyện bằng tiếng lạ. Hiện tượng đó xảy ra do một ít người quá khích đến độ mê tín và cuồng tín, gây hoang mang cho nhiều người không biết đó là việc của Thánh Linh hay là của tà linh, việc của Đức Chúa Trời hay của ma quỉ. Có người không đắn đó, cân nhắc theo lời Chúa dạy, song đã vội vàng hưởng ứng, cổ súy thành phong trào tràn lan ra nhiều nơi, làm thiệt hại cho cá nhân và Hội Thánh không ít. Vì vậy, văn phòng Tổng Liên Hội phải có thơ nầy cấp báo cho toàn thể Hội Thánh Tin Lành Miền Nam Việt-nam được biết để kịp thời ngăn chận và tiêu diệt sức phá hoại của sự sai lầm đó và hướng dẫn nhau đi trong đường kính sợ Chúa đúng như Lời Ngài đã chép.

Đành rằng tiếng lạ là một ân tứ của Thánh Linh, song “không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm” (I Cô.14:2). Nói tiếng lạ là lúc hôn mê, xuất thần nhập hóa mà nói. Trường hợp nầy rất hi hữu chớ không phải thường xuyên, nên không ai có thể dạy, không ai có thể học, song phải hoàn toàn do Thánh Linh cảm động.

Phao-lô dạy cách sử dụng tiếng lạ. Tiếng lạ là một thứ tiếng không có trong thế giới, người nói không hiểu, người nghe cũng không hiểu, nên hai bên coi nhau là mọi rợ (I Cô. 14:11). Nếu Hội Thánh hay một nhóm tín đồ tại nhà riêng, mà ai nấy đều nói tiếng lạ hoặc cầu nguyện bằng tiếng lạ, mà có người ngoài bước vào thấy và nghe, thì họ há không cho chúng ta là một đám điên hay sao? (I Cô.14:23). Ví bằng có người nói tiếng lạ… phải có người thông giải, nếu không có ai thông giải, người đó phải làm thinh trong Hội Thánh, mình nói với mình và với Đức Chúa Trời (I Cô. 14:27-28). Trong các Hội Thánh đầu tiên được chép trong Tân Ước không có Hội Thánh nào nói tiếng lạ ngoài ra Hội Thánh Cô-rinh-tô. Phao-lô đã đề cập tiếng lạ ở đó (I Cô. 12; 13; 14), khác hơn tiếng ngoại quốc chép trong sách Công vụ các Sứ đồ, vì các thứ tiếng ấy nói ra nhiều người hiểu (Công. 2:4-12). Còn tiếng lạ trong I Cô-rin-tô là tiếng nói trong cơn hôn mê, ngây ngất, như bị xúc cảm sâu xa mà chính người đó cũng không hiểu được. Hội Thánh Cô-rinh-tô đã xem sự nói tiếng lạ là một ân tứ cao trọng nhất, vì họ chịu ảnh hưởng của tà giáo lúc họ chưa tin Chúa, bởi vì tà giáo cũng nói được tiếng lạ và cho là đạt đến tột điểm của từng trải đạo đức. Ngoài ra, Hội Thánh Cô-rinh-tô còn lợi dụng và lạm dụng ân tứ nói tiếng lạ để khoe rằng mình hơn người khác. Đó là lý do khiến Phao-lô viết luôn 3 đoạn I Cô. 12; 13; 14; để giải thích cho Hội Thánh Cô-rinh-tô biết về ân tứ lớn nhất là tình thương.

Sau thời các Sứ đồ và Hội Thánh đầu tiên, thì tiếng lạ không còn nữa. Mãi cho đến thế kỷ 20, tại Bắc Mỹ có một Mục sư đề xướng tiếng lạ và lập ra Giáo phái Ngũ Tuần. Suốt dòng lịch sử Cơ-Đốc giáo, Chúa đã đại dụng rất nhiều vĩ nhân như Bác sĩ Tống Thượng Tiết, Billy Graham, để phục hưng Hội Thánh, truyền giảng Tin Lành cho nhân loại, thì chẳng hề có ai nói tiếng lạ, hoặc nhờ tiếng lạ mà được cứu bao giờ. Tiếng lạ dầu chỉ mới xuất hiện trong Hội Thánh Việt-nam mấy tháng nay, nhưng đã có nhiều ảnh hưởng xấu. Nơi nào có tiếng lạ, nơi đó có ồn ào và hỗn độn, có mê tín và cuồng tín. Chúng tôi đơn cử một số trường hợp sau:

Tại Ngã Ba Bàu, thuộc Hội Thánh Trung Mỹ Tây. Ngày 21/02/1989, cô Hồng Ân qua đời vì bệnh lao phổi. Người nhà đã khâm liệm và chuẩn bị chôn cất vào ngày sau. Trong khi đó, có 4 người đến linh cửu cầu nguyện bằng tiếng lạ, rồi la hét, gào thét. Họ nói: "Đức Thánh Linh bảo hãy cạy nắp linh cửu ra, họ sẽ cầu nguyện cho kẻ chết sống lại". Một trong 4 người lấy dao làm việc đó. Một vị đại diện Chánh quyền địa phương kêu 4 anh đến hỏi: "Các anh có chắc cầu nguyện cho cô Ân sống lại không? Nếu các anh cầu nguyện cho cô nầy sống lại, thì tôi lấy danh dự sẽ đứng đây để các anh xẻ thịt tôi ra cho đến chết. Ngược lại, nếu các anh cầu nguyện mà cô nầy không sống lại, thì các anh tính sao? Nghĩa là tôi sẽ xẻ thịt các anh". Nghe như vậy, các người nói tiếng lạ cuồng tín nầy đã bỏ cuộc rút lui hết. Đồng bào địa phương đã không tiếc lời nguyền rủa và phỉ báng Tin Lành.

Tại Tân Minh, thuộc Hội Thánh Tin Lành Phúc Âm, Bình tuy: Anh Nguyễn Minh Bồi, (thường gọi là anh Xì) đã được Trần Đình Ái mời vào Trảng Bom, rồi đến thành phố sinh hoạt với một số người nói tiếng lạ tại HT Trương Minh Giảng. Anh Xì về Tân Minh tổ chức cầu nguyện tiếng lạ để đuổi quỉ, và người mà anh Xì nói là bị quỉ ám đó chính là em trai của anh tên là Sáu, có bịnh thần kinh từ lâu rồi. Kết quả vẫn mang bịnh thần kinh. Anh Xì còn dẫn anh Lê Quang Trung ra Phan Thiết, đến nhà của chị Trần thị Kỉnh ở Mũi Né, là người đã mắc bịnh thần kinh trên 30 năm nay, ai cũng biết. Thế mà họ cho chị Kỉnh bị quỉ ám, rồi tổ chức cầu nguyện tiếng lạ để đuổi quỉ. Họ làm ồn ào, đến nỗi dân chúng địa phương phê bình Tin Lành là mê tín như thầy pháp. Chị Kỉnh vẫn bị đau thần kinh như thường.

-Chúa nhật 6/11/1988, anh Xì dẫn một số người tiếng lạ về HT Bình tuy, Hàm Tân để thờ phượng Chúa. Theo thường lệ, sau giờ thờ phượng chung với Hội Thánh, là giờ sinh hoạt của gia đình trẻ. Tại phòng nhóm trẻ lúc 9 giờ 30, anh Xì đứng lên làm chứng cho thanh niên nghe, nào là anh được đầy dẫy Đức Thánh Linh, có ân tứ đuổi quỉ chửa bịnh, đi đến đâu thì ơn phước Chúa tràn đến đó. Làm chứng xong, anh kêu gọi thanh niên cầu nguyện. Có khoảng 15 thanh niên trong nhóm tiếng lạ do anh tổ chức, đã được anh sắp đặt trước cho ngồi các hàng ghế đầu làm mồi. Những em nầy vụt đứng dậy giơ tay lên run run, nói lập bập như bị lên cơn sốt rét, ra tuồng quái dị như kẻ mất trí, miệng nói không ngừng: "pa pa pa, chách chách chách", la lối om sòm làm mất trật tự trong giờ nhóm. Ms Lê Khắc Hóa đang ngồi tiếp khách ở tư thất được báo tin, ông liền đến phòng nhóm thanh niên và chứng kiến tận mắt cảnh hỗn độn nầy. Ông bảo tất cả phải im lặng, không được cầu nguyện bằng tiếng lạ như vậy nữa, vì đó là tiếng của ma quỉ chớ không phải là tiếng lạ đến từ Thánh Linh đâu. Ms Hóa cầu nguyện được vài câu, những em tiếng lạ nầy nổi lên khóc lóc, cầu nguyện lớn tiếng hơn, la lối om sòm. Có em cầu nguyện bằng tiếng lạ không ai biết nói gì, có em khác cầu nguyện bằng tiếng Việt rủa sả Ms Hóa rằng: “Chúa Thánh Linh đang giáng trên chúng con, mà Ms Hóa ngăn trở, xin Chúa phạt ông”. Anh Xì là thủ lãnh của nhóm tiếng lạ nầy đứng cầu nguyện nó lập bập rằng: “Chúa ôi! Xin cất hòn đá ngăn trở nầy đi”. Ms Hóa biết những em nầy đang bị ma quỉ sủ dụng nói tiếng lạ để phá hoại công việc của Đức Chúa Trời, rủa sả tôi tớ Chúa, nên ông tuyên bố giải tán buổi nhóm. Khi nghe Ms Hóa tuyên bố giải tán buổi nhóm, các em vẫn còn say mê cầu nguyện tiếng lạ nên có một hành động như kẻ điên, vài em khác chạy ào vào phòng ngủ của các con Mục sư, có em quì xuống, em khác thì đứng tựa vào tường giơ đôi tay lên run run, miệng cứ nói lập bập, mặt mày xanh xao trông rất ghê sợ như đang bị quỉ ám. Họ la hét om sòm, tiếp tục cầu nguyện tiếng lạ. Ms Hóa đã tiến đến nắm tay từng em một đưa ra ngoài. Có một em tên là Nguyễn thị Kim Phượng nói với Ms Hóa: “Dạ, con tỉnh rồi”. Quả thật các em nầy có hành động giống như kẻ mất trí, mê sảng, điên cuồng, vì chúng đang làm công cụ cho ma quỉ để phá hoại Hội Thánh của Đức Chúa Trời.

Ma quỉ tức giận đã sai một em trong nhóm tiếng lạ nầy tên Hùng nói tiên tri rủa sả Ms Hóa rằng: “Ngày thứ hai 07/11/1988 lúc 14 giờ chiều, Ms Hóa sẽ bị Chúa phạt đau rất nặng và nằm trên giường như thế nào, em cũng biết nữa”. Lời tiên tri nầy được loan truyền khắp cả khu vực Phúc Âm, Tân Minh, ai cũng biết. Nhiều tín đồ lo sợ vì lời tiên tri nầy, nên đến tư thất xem Mục sư có đau hay không. Nhưng Ms Hóa không bị bịnh gì cả. Ma quỉ đã thất bại.

-Lại có một tiên tri giả khác cũng từ trong nhóm tiếng lạ ở tại Phúc Âm loan ra, là ngày Lễ Giáng sanh 24/12/1988, Nhà thờ Phúc Âm được Chánh quyền cho mở cửa để dụ lễ. Họ tập trung một số người đến dãy cỏ trước nhà thờ như chuẩn bị để dự lễ. Nhưng, sự thật không có như vậy, nên họ đã bị Chánh quyền kiểm điểm vì nói dối.

-Tại Phúc Âm, Tân Minh, chiều 16/01/1989, em Nguyễn thị Kim Phượng (chính là em Phượng đã nói ở trên) giả chết đi sống lại, cho mời một số MSTĐ và một số người trong nhóm tiếng lạ đến để cầu nguyện đặt tay trên thể xác của em Phượng, còn những MSTĐ và tín hữu nào tuyệt đối không tin tiếng lạ thì không được mời. Sau đó, em Phượng nói ra một loạt tiếng lạ, rồi nói tiếng Việt rằng: “Ta là Jêsus Na-xa-rét mượn linh hồn của thể xác nầy từ 7 giờ đến 12 giờ khuya để tỏ ra sự mầu nhiệm là: Ta sẽ phục hưng HTTLVN, như đã phục hưng tại Nam Triều Tiên và các nơi trên thế giới. Ta đã làm tại Phúc Âm nầy cách đây 2 tháng rồi, nhưng có một số người không tin ta”. Em Phượng cất tiếng lên hát, khi thì bằng tiếng Việt, khi thì bằng tiếng gì không ai nghe được, mãi cho đến 12 giờ khuya thì chấm dứt và em Phượng trở lại bình thường. Quả thật, đây là một trò hề của ma quỉ, và ma quỉ đã mạo danh Chúa Jêsus để lừa đảo một số tín đồ nhẹ dạ trong thời kỳ sau rốt nầy (Math. 24:23-26)

-Vào đầu tháng 11 năm 1988, TĐ. Trần Mai và các Trưởng ban ngành của HT Trương Minh Giảng đã được BTS/ĐH/ĐNB mời đến để nghe giải thích về tiếng lạ và cách sử dụng tiếng lạ. HT Trương Minh Giảng đã được thành lập hơn 30 năm, mỗi ngày một tiến bộ như hiện có, còn tiếng lạ mới xen vào chỉ hơn một tháng, nên không thể nào nói rằng nhờ tiếng lạ Hội Thánh Trương Minh Giảng được phục hưng. Vả lại, lịch sử Cơ-Đốc giáo đã trải qua 20 thế kỷ, chưa hề có phương trời nào, thời đại nào mà Hội Thánh được phục hưng nhờ tiếng lạ. Vậy, xin đừng để tiếng lạ xen vào làm hại Hội Thánh của Chúa
Ai nấy ra về vui vẻ.

