You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương III)

LICH SỬ HT/VN (Chương III)


By admin - Posted on 25 February 2009

Chương III
BỐI CẢNH TÔN GIÁO CỦA DÂN TỘC VIỆT-NAM

Để tìm hiểu đầy đủ lịch sử một Hội thánh tại Việt-nam, rất cần có cuộc khảo cứu vắn tắt bối cảnh tôn giáo của xứ trước và