Nhưng sau đó, tiếng lạ nổi lên làm ồn ào hơn trong Nhà thờ HT Trương Minh Giảng. Mục sư Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng với tư cách bạn đồng liêu cao tuổi, có thư ngày 21-11-1988, mời riêng TĐ Trần Mai đến để hỏi han và hướng dẫn. Rất tiếc, TĐ Trần Mai đã không nói thật, cũng không vâng lời.

Ngày 24-11-1988, TĐ Trần Mai đã phải theo ý kiến của một số đông nhân sự trong HT Trương Minh Giảng, viết thư mời Mục sư Phó Hội Trưởng đến dự buổi họp của HT Trương Minh Giảng lúc 17 giờ ngày 25-11-1988. Trong buổi họp nầy có sự hiện diện của Ms Trần Bá Thành và Ms Bùi Trung Nguơn. Trước mặt mọi người, TĐ Trần Mai đã nhận lỗi, xin Địa Hạt và Tổng Liên Hội tha thứ cho Thầy được đổi đến một Hội Thánh nhỏ, vừa sức mình để hầu việc Chúa. Mục sư Phó Hội Trưởng đã đứng lên an ủi Thầy TĐ Trần Mai, yêu cầu HT Trương Minh Giảng hiệp tác để TĐ Trần Mai tiếp tục chức vụ vì không thể thay đổi trong lúc nầy.

Tưởng như thế là đã giải quyết một cách tốt đẹp. không ngờ TĐ Trần Mai rất ngoan cố và bướng bỉnh, nên tình trạng của HT Trương Minh Giảng không được cải thiện, mà ngày càng bi đát hơn. TĐ Trần Mai công bố cho giáo hữu đốt phá hình ảnh con rồng tại bất cứ nơi nào, vì là hình ảnh của ma quỉ. Lời công bố vô căn cứ nầy đã tác hại vật chất của tín hữu tại Trương Minh Giảng và các nơi khác trong Địa Hạt và Tổng Liên Hội.

Trong Kinh thánh chỉ sách Khải huyền đề cập đến con rồng (12:3, 4, 7, 9, 13, 16, 17; 13:2, 4, 11; 16:13; 20:2)

Không ai có thể vẽ được hình con rồng nầy: "Trên trời cũng hiện ra một dấu khác nữa: là một con rồng lớn sắc đỏ, có bảy đầu, mười sừng và trên đầu có mão triều thiên. Đuôi kéo một phần ba các ngôi sao trên trời đem quăng xuống đất (12:3-4). Kinh thánh mượn một quái vật để mô tả tánh tình và hành động của ma quỉ, Satan. Chính con rồng không phải là Satan, nhưng ám chỉ về Satan. Sư tử không phải là ma quỉ, như sư tử rống" (I Phi. 5:8). Con rồng đáng sợ như Kinh thánh mô tả, là con rồng bị quăng từ trời xuống đất, còn hình ảnh con rồng mà người ta vẽ hoặc chạm trổ để trang trí trong nhà, là những vật vô tri, bất động, thì có gì mà phải sợ. Chúng ta sợ con cọp, con sư tử ngoài rừng, chớ có ai sợ con cọp, con sư tử bằng giấy, bằng gỗ, bằng đá? Trẻ con cũng không sợ các hình ảnh đó, thì can gì mà phải đốt phá cho hư hao của cải vật chất?

Vì vậy, tháng 4-1989, Ban Trị Sự Địa Hạt Đông Nam Bộ buộc phải quyết định ngưng chức Truyền đạo của Trần Mai trong 06 (sáu) tháng để cảnh cáo sự sai lầm của Thầy.

Có người bảo: "Cách chức Mục sư Truyền Đạo của các ông: VÕ VĂN LẠC, LÝ XUÂN HÒA, TRẦN ĐÌNH ÁI là không yêu thương". Trái lại, đó là vì yêu thương:

-1. Yêu thương những người đã sai lầm, mà sau nhiều lần khuyên can, đã không ăn năn, lại còn liều lĩnh buông mình vào đường lầm lạc và xui giục người khác vào đường đó, nên họ cần phải được cảnh cáo để tỉnh thức.
-2. Yêu Hội Thánh của Chúa tại Việt-nam, vì không có tác hại nào nặng nề bằng tà giáo. Đời xưa, Đức Chúa Trời đã khiến đất hả miệng nuốt 3 đảng: Cô-rê, Đa-than, A-bi-ram (Dân. 16). Ai dám bảo rằng Ngài làm vậy là không yêu thương? "Lòng yêu thương phải cho thành thật. Hãy gớm sự dữ mà mến sự lành" (Rôma 12:9)

Chúng ta phải cầu thay luôn cho những anh em khác lầm lạc, kể cà Mục sư Truyền Đạo và tín hữu, xin Chúa sớm đem họ trờ lại (Gia-cơ 5:19-20). Trong khi chờ đợi, những người bị cách chức và ngưng chức không còn tư cách giảng dạy, chia sẻ, hoặc làm chứng cho ai, vì không có tác dụng gây dựng. Những tín hữu vô luận từ đâu đến, xin làm chứng hoặc chia sẻ, Hội Thánh phải đòi cho được giấy giới thiệu của Chủ tọa của các tín hữu đó. Xin Tôi tớ, con cái của Chúa cầu nguyện đặc biệt cho Ms Trần Tuôi tại xã Tân Minh (Phúc Âm I cũ), Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải. Ông đã thiếu sự hiểu biết đúng đắn về Lời Chúa, đi hô hào cổ súy về sự nói tiếng lạ bừa bãi. Đã được khuyến cáo; nhưng vẫn ngoan cố, vì vậy chúng tôi đã phải tuyên bố cách chức Mục sư. Mong Chúa cho ông ăn năn thành thật để có thể trở lại chức vụ cao quý mà Chúa đã ban cho.

HỘI TRƯỞNG
MỤC SƯ ÔNG VĂN HUYÊN

1990 - 1992

Năm 1990, Chánh quyền tỏ ra dễ dãi hơn, trừ khu vực Miền Tây Nam Bộ và vùng Cao Nguyên. Sự khó khăn tại Tây Nam Bộ là do sự thiếu hiệp một trong nội bộ các Hội Thánh và trong hàng Giáo phẩm, chen lẫn vài phần tử muốn lập công nên rình rập công việc Chúa để báo cáo cho Chánh quyền (hầu hết báo cáo sai sự thật), gây một cái nhìn lệch lạc từ Chánh quyền đối với Hội Thánh.

Sự dễ dãi nầy do Chánh quyền bước vào thời mở cửa, đổi mới. Các Mục sư Giáo sĩ của các Hệ phái từ nước ngoài đến Việt-nam khá nhiều, nhưng đa phần là tiếp xúc với các Nhóm tách rời HTTLVN. Một số ít tiếp xúc với HTTLVN đều phải thông qua Chánh quyền, nhưng hạn chế trong sự trao đổi ý kiến, không có những chương trình huấn luyện, bồi linh cần thiết tối thiểu.

Một số các nhà thờ được phép xây cất lại (An-lạc-Tây, Phụng hiệp, Phú Quới, Vĩnh long, Chợ Lách, Quới Sơn, Thuận Mỹ, Long Hựu, Phước Bình, Phú Lâm, Tân Thuận, Phú Mỹ, Bà-Rịa, Biên Hòa, Thăng Bình, Đại-An, Tam Kỳ, Tiên-Quả). Một số khác sửa chữa qui mô (Cần thơ, An-hóa, Gia-định, Bình thới, Nguyễn tri Phương, Trương Minh Giảng).

Một việc đáng lưu ý là Kinh thánh và Thánh ca thỉnh thoảng được nhập vào (khởi sự từ HTTL Đông và Tây Đức tặng 20.000 bộ năm 1980). Về sách bồi linh và chứng đạo đơn, thì do vài anh em tự túc làm lấy. Hội Thánh chung không chú trọng lắm vì sợ trách nhiệm, trong khi các Nhóm ngoài Hội Thánh thì lại rất chú trọng và được tín đồ trong HTTLVN hoan nghinh.

Việc nổi bật là Hội Thánh Miền Bắc, do sự tài trợ của Hội Thánh nước ngoài, được Chánh quyền cho phép tổ chức Trường Kinh thánh tại Nhà thờ Hà-nội, có 14 người dự học và 12 người tốt nghiệp sau 4 năm học. Có hai Giáo sư Miền Nam được phép ra dạy là MS Nguyễn Hậu Nhương và Ms Phạm Xuân Thiều.

Trong khi đó tại Miền Nam cánh cửa Thần Học Viện vẫn bị đóng chặt. Để chuẩn bị bù đấp lại, một số ít MSTĐ đã âm thầm gây dựng một vài lớp Kinh thánh Phục vụ, để dạy Lời Chúa và đào tạo người hầu việc Chúa. Dầu thiếu mọi mặt, từ tài chánh, tài liệu, an ninh, bàn ghế… các lớp đã đạt được những kết quả khả quan. Ban Giáo sư Thần Học Viện được sự chấp thuận của Tổng Liên Hội cũng có chương trình giúp các Truyền đạo Tập sự bổ túc các môn học để hoàn tất chương trình qui định. Các nơi cộng tác tốt, trừ Ban Trị Sự Địa Hạt Đông Nam Bộ thì không đồng ý, đưa đến sự việc thình lình Chánh quyền Trung Ương triệu tập Ms Phạm Xuân Thiều (là Giáo sư Thần Học Viện đang ở tại Hà-nội) đến để khiển trách. Do đó, Ms Thiều phải thông báo giải tán Chương trình, nhưng các anh em vẫn cố gắng hoàn tất.

Đặc điểm nữa là có sự bùng nổ Truyềngiảng trong đa số các Hội Thánh. Trước đây có sự ỷ lại vào các Hội Thánh lớn, các Hội Thánh nhỏ thường mặc cảm thiếu người, nên không dám truyền giảng. Bắt đầu từ những năm 1990-1991, với các buổi huấn luyện Chứng đạo, nhất là tại Tp.HCM. Kết quả rất tốt, nhiều người tin Chúa, các Hội Thánh lớn phải tăng giờ thờ phượng lên hai suất, các Hội Thánh nhỏ phát triển nhóm đông hơn. Sự phát triển nở rộ nầy một phần cũng do tác động của Chương trình HO (Chương trình bảo lãnh cho các Sĩ quan chế độ cũ đi Mỹ), khiến nhiều Sĩ quan đi học tập cải tạo về đã gia nhập các Hội Thánh, nhất là Hội Thánh tại Gò-vấp.

Mặt khác, các lớp Thánh Kinh Tiểu Học Đường theo từng Tỉnh được Chánh quyền cho phép tổ chức với thời gian một tháng, hằng năm như tại Vĩnh long, Cao lãnh, Long an, Tp.HCM, Đồng nai. Ngoài ra có các Hội đồng Bồi linh ở vài Hạt (Chánh quyền chỉ cho phép trong Tỉnh), như ở Mỹ tho, Long xuyên, Nha-trang, Đà-nẵng. Hoặc bồi linh kết hiệp với Lễ Cảm tạ (có rất nhiều Hội Thánh tổ chức Lễ Cảm tạ).

Sự kiện nổi bật bất thường trong năm 1991 là Lễ Mừng Thượng Thọ Cụ Mục sư Hội Trưởng Ông văn Huyên 90 tuổi, tổ chức tại Nhà thờ Saigon. Lần đầu tiên, sau Hội Đồng Tổng Liên Hội 1976, các MSTĐ toàn Miền Nam được phép về Tp.HCM họp mặt đông đủ. Tuy nhiên, trong việc chuẩn bị cho buổi Lễ, nhiều tin tức hậu trường đưa ra sẽ nhơn dịp nầy áp lực để Cụ Ms Hội Trưởng tuyên bố công khai có sự hiện diện của Chánh quyền dự Lễ, từ chức giao lại cho Ms Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng điều hành công việc chung. Cũng có Nhóm khác muốn tổ chức Lễ nầy để lấy lòng Ms Hội Trưởng và công khai tỏ cho Chánh quyền những người được Ms Hội Trưởng tín nhiệm. Do đó, người ta thấy những nhân vật không phải gia đình, không phải quê hương Cụ, không phải thân tộc, lại đứng ra điều khiển buổi Lễ.

VĂN BẢN THAM KHẢO
(Trích thư của Ms Nguyễn văn Quan gởi các MSTĐ và tín hữu ngày 08-01-1992)

Đặc biệt việc nầy cũng là cách giải cứu Cụ Ms Hội Trưởng, cũng là Vị Thầy khả kính của tất cả MSTĐ/HTTLVN, vì Cụ đang ở trong tình trạng hết sức khó khăn, có thể mất cả uy tín, mà còn phải chịu trách nhiệm nặng nề trước lịch sử HTTLVN. Sở dĩ tôi phải nói lên sự thật quan trọng có liên quan đến Hội Thánh như vậy, vì tôi là tôi tớ của Đức Chúa Trời, mà còn vì nỗi ẩn ức của cả gia đình Cụ Ms Hội Trưởng ÔNG VĂN HUYÊN đối với chức vụ của Cụ trước hiện tình Hội Thánh.

Thưa Quý Cụ, Quý Ông Bà, Anh Chị Em,

Sau Lễ "Cửu Tuần Thượng Thọ" của Cụ Ms Hội Trưởng ÔNG VĂN HUYÊN, tôi có tiếp một người trong họ của Cụ, người đã ngỏ: Cả gia tộc chúng tôi đã hiệp lại nói với ông Cụ rằng người ta làm lễ ‘tế sống’ Cụ để lợi dụng Cụ, vì vậy chúng tôi yêu cầu ông Cụ xin nghỉ chức vụ ‘kiêm nhiệm’ Địa Hạt Đông Nam Bộ giao việc nầy lại cho ai đó, để họ muốn làm gì thì làm! Sau đó ít lâu, Cụ Ms Hội Trưởng đã làm đơn gởi lên Ban Tôn Giáo Tp.HCM, xin nghỉ chức vụ ‘kiêm Chủ nhiệm Địa Hạt Đông Nam Bộ’ giao việc nầy lại cho một người mà tôi xin giấu tên. Nhưng sau một thời gian, vì xảy ra mâu thuẫn nội bộ, nhắm bề không kham, nên người ta bắt ép Cụ phải làm đơn xin Ban Tôn Giáo Thành phố cho Cụ nhận lại chức vụ ‘kiêm Chủ nhiệm Địa Hạt Đông Nam Bộ’ để Cụ làm bình phong trở lại như cũ. Tình trạng ấy tiếp tục cho đến khi vỡ lở một việc quan trọng làm tổn thương nặng nề cho uy tín và chức vụ của Cụ Ms Hội Trưởng: Số là trước đó khá lâu, Cụ Ms Hội trưởng và Ban Trị Sự Tổng Liên Hội giao nhiệm vụ cho Ms LÊ KHẮC KHÓA đứng ra vận động việc xin tư cách pháp nhân cho HTTLVN và Ms Lê Khắc Hóa bỏ công ra Bắc vào Nam tiến hành công việc nầy gần một năm trời. Bổng dưng nghe lời xúi bẩy của ai không biết, Cụ nhơn danh Ms Hội Trưởng HTTLVN viết thơ thông báo cho các chức viên trong Ban Trị Sự Tổng Liên Hội và các Chủ nhiệm phủ nhận tư cách chức vụ và việc làm của Ms Lê Khắc Hóa mà Cụ đã từng có thơ ủy nhiệm (!?). Vì cớ đó, ông Ms Lê Khắc Hóa đã viết liên tiếp hai bức thơ khiếu nại, nêu rõ vấn đề cách công khai mà phần đúng thuộc về Ms Lê Khắc Hóa, do đó uy tín của Cụ Ms Hội Trưởng bị tổn thương hết sức lớn lao. Cụ xúc động tinh thần nặng nề và bị đau luôn hằng tuần sau đó. Việc nầy tất cả các MSTĐ vẫn có thể thông cảm với Cụ, biết rằng Cụ bị người ta lợi dụng, vì trong thơ ông Ms Lê Khắc Hóa cũng có đề cập đích danh người lợi dụng Cụ. Dầu vậy, về trách nhiệm tinh thần không ai có thể chia sẻ với Cụ được!

Gần đây, ngày 11-12-1991, tôi được một người trong gia đình Cụ tiếp tôi, trong câu chuyện người không ngần ngại nói ra tất cả sự thật: “Người ta lợi dụng ông Cụ bằng mọi cách, lợi dụng chỗ ông Cụ khiếm thị, giảm sút trí nhớ, không thể tiếp cận với các MSTĐ và xã hội bên ngoài, người ta giở đủ các trò: từ sự phỉnh dối để Cụ ký vào các văn bản bị đọc sai lệch, làm cho Cụ không nắm được nội dung, hoặc giấu nhẹm các thơ gởi đến mà nội dung không có lợi cho ý đồ lợi dụng của họ, để Cụ không hay biết. Nhiều lần gia đình của Cụ đề nghị những người nầy cho Cụ nghỉ để họ làm việc với người khác, nhưng họ núp bóng Cụ để thao túng và khai thác Hội Thánh theo mưu đồ riêng của họ. Các việc làm bề ngoài tuy nói là của Cụ Ms Hội Trưởng, nhưng chính họ điều khiển hoặc họ mượn danh Ban Tôn Giáo Thành phố để o ép và bắt buộc Cụ phải theo lệnh của họ. Trong nội bộ Hội Thánh, họ mượn danh của Cụ và mượn danh của Ban Tôn Giáo thành phố và một số tỉnh trong Địa Hạt Đông Nam Bộ để họ tự kéo bè, kết cánh phân bố và sắp đặt công việc phân phát lương bổng, chia chác lợi lộc cho nhau một cách hết sức vô lý. Họ thẳng tay trấn áp các MSTĐ và tín hữu, kể cả hãm hại những người không cùng phe cánh với họ. Về tiền bạc, họ tự nhận và phân chia những số tiền chung theo tánh cách cá nhân mờ ám kể cả lãng phí, không ai có thể ngăn cản được. Những số tiền gởi giúp cho cá nhân MSTĐ, hoặc Hội Thánh nầy Hội Thánh nọ để trùng tu hoặc xây cất, họ không chuyển theo đúng yêu cầu hoặc đổ rằng “chưa đến” rồi ém nhẹm luôn một cách vô trách nhiệm, v.v… và v.v…

Một thành viên của Hội Thánh
Mục sư NGUYỄN VĂN QUAN

VĂN BẢN THAM KHẢO:
(Trích thư của Ms LÊ KHẮC HÓA, Ủy viên Đặc trách TLH gởi Ms Hội Trưởng HTTLVN và các nhân viên BTS/TLH, BTS các Hạt ngày 04-5-1991. Phủ nhận văn thư số 28/TLH/VP ngày 19-4-1991 của Cụ Ms Hội Trưởng, vì nội dung diễn sai sự thật.

Kính thưa Cụ Mục sư Hội Trưởng,
Sau khi tôi đọc xong văn thư nói trên của Cụ, tôi thầm cười vì không ngờ một vị Thầy khả kính của tôi, hơn nữa là một vị Hội Trưởng HTTLVN. MN mà đã nóng nảy, vội vàng nghe lời của những vị tham mưu không trung thực, lên văn thư công bố những việc sai với sự thật, và đã dùng những lời lẽ quá nặng nề đối với tôi là một đầy tớ của Chúa như Cụ đã viết trong văn thư nói trên khiến cho người đọc có những nhận xét không mấy tốt đẹp với vị Hội Trưởng của mình.

Thưa Cụ, qua hai nội dung nói trên, tôi xin được phép giải thích cho Cụ và đồng thời kính trình bày tất cả sự thật cho quý vị trong BTS/TLH và BTS các Địa Hạt được rõ.

1./ Mục sư Lê Khắc Hóa đã mạo nhận chức vụ Thư ký Tổng Liên Hội.

Thưa các Quý vị,
Nhìn bản sao phóng ảnh văn thư ngày 15/06/1990 thấy có tên tôi là Ủy viên kiêm Thư ký, rồi với những lời lẽ giải thích trong văn thư của Cụ Hội Trưởng, chắc chắn ai đọc đến cũng tưởng rằng Cụ Hội Trưởng nói đúng vì có bằng chứng rõ ràng. Nhưng sự thật về lời giải thích của Cụ Hội Trưởng trong văn thư nói trên nó lại sai. Vì vậy, tôi phải lên tiếng đính chính và nói ra sự thật để cho quý vị được rõ.

Thưa quý vị, sự thật như thế nầy: Trước ngày 15-06-1990, tôi có gặp Cụ Ms Hội Trưởng nhiều lần và đã thảo luận với Cụ về việc soạn văn thư gởi Chánh quyền Trung Ương để xin cho GIáo hội chúng ta được tư cách pháp nhân. Tất cả nhân viên trong BTS/TLH đều đứng tên trong đơn trình xin với Chánh quyền Trung Ương. Nhưng trong BTS/TLH hiện nay không có Thư ký và Thủ quỹ. Tôi có hỏi Cụ Hội Trưởng giải quyết như thế nào? Cử ai kiêm nhiệm tạm thời vào hai chức vụ Thư ký và Thủ quỹ nầy? Sau một thời gian Cụ Hội Trưởng họp bàn với Ban Thường trực TLH như thế nào tôi không biết, nhưng chính Cụ đã nói với tôi nguyên văn như thế nầy: “Cụ Ms Nguyễn Thanh Hằng là Nghị viên kiêm Thủ quỹ, còn Thư ký thì để tên ông đi, vì các ông kia ở xa quá”. Cụ bảo như vậy, nên tôi mới dám viết ra văn thư và để tên tôi là Ủy viên kiêm Thư ký. Tôi đọc lại cho Cụ nghe và Cụ bằng lòng ký tên, chớ tôi không cố ý mạo nhận chức vụ Thư ký TLH với dụng ý thực hiện mưu đồ riêng như Cụ đã viết trong văn thư nói trên có tính cách nhục mạ danh dự của tôi quá. Chính Cụ đã cử tôi, rồi bây giờ chính Cụ lại phao vu cho tôi là mạo nhận chức vụ Thư ký TLH để thực hiện mưu đồ riêng. Thưa Cụ, tôi đã lợi dụng những gì để thực hiện mưu đồ riêng? Xin Cụ vui lòng trình bày ra để cho tôi và tất cả BTS/TLH được biết? Thưa Cụ, Cụ là Mục sư Hội Trưởng lãnh đạo Hội Thánh Chúa chung cả toàn Miền Nam. Còn tôi là Mục sư Chủ tọa một Hội Thánh, dầu lớn dầu nhỏ, ai cũng có danh dự riêng của mình, nhưng tôi không biết tại sao Cụ là một tôi tớ Chúa lâu năm, là bậc Thầy của tôi và của hầu hết các MSTĐ hiện nay, mà Cụ quá nóng nảy, dùng những lời lẽ nặng nề như vậy? Xin Cụ suy nghĩ lại đi. Thưa Cụ, nếu tôi không lầm thì đây không phải là chính Cụ nói đâu, mà có những tham mưu riêng cho Cụ, và chính những vị tham mưu nào đó mới có dụng ý, có mưu đồ chiếm ngôi và lạm quyền đó thôi, chứ còn riêng tôi là một đầy tớ hèn mọn của Chúa, tôi không dám có mưu đồ gì cả. Tôi chỉ góp phần chút ít với quý vị để cùng hầu việc Chúa thôi.

Còn những văn thư gởi lên Chánh quyền Trung Ương để xin tư cách pháp nhân cho Hội Thánh thì Cụ giao cho tôi soạn. Soạn xong, tôi đọc lại cho Cụ nghe để sửa chữa mà tôi còn lưu giữ đây. Làm một việc nào Cụ đồng ý và ủy nhiệm tôi mới dám thi hành, chớ tôi không tự làm một mình đâu, như việc tôi liên hệ với Chánh quyền Trung Ương để xin tư cách pháp nhân cho Hội Thánh, thì chính Cụ cũng đã giới thiệu cho tôi đi thăm các Địa Hạt để nhờ các Địa Hạt cung cấp cho tôi có danh sách các Hội Thánh, danh sách các MSTĐ và số tín đồ để tôi có đủ tài liệu trình lên cho Ban Tôn Giáo Trung Ương, thì tôi thi hành (Đính kèm giấy giời thiệu của Cụ Hội Trưởng). Như vậy, chứng tỏ trái với văn thư của Cụ viết nói oan cho tôi là tự soạn văn bản một mình. Tại sao Cụ lại nói thế?

Rồi việc Cụ đánh điện mời tôi vào gặp Cụ, và chính Cụ đã nói trực tiếp với tôi nguyên văn rằng: “Các Cụ trong Ban Thường trực chúng tôi đều đồng ý như vậy, nhưng ông Ms Trần Bá Thành có đọc văn thư đó, ông không đồng ý và trách tôi là yếu quá”. Cụ có nhớ lời Cụ nói với tôi như vậy không? Như vậy, ai là người lạm quyền, ai có mưu đồ riêng, thì Cụ biết ngay! Sau đó Cụ bảo tôi đến gặp Cụ Phó Hội Trưởng xin ý kiến. Tôi đến trình bày sự việc nầy cho Cụ Phó Hội Trưởng nghe, và Cụ Phó Hội Trưởng có góp ý kiến đại ý: “Việc nầy vô thưởng vô phạt, nhưng nếu khó khăn quá, có khiếu nại, thì trong đơn không cần để Thư ký, Thủ quỹ, mà chỉ đề tên các nhân viên hiện có mà thôi”. Tôi trở lại trình bày ý kiến của Cụ Phó Hội Trưởng và đọc cho Cụ nghe những lời như sau: Chúng tôi là Ban Trị Sự Tổng Liên Hội, HTTLVN, các Tỉnh phía Nam đắc cử vào Đại Hội Đồng Tổng Liên Hội lần thứ 42 họp tại Tp.HCM từ ngày 13-15/6/1976 gồm có:

Mục sư Ông văn Huyên, Hội Trưởng
Mục sư Đoàn văn Miêng, Phó Hội Trưởng
Mục sư Nguyễn Thanh Hằng, Nghị viên
Mục sư Nguyễn Xuân Vọng, Nghị viên
Mục sư Nguyễn Hữu Thế, Nghị viên
Mục sư Tăng văn Hi, Nghị viên
Mục sư Lê Khắc Hóa, Ủy viên

mà không để ai kiêm Thư ký và Thủ quỹ nữa. Cụ bằng lòng như vậy, nên tôi về nhà đánh máy lại văn thư sau nầy mà đồng ý bỏ văn thư trước (tức văn thư Cụ cho phóng ảnh bản sao đã gởi cho quý vị đó), rồi Cụ ký tên vào, và chính văn thư nầy tôi đã gởi lên Chánh quyền Trung Ương xin tư cách pháp nhân cho Hội Thánh đó (đính kèm phóng ảnh bản sao văn thư sau nầy cho quý vị biết). Tôi tưởng rằng khi Cụ đã ký tên vào văn thư sau thay cho văn thư trước, thì đương nhiên hủy bỏ văn thư trước, vì tôi không muốn có sự hiểu lầm. Xong việc tôi ra về, và từ ngày đó đến nay đã gần một năm rồi và tôi cứ tưởng văn phòng đã bỏ văn thư đó vào thùng rác rồi, nào ngờ đâu bây giờ nhân viên văn phòng hay người nào đó bươi móc ra rồi trình cho Cụ, xuyên tạc sự thật, rồi phóng ảnh bản sao văn thư cũ đó, rồi tham mưu cho Cụ soạn ra văn thư số 28/TLH/VP ngày 19-04-1991 dùng những lời lẽ nặng nề, trình bày nội dung sai sự thật gởi cho các vị trong BTS/TLH và BTS các Địa Hạt biết, để nhục mạ tôi, ganh ghét tôi và cho rằng tôi mạo nhận chức vụ Thư ký TLH. Thưa quý vị, với tư cách của Cụ Hội Trưởng mà có hành động như vậy sao? Thật tôi không ngờ và không biết ai đã tham mưu cho Cụ viết thư sỉ nhục tôi một cách tàn nhẫn như vậy? Nhưng sự thật, tôi đã trình bày chắc quý vị đã hiểu rồi (…)
(trích văn thư ngày 04-8-1991)

Qua văn thư của tôi là Mục sư Lê Khắc Hóa đề ngày 04-5-1991 gởi cho các quý vị trong BTS/TLH và BTS các Địa Hạt phủ nhận văn thư số 28/TLH/VP ngày 19-4-1991 của Cụ Ms Hội Trưởng Ông văn Huyên, vì nội dung thứ 01, Cụ Hội Trưởng đã trình bày sai sự thật, có tánh cách vu khống. Còn nội dung thứ 02, Cụ Hội Trưởng công bố giải nhiệm chức vụ thành viên BTS/TLH của tôi là bất hợp lý, hoàn toàn sai với Điều lệ của HTTLVN mà Cụ không nắm vững. Trong văn thư nói trên, tôi đã giải thích một cách rõ ràng về việc làm đáng tiếc của Cụ Hội Trưởng và xin quý vị trong BTS/TLH và BTS các Địa Hạt lên tiếng để cho Cụ Hội Trưởng biết được sự việc sai trái đó và Cụ tự rút lại văn thư của Cụ. Bởi tôi rất thông cảm với Cụ Hội Trưởng vì tuổi già sức yếu, nói trước quên sau, nên Cụ mới nghe theo lời của những vị tham mưu không trung thực, dựng lên những việc sai trái, xuyên tạc sự thật, để làm tổn thương cho chức vụ của tôi là một thành viên trong BTS/TLH. Theo tôi suy nghĩ: có lẽ những vị tham mưu cho Cụ Hội Trưởng đây không muốn cho tôi ở trong BTS/TLH đâu, để cho họ được dễ dàng thao túng việc của Giáo hội, mượn tay của Cụ Hội Trưởng để hợp thức hóa những việc làm sai trái của họ, gây tổn thương đến công việc chung của Giáo hội. Bởi vì Cụ Hội trưởng đã quá già yếu, trên 91 tuổi thọ, bệnh hoạn thường xuyên và khiếm thị, nên không thể làm gì được nữa, chỉ còn ngồi ký tên cho hợp thức hóa các văn thư được soạn sẵn mà thôi.

Với tư cách là một thành viên trong BTS/TLH, tôi không thể nín lặng được nữa, nên phải nói ra sự thật đau lòng nầy, để mong các quý vị vì công việc chung của Nhà Chúa trong giai đoạn hiện tại mà lên tiếng nói thẳng cho Cụ Hội Trưởng biết về những việc làm đáng tiếc ấy, để Cụ sửa đổi, chớ đừng vì nễ nang quá. Nếu BTS/TLH và BTS các Địa hạt cứ âm thầm chịu đựng mà không lên tiếng, thì Cụ Hội Trưởng chỉ biết nghe theo các vị tham mưu không trung thực hướng dẫn, tán tụng Cụ, nên Cụ tưởng tất cả việc làm của Cụ là đúng, là trọn vẹn; mà tình trạng nầy cứ để lâu ngày, thì càng rất tác hại lớn cho công việc chung của Nhà Chúa.

Tôi đã nhiều lần gặp Cụ Ms Phó Hội trưởng Đoàn văn Miêng trình bày, và Cụ Phó Hội Trưởng cho biết rằng: Cụ Hội Trưởng ra văn thư số 28/TLH ngày 19-4-1991, đó là theo ý riêng của Cụ. Chính vì thế mà văn phòng TLH đã giấu Cụ Phó Hội Trưởng, âm thầm gởi văn thư đó đi các nơi mà không gởi cho Cụ Phó Hội Trưởng biết, cho đến khi Cụ Phó Hội Trưởng nhận được văn thư của tôi đề ngày 04-5-1991 phủ nhận văn thư của Cụ Hội Trưởng, thì Cụ Phó Hội Trưởng rất đổi ngạc nhiên, nên Cụ nhờ nhân viên của Cụ đến văn phòng TLH buộc thư ký văn phòng TLH phải trình văn thư của Cụ Hội Trưởng đó đem về cho Cụ Phó Hội Trưởng được biết chứ đừng có giấu nữa. Như vậy, quý vị thấy rõ việc làm của văn phòng TLH hiện nay là thế nào rồi! Sau khi Cụ Phó Hội Trưởng đọc xong văn thư số 28/TLH/VP ngày 19-4-1991 của Cụ Hội Trưởng, thì Cụ Phó Hội Trưởng cho tôi biết rằng văn thư của Cụ Hội Trưởng đó không có giá trị vì về phương diện pháp lý của Giáo hội không có Biên bản của BTS.TLH họp lại biểu quyết, đó là ý riêng của Cụ hội Trưởng thôi, vả lại Cụ Hội Trưởng không có quyền giải nhiệm một thành viên BTS/TLH được đắc cử hợp pháp như vậy. Hội Trưởng chỉ thi hành những điều nào mà thôi. Cụ Phó Hội Trưởng khuyên tôi yên lặng cầu nguyện để Chúa bênh vực cho và chờ đợi để Ban Thường trực TLH giải quyết. Tôi vâng lời Cụ Phó Hội Trưởng chờ đợi đến nay đã được 3 tháng rồi mà chưa thấy Ban Thường trực và BTS/TLH lên tiếng. Chỉ có các vị MSTĐ và quý chức viên BTS các Hội Thánh nào có nghe và đọc được văn thư số 28/TLH/VP ngày 19-4-1991 của Cụ Hội Trưởng, thì họ đều phát biểu rằng: Việc làm của Cụ Hội Trưởng là sai và hơn nữa với cương vị của Cụ là Hội Trưởng mà Cụ dùng chi những từ quá nặng nề, mất hết tình yêu thương không còn gì là đạo đức nữa. Những câu Cụ viết trong thư như: cố ý mạo nhận có dụng ý mưu đồ riêng. Những người trí thức ở thế gian mà còn chưa dám dùng những lời lẽ ấy với nhau thay, phương chi Cụ là Hội Trưởng mà lại dùng chi những từ quá nặng nề như vậy? Có người bênh vực Cụ Hội Trưởng phát biểu rằng: Tôi không tin là Cụ Hội Trưởng viết như vậy đâu, mà có lẽ những tham mưu của Cụ thiếu trí thức đạo đức, nên mới dùng những lời kém đạo đức như vậy. Nhưng dầu ai soạn thảo văn thư đi nữa mà Cụ Hội Trưởng ký tên, thì Cụ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm mà thôi. Rất tiếc, Cụ không đọc được văn thư, chỉ nghe người soạn đọc lại thôi. Nếu mắt Cụ sáng chắc không đến nỗi Cụ viết những câu như vậy đâu… Thật đáng tiếc! Chính vì vậy mà tôi viết thư nầy kính xin các quý vị trong BTS/TLH và BTS các Địa Hạt lên tiếng nói thẳng cho Cụ Hội Trưởng biết về những việc làm đáng tiếc của Cụ để Cụ sửa đổi. Còn nếu quý vị cứ nín lặng thì tương lai của Giáo hội sẽ đi về đâu?

Kính thưa quý vị, chắc quý vị cũng như tôi, chúng ta thảy đều nặng lòng với công việc chung của Nhà Chúa và mỗi chúng ta đều thấy mình có trách nhiệm. Chính tôi đã từng nghe một số đông tôi tớ con cái Chúa ở khắp nơi than phiền nhiều về văn phòng Tổng Liên Hội hiện nay, đồng thời họ cũng có những đề nghị sau đây, tôi kính trình lên BTS/TLH để được giải quyết:

1/. Đề nghị BTS/TLH xét gấp cho Cụ Hội Trưởng Ms Ông văn Huyên được nghỉ dài hạn, để Cụ dưỡng bệnh cho đến khi Cụ được khỏe hẳn thì sẽ trở lại chức vụ Hội Trưởng, vì Giáo hội không thể nài ép Cụ cứ phải thi hành chức vụ trong lúc Cụ bệnh hoạn không còn đủ sức để lo mọi công việc cho các Hội Thánh trong Tổng Liên Hội được. Trong thời gian Cụ Hội Trưởng nghỉ dưỡng bệnh, xin Cụ Ms Phó Hội Trưởng tạm thời xử lý chức vụ Quyền Hội Trưởng, chiếu theo Điều lệ của HTTLVN.

2/. Đề nghị BTS/TLH chỉnh đốn lại văn phòng Tổng Liên Hội. BTS/TLH nên cử một Ủy viên Thường trực trong các thành viên BTS/TLH để trực tiếp làm việc mỗi ngày tại Văn phòng Tổng Liên Hội, giải quyết những việc hành chánh thông thường trong TLH. Còn những việc quan trọng thì trinh lên cho Hội Trưởng giải quyết trong phạm vi quyền hạn Hội Trưởng. Những việc ngoài quyền hạn Hội Trưởng, thì Hội Trưởng phải họp BTS/TLH (hoặc hiện diện hoặc bằng văn thư) để lấy ý kiến chung giải quyết.

3/. Để tránh sự ngộ nhận cho các cơ quan, đoàn thể và các vị khách đến thăm văn phòng TLH. Đề nghị văn phòng Địa Hạt Đông Nam Bộ phải tách rời xa văn phòng Tổng Liên Hội số 155 đường Trần Hưng Đạo, Quận I, TPHCM và dọn đi nơi khác càng sớm càng tốt để khỏi có sự nhầm lẫn giữa văn hòng TLH và văn phòng Địa Hạt Đông Nam Bộ.

Mục sư LÊ KHẮC HÓA

Tiếp theo đến những tháng cuối năm 1991, lại xảy ra sự việc tại Hội Thánh Mỹ tho thuộc Địa Hạt Trung Nam Bộ.

Vấn đề bắt đầu từ sau sự qua đời của Ms Nguyễn Sơn Hà, chủ tọa HT Mỹ tho, thì Địa Hạt cử TĐ Phụ tá Lê văn Khải giữ chức Quyền chủ tọa HT và đặc cách tạm thời mời Bà Ms Nguyễn Sơn Hà làm Cố Vấn tinh thần cho HT. Nhưng nội bộ HT Mỹ tho có sự bất đồng ý kiến giữa việc không mời TĐ phụ tá Khải do Địa Hạt cử, lại mời TĐ phụ tá Triệu Nguơn Ân. Trong đó lại thêm tranh chấp chủ tọa giữa TĐ Nguyễn Ngọc Sáng và TĐ Trần văn Thới tại HT Ngô Quyền (Mỹ tho). Quyết định của Địa Hạt được Ms Hội Trưởng chấp thuận (xem Biên bản tham khảo - phần Bà Hà vì có vài dư luận, nên Địa Hạt không cho đi giảng trong Hạt nữa). Vì không đồng ý với Địa Hạt, nên BTS Hội Thánh Mỹ tho đã trình Cụ Ms Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng can thiệp. Sự can thiệp nầy gây tranh chấp trầm trọng, lên đến Chánh quyền và kéo dài mấy năm không giải quyết được. Hội Thánh Mỹ tho cũng chưa mời được chủ tọa.

VĂN BẢN THAM KHẢO
(Trich Biên bản số 04-91/ĐH. TrNB/15, ngày 28-10-1991 của BTS/ĐH Trung Nam Bộ)
………………………………………………………
1-BIỂU QUYẾT
Phủ quyết việc để cử cô Nguyễn thị Bảy, Thư ký HT Mỹ tho làm Chủ tọa lâm thời Hội Thánh Mỹ tho, do Ban Chấp sự HT Mỹ tho họp ngày 26-8-1991. Vì Điều lệ ở điều VI, khoản 6 có ghi: “… còn nếu Mục sư hay Truyền đạo Chủ tọa một HT đã từ chức rồi, và Hội Thánh chưa có Mục sư hay Truyền đạo thay thế”. Hiện tại, Hội Thánh Mỹ tho có hai TĐS Lê văn Khải và TĐS Triệu Nguơn Ân, vốn là Phụ tá Mục sư Chủ tọa Hội Thánh trước đây, dù hiện nay không phải là chủ tọa, nên không thể áp dụng Điều lệ đề cử một chức viên trong Ban Trị Sự làm chủ tọa lâm thời được.

2-BIỂU QUYẾT:
Phủ quyết việc “Mời Bà Quả phụ Mục sư Nguyễn Sơn Hà làm Cố vấn cho BTS Hội Thánh Mỹ tho” do Ban Chấp Sự họp vào ngày 07-9-1991. Vì chức vụ nầy không có trong Điều lệ hiện hành của Hội Thánh Tin Lành Việt-nam, dù trước đây Địa Hạt và Tổng Liên Hội có đặc cách tạm thời mời Bà làm Cố Vấn tinh thần cho HT khi Địa Hạt cử TĐ Lê văn Khải giữ chức vụ Q.Chủ tọa HT Mỹ tho, nhưng Ban Chấp sự không thi hành Biên bản, nên đương nhiên Bà Hà cũng không là Cố Vấn tinh thần cho Hội Thánh hay cho Ban Trị Sự Hội Thánh.
Đồng thời, kể từ ngày ra Biên Bản nầy, chấm dứt ngay việc mời Bà QP.MS Nguyễn Sơn Hà chia sẻ Lời Chúa cho Hội Thánh Mỹ tho, cũng như các Hội Thánh trong Địa Hạt Trung Nam Bộ, dù trước đây Địa Hạt và Tổng Liên Hội có tạm cho Bà góp phần chia sẻ Lời Chúa cho Hội Thánh, nay thấy không còn thích hiệp nữa.
.......................................
4-BIỂU QUYẾT:
Chấm dứt nhiệm vụ của TĐS Trần văn Thới đã tạm lo cho Hội Thánh Ngô Quyền, vì không được nhập hộ khẩu và phải rời khỏi Hội Thánh số 13 Ngô Quyền, Tp.Mỹ tho. Giao chỗ ở lại cho TĐS Nguyễn Ngọc Sáng có hộ khẩu tại 13 Ngô Quyền, đã được Công an Phường 7 giải quyết cho về ở. Còn chức vụ của TĐS Nguyễn Ngọc Sáng sẽ được Địa Hạt trình Mặt Trận Thành phố Mỹ tho giải quyết sau.

BAN TRỊ SỰ ĐỊA HẠT ĐỒNG KÝ TÊN

VĂN BẢN THAM KHẢO
(Thư của Ms PHT Đoàn văn Miêng gởi BTS/ĐH Trung NB ngày 29-11-1991 bằng cách nhờ người cầm tay chuyển qua BTS/HT Mỹ tho.
…………………………………………………………
Thưa quý ông,
Ngày hôm qua (28/11), Ms Nghị viên Nguyễn văn Thanh Vân có đến tôi cho biết chiều thứ bảy 30/11 được Mặt Trận Tổ Quốc TP. Mỹ tho mời họp, xin tôi cho ý kiến.

Đột ngột, tôi không có ý kiến chi. Song sau một đêm suy nghĩ, căn cứ trên Biên bản số 4-9/BTS/ĐHTrNB/15, tôi xin lưu ý Quí BTS các điểm sau đây:

Khoản 4, điều 2: BTS và CS/HT Mỹ tho không đồng ý mời Ms Nguyễn văn Thanh Vân kiêm nhiệm Q.Chủ tọa HT của họ. Vì khoản 2, điều 1 cử TĐTS Lê văn Khải, phụ tá HT Mỹ tho tạm thời giữ chức vụ Q.Chủ tọa HTTL Mỹ tho cho đến khi có sự sắp đặt mới. Theo ý tôi, khi HT có BTS và CS, có TĐS mà phải mời một Ms bên cạnh kiêm nhiệm là một việc quá đáng.

Khoản 7: Chánh quyền địa phương sẵn sàng chấp nhận, nếu HT Mỹ tho mời thầy Khải hoặc thầy Ân, chớ không ép buộc HT phải làm điều đó.

Khoản 8: Trước đây khoảng một năm, BTS/HT Mỹ tho đã có thơ xin Địa Hạt cử TĐS Lê văn Khải đi nơi khác, vì họ không đồng ý mời thầy tiếp tục chức vụ tại đó. Chúng ta đã cố gắng dàn xếp cho thầy Khải ở lại, song không kết quả. Chúng ta có quyền đề nghị, giải thích, song không có quyền ép buộc đúng như Điều lệ đã ghi. Sự ép buộc sẽ không bao giờ có kết quả tốt, mà chỉ tai hại cho cả đôi bên: HT và TĐ.

Biều quyết I: Phủ quyết việc BTS/HT Mỹ tho mời cô Thơ ký Nguyễn thị Bảy Q.Chủ tọa.

Việc nầy, tôi đã nói trước cho Ms Q. Chủ nhiệm Ngô văn Bửu. Nếu HT Mỹ tho không chịu tiếp tục mời thầy Khải, thì phải đôn lên, nếu họ đồng ý mời thầy Ân Q.Chủ tọa. Vì nếu HT nào không có Chủ tọa, thì Thơ ký được Q.Chủ tọa. Quý ông gạt bỏ thầy Ân ra, thì làm sao quý ông gạt cô Bảy khỏi Q.Chủ tọa được.

Biểu quyết II: Tôi đã đồng ý với quý ông phủ quyết việc Bà Hà làm Cố vấn của BTS/HT Mỹ tho, song cứ để cho Bà Hà giảng dạy. Khi có sự phản ứng của HT nào mà chúng ta xét thấy phải ra lệnh chấm dứt sẽ hay. Quý ông đã đi quá xa là cấm Bà Hà chia sẻ Lời Chúa cho bất cứ HT nào trong Địa Hạt của quý ông.

Quý ông làm như tức giận, nên tôi không đồng ý với quý ông những điểm nêu trên. Đề nghị với quý ông xét lại mọi việc đã qua đối với HT Chúa tại Mỹ tho.

Mục sư Đoàn văn Miêng

Ms Q. Chủ nhiệm Địa Hạt Trung Nam Bộ có viết tay nhận xét về bức thư nầy như sau:

Đây là điều đáng tiếc: “Cụ Ms PHT quá tin người mà những người Cụ tin đó đã tố cáo Cụ bảo vệ CT.”
Xác nhận việc thơ nầy của Cụ Ms PHT gởi nhờ chuyển tay rất tác hại cho quan hệ TLH và ĐH Tr.NB

1. Công việc gởi nhờ BTS Nguyễn Trãi có ý thông báo cho họ biết và gây cho họ bị cám dỗ xé ra đọc
2. Thơ khi chuyển đến tay tôi thì lá thơ thứ 2 có rách hai chỗ, bao thơ xé ra dán lại xần xùi, bèo nhèo. Tôi có báo cho Khương Hùng mang thơ biết việc nầy là “có người xé thơ ra xem”.
3. Cụ Ms PHT hoàn toàn phủ nhận chức năng của ĐH lãnh đạo các HT.
4. Làm nấc thang cho HT Nguyễn Trãi leo lên và xúc phạm đến chức năng của ĐH. Nếu Cụ PHT cho Bà Hà cứ giảng dạy thì Cụ thêm vào Điều lệ sự tổ chức của HT chúng ta.
5. BTS/ĐH hoàn toàn chống đối việc làm nêu trên. Đề nghị BTS.ĐH giao trách nhiệm nầy cho Cụ Ms PHT.

(Thư của Ms Đoàn văn Miêng gởi BTS/HT số 13 Ngô Quyền, Mỹ tho, ngày 4-12-1991)

.........................................

Qua các văn thư và lời trình bày mà 3 Chấp sự đã đến với tôi hồi 3 giờ 30 ngày 2-12-1991, tôi đã có thơ lưu ý Ban Trị Sự ĐH Trung Nam Bộ.

Vậy, xin khuyên Ban Trị Sự và toàn thể HT tại số 13, Ngô Quyền Mỹ tho hãy an tâm, tiếp tục thờ phượng Chúa một cách bình thường, nhất là cho ngày Lễ Giáng Sinh được chu đáo để gây dựng HT và chia sẻ niềm vui cho đồng bào. TĐ Trần văn Thới cứ ở với Hội Thánh, hiệp tác nhau phục vụ Chúa.
………………………………
Mục sư Đoàn văn Miêng

(Văn thư số 07/TLH/VP của Ms Hội Trưởng Ông văn Huyên gởi Ms Đoàn văn Miêng, ngày 22-01-1992)
.....................

Được biết Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng đã đơn phương giải quyết và cũng không trao đổi trước với Ban Trị Sự Địa Hạt Trung Nam Bộ, khiến cho công việc không được ổn thỏa. Vì vậy, xin Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng chịu trách nhiệm mời Ban Trị Sự Địa Hạt Trung Nam Bộ để sửa lại việc nầy cho được ổn thỏa.

HỘI TRƯỞNG
Ms ÔNG VĂN HUYÊN.

(Thư không số không ngày của Ms PHT Đoàn văn Miêng gởi Ban Thường trực TLH)
........................................

Thưa Cụ Hội Trưởng và Cụ Nghị viên,
Tôi xin giải thích sự hiểu lầm của Ban Trị sự Trung Nam Bộ như sau:

1/. Theo nguyên tắc hành chánh của Hội Thánh chúng ta: nếu chi hội có sai lầm, Địa hạt sửa sai, nếu Địa Hạt có sai lầm, TLH sửa sai; nếu TLH có sai lầm, hội đồng TLH sửa sai. Với cương vị của Phó Hội Trưởng, tôi có trách nhiệm sửa sai Địa Hạt, và mỗi lần sửa sai, tôi đều có thông báo cho Ban Thường trực TLH. Tôi không cần, cũng không hề xen vào nội bộ của Địa Hạt, song khi thấy Đia Hạt sai lầm, tôi sửa lại.
Vì vậy, sau khi biên bản số 04-91/ĐH/TrNB/15 ra ngày 28-10-1991 liền có thơ khiếu nại của 2 HT số 13 Ngô Quyền, Mỹ tho, và HT số 8 Nguyễn Trãi Mỹ tho. Vì khẩn cấp, tôi đã ngăn lại chờ TLH duyệt.

2/. Đọc Biên bản bất thường phiên họp giữa Ban Thường trực Mặt Trận Tổ Quốc Tp. Mỹ tho với Ban Trị sự Trung Nam bộ ngày 29-11-1991, tôi nhận thấy sự giải thích Điều lệ của HTTLVN một cách lệch lạc. Tôi đắn đo lắm, nhưng cuối cùng phải viết một thư cho các nhân viên TLH đồng thời gởi một bản đến Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Tp. Mỹ tho để xin đính chánh.

Ms Đoàn văn Miêng

(Trích văn thư số 04-92/ĐH. TrNB/VP/316 của Địa Hạt Trung Nam Bộ gởi Ms Hội Trưởng và BTS/TLH)
…………………………………………………………….
1-Về văn thư ngày 13-5-92 của Cụ Phó gởi Mặt Trận Tp.MT và hai văn thư kế tiếp gởi BTS.TLH và Ban TT.TLH:
Cụ Phó có ghi:

a/- Có lẽ trong khi bất cẩn, BTS.ĐH. TrNB muốn trình bày Điều lệ mà không có Điều lệ trong tay, nên có những khuyết điểm đáng tiếc.

b/- Tha thiết yêu cầu Chánh quyền thông cảm mà bỏ lỗi cho chúng tôi.

XIN GIẢI THÍCH:

a/- BTS.ĐH chúng tôi rất cẩn thận, có đem theo Điều lệ trong tay, có đọc toàn văn Điều lệ nói về MSTĐ – Ban Chấp sự Hội Thánh Tự trị, Tự dưỡng thế nào cùng quyền hạn được Điều lệ qui định. Còn Biên bản của Mặt Trận ghi là theo cách nhìn khách quan mà nói chớ chúng tôi không thể nào giải thích như thế đâu. Chính Cụ Phó đã nghĩ lầm về chúng tôi nên mới viết vội như vậy.

b/- Mặt Trận và Chánh quyền có bắt lỗi Địa Hạt đâu, song rất ân cần trân trọng, cũng như có bắt lỗi Cụ Phó đâu. Vả lại chúng tôi đâu có lỗi hoặc nhờ Cụ Phó xin lỗi đâu, mà trái lại động cơ nào, do ai thúc đẩy mà Cụ Phó lại rất sốt sắng viết thư xin bỏ lỗi, thật đáng tiếc cho bức thư xin lỗi của Cụ không đúng chỗ.

*Nếu cần nói xin Chánh quyền và Mặt Trận Tp. Mỹ tho bỏ lỗi thì sau đây là lỗi của chính Cụ Phó, mà Cụ phải xin lỗi:

1/- Trong Biên bản ngày 29-11-91, Mặt Trận Tp. Mỹ tho ghi rõ ở kết luận số 2 rằng: "Không chấp nhận cho Tđ Trần văn Thới tạm lo cho Nhà thờ 13 Ngô Quyền Tp. Mỹ tho nữa".

-Thế mà Cụ Phó viết thư gởi cho BTS.HT Ngô Quyền ngày 04-1-91 có câu chỉ đạo: "TĐ Trần văn Thới cứ ở với Hội Thánh, hiệp tác nhau phục vụ Chúa".

Điều nầy chứng tỏ Cụ Phó chống lại quyết định của Mặt Trận Thành phố Mỹ tho, độc đoán, tự quyết theo ý riêng, chớ không hề có ý kiến của Thường trực TLH, xen vào nội bộ của HT Ngô Quyền, vượt lên thẩm quyền của BTS.ĐH TrNB đã biết mọi sự trong Hạt, nên đã lên Biên bản ngày 28-10-91: "Chấm dứt nhiệm vụ của TĐS Trần văn Thới đã tạm lo cho HT Ngô Quyền vì không được nhập hộ khẩu".

2/- Biên bản ngày 06-12-91 của Mặt Trận Tp.Mỹ tho họp với MSTĐ và Ban Trị sự Hội Thánh Mỹ tho đi đến kết luận: “Chánh quyền địa phương chỉ chấp nhận trong Tin Lành Tp. Mỹ tho gồm có các vị MSTĐ danh sách như sau: (…) "Do đó, ngoài danh sách các vị MSTĐ nêu trên, những ai hoạt động trong các Nhà thờ Tin Lành Tp.Mỹ tho như truyền giảng hoặc thực hiện các nghi lễ Tôn giáo được xem là bất hợp pháp".

-Thế mà văn thư Cụ Phó đề ngày 29-11-91 gởi cho BTS/ĐH/ TrNB nói rằng: “Song cứ để cho Bà Hà giảng dạy khi có sự phản ứng của HT nào mà chúng ta xét thấy phải ra lệnh chấm dứt sẽ hay”. Chúng tôi xin nhắc lại là khi Ms Hà qua đời, BTS. HT Mỹ tho có đơn xin, được TT/TLH chỉ đạo cho phép Địa Hạt biểu quyết: "Đặc cách đề cử Bà QP. MS. NS. Hà Q.Chủ tọa HT Mỹ tho thời hạn là hai năm". Tất nhiên Bà có quyền chia sẻ Lời Chúa cho HT. Nhiệm kỳ hai năm (24-10-88 đến 24-10-90) đã mãn. Trở về với Điều lệ, không có khoản nào cho phép bổ nhiệm hay đề cử 01 Nữ làm Q.Chủ tọa hay là chủ tọa, nên BTS/ĐH đã biểu quyết được TT.TLH thông qua là chấm dứt nhiệm vụ cùng không cho Bà Hà chia sẻ Lời Chúa nữa. Vả lại, Bà chỉ có học Trường Kinh thánh Đà nẵng một năm mà thôi, không có trong danh sách MSTĐ đoàn, nên BTS.ĐH chúng tôi không cho phép Bà Hà giảng dạy là đúng với Điều lệ hiện hành của HTTLVN, có gì sai đâu mà Cụ lại sửa sai. Chúng tôi nhận thấy Cụ Phó tức giận BTS.ĐH vì không cho Bà Hà giảng dạy ngược lại ý riêng của Cụ, nên Cụ viết thư có tính cách làm sỉ nhục ĐH chúng tôi hơn là gây dựng. Chính Cụ làm sai Điều lệ là cứ để Bà Hà giảng dạy, dù Bà Hà đã chấm dứt nhiệm vụ tại HT Mỹ tho. Sau đó, Cụ lại cho phép Bà Hà triệu tập Quý Bà Quả Phụ MSTĐ họp tại 30 Huỳnh Quang Tiên (Hồ Hảo Hớn) để sau nầy Bà Hà có thể trở nên Lãnh tụ cao cấp cho các quý QP.MSTĐ. Việc triệu tập các Bà thiết tưởng thuộc quyền hạn và chức năng của Thường trực Tổng Liên Hội, chớ không phải ở trong tay một Cụ Phó Hội Trưởng và kế đến là Bà Hà. Mọi việc làm sai lệch Điều lệ của Bà Hà phần lớn là do Cụ Phó hậu thuẫn, với ý riêng chớ không phải của Thường trực Tổng Liên Hội, nên sau đó Cụ Phó không cho họp tại nhà Cụ Phó nữa, nên Bà Hà đến xin họp tại Sàigòn, nhưng cũng không cho, và đến nhà thờ nào đó ở vùng Phú Xuân hội họp.

2-VỀ VĂN THƯ CỤ PHÓ NGÀY 4-5-92 GỞI BTS.TLH:

Nhơn viên TLH như Cụ Phó có ghi là 12 người mà thôi, đáng ra đánh máy, song Cụ Phó lại quay ronéo, chắc là muốn phổ biến cho nhiều người xem mà chúng tôi đã được biết một vài Mục sư trong Hạt chúng tôi có bản đó và đọc cho HT nghe nữa mới là sai. Vì Cụ đâu chỉ muốn BTS/TLH biết thôi đâu mà muốn cho nhiều người biết nữa để sự sỉ nhục của chúng tôi rộng rãi hơn. Trong thư nầy, đoạn chót Cụ nói: “Chủ đích tôi trình bày sự việc trên đây và giải thích là muốn củng cố hàng ngủ chúng ta sống và phục vụ theo Chúa dạy”. Nhưng ngược lại là củng cố người theo Cụ, người khác bị nằm xuống để rồi Cụ và nhóm người khác sống theo ý riêng mà cho là phục vụ Chúa, vì đã làm sai Điều lệ và trật tự của Hội Thánh chung.

-VỀ VĂN THƯ KHÔNG SỐ, KHÔNG ĐỀ NGÀY (ĐH nhận thấy nhật ấn Bưu điện Tp.HCM ngày 18-6-92, có đoạn Cụ viết:

1-Chi hội sai, Địa Hạt sửa (thực tế ĐH sửa chi hội Mỹ tho và Ngô Quyền, Cụ lại bênh vực một cách sai Điều lệ). Địa hạt sai, Tổng Liên hội sửa.

2-Tôi đắn đó lắm, cuối cùng phải viết một thư cho các nhân viên TLH, đồng thời gởi một bản đến UBMTTQTP Mỹ tho để xin đính chánh.

Thiết tưởng không có ai thương BTS.ĐH TrNB cho bằng Cụ Phó, sẵn sàng và sốt sắng xin lỗi và đính chánh với Mặt Trận, xin chân thành cám ơn Cụ Phó, nếu đó là thật tâm xây dựng. Nhưng ngược lại là một sự sỉ nhục lớn cho Địa Hạt chúng tôi. Xin Cụ nghĩ lại!

Nếu BTS.ĐH có lỗi thực sự thì tại sao Cụ Phó không gọi BTS về để Cụ nhỏ to riêng tư khuyên lơn, dạy dỗ, sửa sai cho 03 chúng tôi với riêng Cụ trước nhứt, nếu chúng tôi không nghe mà tiếp tục làm sai, thì Cụ Phó trình TT.TLH gọi chúng tôi về khuyên dạy – sửa sai. Nếu không nghe, không ăn năn thì TT.TLH mới trình cho toàn thể nhân viên Tổng Liên Hội quyết định. Ba bước ấy Cụ đã đi quá nhanh và vượt trình tự tiếp tục làm sai Điều lệ mà sửa sai người khác, sai Lời Chúa dạy trong Math. 18:15-17, mà muốn người khác ‘Sống và Phục vụ theo Chúa dạy’. Trân trọng kính mời Cụ mở ra Điều lệ về khoản: Cách sửa trị kẻ phạm tội ở điều thứ VII, khoản 1, qui định và đọc lại Lời Chúa ở Math. 18:15-17 để như tấm gương phản chiếu việc làm của Cụ Phó như thế là đúng hay sai, gây dựng hay phá đổ? Chắc vì Cụ muốn bênh vực BCS/HT Mỹ tho, HT Ngô Quyền và Bà Hà, nên Cụ Phó đã tức giận BTS.ĐH mà viết những văn thư để sỉ nhục chúng tôi một cách tàn nhẫn, chúng tôi còn tinh thần đâu nữa để lãnh đạo Hội Thánh, quan hệ với Chánh quyền, và tôn trọng Cụ Phó như ngày nào? Trân trọng kính xin Cụ Phó vui lòng suy nghĩ lại?

3-VỀ VIỆC HT MỸ THO TỔ CHỨC BỒI LINH CHO MSTĐ, BAN CHẤP SỰ CÁC HT TRONG TỈNH TIỀN GIANG: 29-5-92.

Điều lệ qui định:
Cấp Chi hội: Điều thứ VI. Các Hội đồng của Chi hội. Khoản 3 về Hội đồng Phục hưng: Các Chi hội nên lo tổ chức Hội Đồng Phục hưng để dức dấy phần thuộc linh của Hội Thánh (Tất nhiên chỉ có quyền với tín hữu tại Chi hội mình thôi)

Cấp Địa Hạt: Điều thứ VII. Hội đồng bồi linh: BTS.ĐH phải lo họp Hội Đồng Bồi linh trong Hạt mỗi năm ít nhứt một lần (Tất nhiên cho cả Hạt, hoặc liên tỉnh hay từng tỉnh cho MSTĐ, Chấp sự, tín hữu, như năm 1990, BTS.ĐH tổ chức Bồi linh và học tập phục vụ Chúa do chính Cụ Phó đến dạy và giảng tại Vĩnh long, Cao lãnh, Hàm long và Mỹ tho.

Thế mà Cụ Phó, TĐS Ân, Bà Hà, cô Thư ký Nguyễn thị Bảy và Ban Chấp sự HT Mỹ tho quan hệ trực tiếp với nhau, được hậu thuẫn mạnh mẽ của Cụ Phó trong mọi lãnh vực mà tổ chức: LỄ BỒI LINH CHO MSTĐ, BCS TRỊ SỰ CÁC HT TRONG TỈNH TIỀN GIANG VỚI SỰ CHỦ LỄ VÀ GIẢNG DẠY CỦA CỤ MS PHÓ HỘI TRƯỞNG ĐOÀN VĂN MIÊNG. Thật là rối loạn hàng ngủ chớ không phải là “củng cố hàng ngủ” như thơ Cụ Phó viết vậy. Cụ Phó đến Địa Hạt Trung Nam Bộ chủ lễ giảng dạy cho MSTĐ, Chấp sự trong Tỉnh Tiền giang mà Địa Hạt không hề hay biết hoặc tham khảo ý kiến trước, dù trước đây vào cuối tháng 4/92, Ms Ngô văn Bửu có hỏi ý kiến Cụ Phó định đi giảng bồi linh cho HT Mỹ tho (nội bộ thôi) không? Cụ bảo với Ms Bửu là: Tôi không đến giảng bồi linh cho HT Mỹ tho, nếu không có BTS.ĐH đến dự, tôi đã nói với một nhân viên BTS.HT Mỹ tho phải mời Địa Hạt”. Cụ Phó đã làm rối loạn hàng ngủ nên cô Nguyễn thị Bảy chỉ là Thư ký Hội Thánh Mỹ tho mà thôi, lại vượt quyền không thua gì Cụ Phó mà ký văn bản mời tất cả MSTĐ, Ban Chấp sự trong Tỉnh về dự Lễ Bồi linh ngày 29-5-92 mà BTS.ĐH không hề hay biết, ngoại trừ giờ chót lúc 16 giờ 30 ngày 28-5-92 nhận được TƯ BÁO TIN do cô Bảy ký gởi đến bằng Bưu điện. Thật, Cụ Phó, Bà Hà, Thầy Ân, cô Bảy, Ban Chấp sự đã biểu đồng tình cùng nhau: VƯỢT CẤP, VƯỢT QUYỀN. Trong Tỉnh Tiền Giang có 09 HT (kể cả Gò Công thuộc ĐNB) 13 MSTĐ, kể cả Ms Trần Thiên Tứ thuộc ĐNB. Chỉ có Ms Trưng, Ms Tứ, TĐ Thới, TĐ Ân dự thôi. Còn các Ms A, Vân, Phước, TĐ Khải, Luận, Sáng, Giôna, Sĩ, Khoa, không đi dự là đúng, vì Cụ Phó, thầy Ân, Bà Hà, cô Bảy, Ban Chấp sự, đâu có quyền tổ chức như thế được. Số tín đồ tham dự sáng khoảng 350, chiều khoảng 250, tối khoảng 280, có khoảng 24 chức viên Ban Chấp sự các HT đến dự. Số lượng thật đáng buồn, phẩm chất bài giảng và nội dung càng đáng tiếc hơn, vì hầu như không ai cảm động cầu nguyện và tha thiết với kỳ Bồi linh của nhóm người VƯỢT CẤP, VƯỢT QUYỀN.

Kính Cụ Mục sư Hội Trưởng và quý Ban Trị Sự Tổng Liên Hội,

Qua những điều trình bày trên, Ban Trị sự Địa Hạt Trung Nam Bộ trân trọng kính yêu cầu Cụ Mục sư Hội trưởng và quý vị trong Ban Trị sự Tổng Liên Hội, chiếu theo Điều lệ mà có quyết định:

1-Triệu tập Ban Thường trực TLH hoặc Ban Trị Sự Tổng Liên Hội để nghe chúng tôi trình bày cụ thể hơn nữa và có quyết định tốt nhằm chấm dứt tình trạng như hiện nay.

2-Yêu cầu Cụ Hội Trưởng và TLH, chiếu Điều lệ ra quyết định chấm dứt ngay việc Bà Hà giảng dạy tại HT Mỹ tho và các nơi cũng như đình chỉ ngay vĩnh viễn việc bà Hà triệu tập mời các QP. MSTĐ họp lại hàng tháng hay ba tháng mà không hề được Tổng Liên Hội cho phép cũng như Chánh quyền.

3-Quyết định thế nào (Cảnh cáo hành chánh) cho TĐ Ân, cô Bảy, Ban Chấp sự HT Mỹ tho, được sự hậu thuẫn của Cụ Phó mà vượt cấp, vượt quyền, tổ chức Lễ Bồi linh MSTĐ, Chấp sự các HT trong Tỉnh Tiền Giang ngày 29-5-92 vừa qua, để làm gương cho HT chung cả nước.

4-Chấm dứt ngay việc Cụ Phó theo ý riêng chớ không có ý kiến của Cụ Hội Trưởng, mà tự động trực tiếp xen vào, chỉ đạo, làm cho tình trạng HT Ngô Quyền và Mỹ tho càng thêm khó khăn và ảnh hưởng không tốt cho cả Hạt đối với Cụ Phó như trước đây. Cụ Phó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự vượt quyền, vượt cấp nầy xảy ra tại HT Ngô Quyền và Mỹ tho.

...............................

BAN TRỊ SỰ ĐỊA HẠT TRUNG NAM BỘ

Cũng chính từ những năm nầy, sự rạn nứt lãnh đạo giữa hai Vị Chánh – Phó Hội Trưởng ngày càng trầm trọng. Sự rạn nứt thể hiện qua những lần giải quyết những vấn đề như:

(1). Việc Mục sư Nguyễn Lập mà tại Cần thơ.

Ms Hội Trưởng thì muốn Ms Mà từ chức Chủ nhiệm Địa Hạt theo áp lực của Chánh quyền qua Ms Nguyễn văn Phương và Ms Nguyễn văn Công, vì cho rằng sẽ ổn định công việc trong Hạt. Còn Ms Phó Hội Trưởng thì cương quyết giữ tổ chức đã có qua việc ủng hộ Ms Mà trong chức vụ Chủ nhiệm Địa Hạt Tây Nam Bộ. Tại Hội Đồng Bồi linh ở Hội Thánh Long xuyên, Ms PHT công khai tuyên bố vẫn nhìn nhận chức vụ Chủ nhiệm của Ms Mà. Lời tuyên bố nầy đã được báo lên Chánh quyền. Kết quả là Ms PHT không được ra khỏi Tp.HCM

(2). Việc HT tại Mỹ tho với vấn đề Bà Nguyễn Sơn Hà:

Ms Hội Trưởng đã chấp thuận Biên bản của BTS/ĐH Trung Nam Bộ. Ngược lại, Ms Phó Hội trưởng Đoàn văn Miêng gởi đi những văn thư có tánh chất phủ nhận các quyết định của Địa Hạt (đã được Ms Hội Trưởng thông qua). Do đó có văn thư của Ms Hội trưởng phiền trách Ms Phó HT.

(3). Việc phong chức cho 4 vị Mục sư tại TP.HCM

Khi xảy ra những khiếu nại, phản ứng không thuận lợi của các MSTĐ nhiều nơi vì những người được tấn phong chưa Tốt nghiệp Thần học viện, như tại Hội Đồng Bồi linh ở Mỹ tho, Ms Phó HT Đoàn văn Miêng đã trả lời rằng đó là quyết định của Cụ Ms Hội trưởng, ông chỉ dự mà không ý kiến.

(4). Việc TĐ Huỳnh văn Nhứt tự ý xin làm chủ tọa HT tại Cần thơ

Vào dịp Giáng sanh 1992, TĐ Huỳnh văn Nhứt làm đơn gởi Chánh quyền "xin hầu việc Chúa tại Nhà thờ Cần thơ", và được Chánh quyền chấp thuận cho làm chủ tọa Hội Thánh. Sự việc gây phản ứng mạnh từ Ban Trị Sự HT Cần thơ, vì Hội Thánh không xin và không hay biết. Ms Hội Trưởng đã ủy quyền cho Ms Phó HT đến Cần thơ giải quyết. Việc giải quyết không thành, Ms Hội Trưởng gởi thư trách Ms Phó HT đã đến Cần thơ làm rối loạn, đồng thời thu hồi ấn mộc ủy nhiệm. Rồi sau đó Ms Hội Trưởng lại cử Ms Phó HT đi lần thứ hai, thì Ms Phó HT khước từ.

(5). Việc Ms Lê văn Tôi được cử xử lý Địa Hạt Tây Nam Bộ.

Trước tình hình Ban Trị Sự Địa Hạt Tây Nam Bộ không còn người chính thức lo, Ms Hội Trưởng đã ra văn thư cử Ms Lê văn Tôi (nguyên Thủ quỹ Địa Hạt đã xin hưu trí) xử lý công việc Địa Hạt. Nhưng Ms Phó HT đã phản đối vì cho rằng Ms Tôi không có thực quyền, đã hưu trí, không ở Nhà thờ, không được Hội Thánh Tây Nam Bộ tín nhiệm.

(6). Lúc nào giữa hai Vị cũng có ý kiến trái nhau. Hơn nữa, hầu hết các nguồn tài chánh ngoại viện đều gởi về qua Ms Phó HT Đoàn văn Miêng. Vì vậy, khi cần một văn bản hành chánh, thì người ta đến Ms Hội Trưởng; còn khi cần liên hệ tài chánh thì lại đến Ms Phó HT. Thêm vào đó được diện kiến Ms Hội Trưởng là điều rất khó khăn, kể cả các vị cao cấp từ xa đến, hầu hết chỉ giải quyết bên ngoài văn phòng TLH, khiến cho một số MSTĐ cũng như tín hữu có việc cần tìm đến Ms Phó HT xin ý kiến thì thường được tiếp đón. Do đó tình cảm đa số nghiêng về Ms Phó HT.

(7) Việc HT tại Bà-rịa

Ms Hội Trưởng đã đứng về phía BTS/ĐH.ĐNB, còn Ms Phó HT lại ủng hộ TĐ Nguyễn văn Thắng bác bỏ mọi quyết định của Ms Hội Trưởng và Địa Hạt (xem năm 1993).

(8) Thông báo trong dịp Lễ Phục sinh 1994

Trong dịp Lễ Phục sinh năm 1994, có một thông báo lấy danh nghĩa Văn phòng Tổng Liên Hội, nhưng không có chữ ký của Ms Hội Trưởng, về việc Điều lệ, có ghi địa chỉ liên lạc là địa chỉ của Ms Phó Hội Trưởng, làm cho trong Hội Thánh thấy hình thành 2 (hai) văn phòng Tổng Liên Hội (155 Trần Hưng Đạo và 30 Hồ Hảo Hớn).

VĂN BẢN THAM KHẢO:
(Trích thư của Ms Huỳnh Thiên Bửu gởi Ms Phó HT Đoàn văn Miêng ngày 19-3-1994)
Kính gởi: Cụ Mục sư Phó Hội Trưởng HTTLVN.

Kính thưa Cụ,
Thể theo thông báo mới đây, có đoạn viết: "Nếu có thắc mắc nào, xin hãy viết thư về cho Ms Phó HT, sẽ được giải đáp", tôi xin kính trình Cụ một số thắc mắc:

1-Thông báo về Điều lệ nhưng không hợp lệ: Thông cáo (TC) nầy ghi là của Văn phòng Tổng Liên Hội (TLH), tại sao không có số văn thư, không ghi ngày, không ai ký tên.

2-TC nầy mặc nhiên xác nhận có thêm một Văn phòng Tổng Liên Hội đặt tại 30 Huỳnh Quang Tiên (Hồ Hảo Hớn). Trước đây dưới mỗi TC, Cụ thường ghi là Ms Phó HT phụng soạn. Nay vì lẽ gì hình thức nầy không còn? Tiêu đề của TC đề VP TLH 155 THĐ, nơi nhận là Ban Trị sự và toàn thể giáo hữu, đầu thư ghi tắt người gởi là BTS/TLH, cuối thư cho biết, nếu có thắc mắc hãy viết thư về cho Ms Phó Hội Trưởng. Phần bị chú lại đầy quyền lực: yêu cầu MSTĐ hoặc Thư ký HT đọc TC giữa HT. Những điều đó cho biết tác giả TC không phải VP TLH. Ngoài ra, chi phí in ấn và phát hành không xuất chi ngân quỹ TLH, và VP 30 HQT trực tiếp phát hành TC, cho thấy có thêm một VP TLH đặt tại 30 HQT.

3-TC của cấp lãnh đạo Giáo hội không thể căn cứ trên ‘dư luận xôn xao’ hoặc ‘lời đồn vô căn cứ’, mà phải phát xuất từ thực tiển. Ai xem Điều lệ là lỗi thời? Không còn hiệu lực? Và có biểu hiện cụ thể nào không? Trong khi Cụ MSTS Phạm Xuân Tín "nguyên Phó HT viết", rốt lại HTTLVN vẫn có một bản Điều lệ CŨ KỶ LỖI THỜI, chưa hoàn toàn” (Lược sử Giáo hội Tin Lành Việt-nam – trang 58). VP TLH 155 THĐ là nơi tiếp xúc với nhiều MSTĐ và tín hữu khắp nơi, không hề nghe dư luận như vậy. Bằng cớ là VP TLH không phải là tác giả TC nầy.

4-Điểm then chốt là Cụ Ms Phó Hội Trưởng cũng đã vi phạm nhiều điều khoản trong Điều lệ HTTLVN:
1)- Căn cứ vào điều khoản nào trong Điều
lệ mà Cụ Ms Phó Hội Trưởng ra những TC đầy quyền lực như vậy, trong khi Cụ Ms Hội Trưởng còn sinh tiền?..
......................................

Mục sư Huỳnh Thiên Bửu

1993
******

Biến cố nổi bật nhất trong năm nầy là việc xảy ra ở Hội Thánh tại Bà-rịa. Sau hai năm xây cất, Nhà thờ tại Bà-rịa đã hoàn tất, Hội Thánh biểu quyết chọn ngày 20-7-1993 làm Lễ Khánh thành. Rất tiếc là trước ngày khánh thành nầy, thì trong phiên họp BTS và Chấp sự Hội Thánh vào tháng 6/1993, đã biến thành buổi tranh cãi về việc vài nhân viên BTS/HT tố cáo Thầy TĐ chủ tọa Nguyễn văn Thắng tham nhũng trong công tác xây cất. Sự tranh cãi nầy đưa đến những tranh chấp, ấu đả trong khuôn viên Nhà thờ, xúc phạm khí mạnh Tiệc thánh, đến Chánh quyền. Cuộc tranh chấp nầy được sự ủng hộ của hai thành phần: BTS/ĐH.ĐNB với Ms Hội Trưởng Ông văn Huyên ủng hộ thành phần chống đối TĐ Thắng; còn Ms Phó Hội Trưởng Đoàn văn Miêng thì ủng hộ TĐ Thắng, tạo nên sự chia rẽ nội bộ trầm trọng, kéo dài không giải quyết được.

VĂN BẢN THAM KHẢO
(Trích Bản tin HTTL Bà-rịa)

.........................................

Vào năm 1991, Thầy Cô TĐS Nguyễn văn Thắng nhận thấy phải nổ lực vào Hội Thánh Bà-rịa xây dựng Nhà thờ (…). Ngày 9-5-1991, được Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh cho phép xây cất Nhà thờ. Ngày 15-9-1991, Lễ cầu nguyện khởi công xây cất (…). Tổng cộng chi phí lên đến 258 triệu đồng (trong đó còn thiếu nợ 5 triệu đồng). Phiên họp Ban Trị Sự, Chấp sự của Hội Thánh ngày 23-5-1993 đã biểu quyết lấy ngày 20-7-1993 làm Lễ khánh thành dâng Nhà thờ cho Chúa …

Song ma quỉ đã rình rập tìm cơ hội phá rối Hội Thánh, đó là bản chất cố hữu từ ngàn xưa của nó. Lợi dụng số tín đồ chưa được tái sanh cám dỗ và kích động, Thư ký Hội Thánh Trần thị Hà cùng bà con thân thuộc trong gia đình (…) làm áp lực vu khống ông Chủ tọa Hội Thánh là TĐS Nguyễn văn Thắng về tội tham nhũng trong công việc xây cất Nhà thờ. Thời gian hai năm qua Trần thị Hà vẫn là Thơ ký Hội Thánh kiêm Thơ ký xây cất, đều không có ý kiến xây dựng nào cả, cũng không hề có lời qua tiếng lại gì trong các cuộc họp của BTS/CS và Hội Thánh. Song chỉ có các cuộc họp BTS/CS vào tháng 6/93, Trần thị Hà đưa ra những ý kiến bắt buộc ông Chủ tọa HT Bà-rịa kiêm Suối Nghệ phải giao trách nhiệm Suối Nghệ cho ông Lý Quốc Hưng, một TĐS từ Nha-trang vào, được Thầy Thắng cho cư ngụ tạm tư thất HT Suối Nghệ, để tìm cơ hội cho ông ấy hầu việc Chúa, tương lai sẽ hợp thức hóa, chứ hiện tại Địa Hạt Đông Nam Bộ chưa thừa nhận vào hàng giáo phẩm và chưa đăng ký tu sĩ với Chánh quyền. Thế mà Bà Hà ngang ngược vượt quyền hạn mình, đòi ông TĐS Chủ tọa phải thi hành, bà mới cho có Lễ khánh thành Nhà thờ được (…)

-Sáng Chúa nhật 4-7-93, Thư ký Trần thị Hà cầm đầu nhóm quá khích đến Nhà thờ trong lúc Hội Thánh đang thờ phượng Chúa và cầu nguyện, lên tòa giảng giựt máy phóng thanh, Trần thị Hà đứng ra tố cáo ông TĐS Nguyễn văn Thắng tham nhũng tiền bạc và vật liệu xây cất Nhà thờ vô căn cứ (…).

-Chúa nhật 11-7-93, phe nhóm Trần thị Hà tiếp tục gây rối buổi thờ phượng của Hội Thánh nữa. Bà Hà chiếm được bục hướng dẫn của Thầy TĐS Nguyễn Đồng Minh, rồi đọc cáo trạng mà bà cùng phe nhóm làm sẵn. Biên bản nầy tự xưng là BTS/HT và “quyết định như sau:

1.Giải tán BTS.HT Bà-rịa.
2.Ngưng cấp lương cho Thầy Thắng kể từ tháng 8/93
3.Cách chức chủ tọa Thầy TĐS Nguyễn văn Thắng. BTS sẽ điều hành nội bộ.
4.Ông Thắng và gia đình phải rời khỏi tư thất trong vòng 1 tháng kể từ ngày đọc Biên bản nầy.
5.Tân BTS (của Bà Hà) sẽ kiểm kê tài sản của HT.
6.Tuần tới sẽ có Tân chủ tọa. Yêu cầu HT sinh hoạt bình thường (…)

-Sáng thưa hai 12-7-93, Thầy Thắng và TĐ Nguyễn Đồng Minh lên Văn phòng Địa Hạt báo cáo tình hình Hội Thánh (…)

-Ngày 15-7-93, Ms Thành đi với TĐ Đặng văn Thơ (văn phòng ĐH) đến tư thất Bà-rịa họp BTS Hội Thánh, có mời Cụ Ngỡi dự. Ms Thành khuyên Thầy Thắng tự nguyện xin ngưng giảng 1 tháng, Đia Hạt mời Ms Ngỡi giảng thay. Còn Thơ ký Trần thị Hà, Ms Thành cũng đề nghị ngưng hướng dẫn Hội Thánh 1 tháng như Thầy Thắng (…). Rồi ông Thành để cho vợ chồng Trần thị Hà, Phạm văn Thơ, tự ý lập Biên bản, kết tội ông Thắng lung tung. Sau khi đọc lại Biên bản các chức viên trong BTS không chịu ký, vì quá sai sự thật. Ông Thành giao các mẫu giấy niêm phong vật tư cho Bà Hà dán các kho của Hội Thánh. Trước khi rời tư thất Bà-rịa, ông Ms Thành lại giao cho Bà Hà quyết định của Địa hạt mang số 46 đã làm sẵn trước khi đến Bà-rịa. Nội dung tạm ngưng việc giảng dạy của TĐS Thắng 1 tháng, còn ra lịnh: giao việc điều hành cho BTS.HT Bà-rịa (…)

-Ngày 14-9-93, Địa Hạt Đông Nam Bộ ra một văn thư mang số 74/VP/ĐNB do Cụ Ms Ông văn Huyên, Hội Trưởng kiêm Chủ nhiệm ký tên gởi đến các cơ quan Chánh quyền tỉnh Bà-rịa Vũng tàu, huyện Châu thành và xã Long Hương, nội dung xin trích dẫn như sau:

Khoản I: Ngưng chức chủ tọa Hội Thánh Bà-rịa của TĐS Nguyễn văn Thắng với lý do:

1.Không ổ định được sinh hoạt trong Hội Thánh.
2.Trong khi Hội Thánh đang bất ổn không có ơn Chúa dàn xếp nội bộ.
3.Không nghe theo sự hướng dẫn và lời khuyên của BTS/ĐH đưa đến tình trạng bất ổn hơn trong Hội Thánh.

Khoản II: Ngưng chức Thơ ký của cô Trần thị hà, nhưng chức Chấp sự vẫn còn cho đến khi mãn nhiệm kỳ. Với lý do:

1.Vượt quá quyền hạn thơ ký theo như Điều lệ của HTTLVN đã qui định.
2.Không thi hành văn bản của BTS/ĐH gởi đến (văn thư số 63 ngày 21-3-93. (…)

.............................................

-Chúa nhật 26-9-93, ……

…. tối đó, họ làm giấy tạm trú giả đưa 4 người đàn ông xâm nhập bất hợp pháp vào khuôn viên Nhà thờ cắt cầu dao điện, cưa tất cả khóa cửa Nhà thờ, đập phá cửa tư thất, đòi cư ngụ trong tư thất để giữ tài sản của Hội Thánh. Nhưng mẹ con cô Thắng không cho vì Thầy đi vắng. Họ bèn ấu đả, la lối om sòm. Mẹ con cô Thắng cũng phải tự vệ.

-Ngày 01-10-93, Cụ Ngỡi với tư cách quyền Chủ tọa HT Bà-rịa họp BTS/HT quyết định dứt phép thông công 12 người do Trần thị Hà cầm đầu khuấy phá trong ba tháng qua. Trình lên Địa Hạt và Chánh quyền.

-Sáng Chúa nhật ngày 03-10-93, có Chủ tịch MTTQ huyện Châu thành đến trước giờ thờ phượng gặp Hội Thánh, ông bày tỏ sự thương tâm đã xảy ra tại HTTL Bà-rịa. Ông khuyên hai bên quá khích và Hội Thánh hãy đối xử với nhau với Kinh thánh dạy và đúng với luật lệ của Nhà Nước (…)

-Ngày 13-10-93, Địa Hạt ĐNB ra văn thư số 88 do Cụ Ms Ông văn Huyên ký tên đóng dấu, gởi cho Cụ Ms Đỗ Thành Ngỡi và BTS/HT Bà-rịa. Nội dung tương phản với văn thư gởi Chánh quyền được trích dẫn như trên, có hàm ý bênh vực cho nhóm phá hoại Hội Thánh và trách Ms Ngỡi và BTS/HT không nghiên cứu kỹ lưỡng Điều lệ của HTTLVN và Nghị định 69 của Hội Đồng Bộ Trưởng.

......................................

-Ngày 20-10-93, Cụ Ms Phó Hội Trưởng gởi văn thư cho ĐH/ĐNB, cho Cụ Ngỡi và BTS/HT Bà-rịa. Cụ giải thích việc giải quyết của Địa Hạt đối với sự cố tại Hội Thánh Bà-rịa là không đúng. Phần thứ 1, về việc ngưng chức TĐ của Thầy Nguyễn văn Thắng, Cụ kết luận nguyên văn thế nầy: "cho nên với tư cách Phó Hội Trưởng TLH, tôi đứng trước mặt Chúa, thành thật thưa với BTS/ĐNB: Tôi không dám đồng ý với quý ông mà ngưng chức TĐ của Thầy N.V.T. Cũng không dám đồng ý với quý ông mà thuyên chuyển Thầy đi nơi khác".

2)Việc Ban Trị sự và Ban Chấp sự Hội Thánh Bà-rịa dứt phép thông công 12 người. Sau khi giải thích và Cụ kết luận: (Trích nguyên văn) "Tôi, Phó Hội Trưởng TLH, xin chấp nhận biên bản của Ban Trị sự và Chấp sự HT Bà-rịa về việc dứt phép thông công 12 tín đồ vào ngày 01-10-93".

....................................

-Chúa nhật 7-11-93, tại Nhà thờ Bà-rịa, Cụ MSTS Tạ Kế được mời giảng và ban Tiệc thánh, giờ Tiệc thánh bắt đầu, có người hỏi Cụ Ms Chủ lễ rằng: “Việc dứt phép thông công chúng tôi có đúng không? "Cụ MSTS từ tốn trả lời: "Sáng nay chúng tôi cũng như anh chị em đến Nhà thờ để thờ phượng Chúa và hầu việc Chúa”. Họ hỏi tiếp: "Chúng tôi có được dự Tiệc thánh không?" Cụ MSTS trả lời: "Theo Lời Chúa dạy, trước khi dự Tiệc Thánh, anh chị em hãy tự xét lấy mình". Rồi Cụ tiếp tục mời HT hát Thánh ca theo nghi lễ. Đang khi HT tôn vinh Chúa, thì ông Đặng Quang rời ghế ngồi, tiến lên bàn Tiệc Thánh bưng tất cả chồng khay để bánh và chén nước nho, quay đi xuống hai thanh niên cản lại giữa Nhà thờ, thì bị một người đàn ông khác trong bọn họ nắm đập toàn bộ khay Tiệc Thánh đổ tung xuống nên Nhà thờ, lấy chân giày đạp chén bể nát, khay nhôm méo mó, bánh và nước nho tung tóe giữa Nhà thờ. Chúng còn nổi thái độ côn đồ đánh ông tín đồ sưng bầm cả mắt và một thanh niên bị trẹo cổ. Trong Nhà thờ trở nên ồn ào, tiếng khóc lẫn trong tiếng la chưởi như ong vỡ tổ! Ôi, nơi thánh đáng thương thay!

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by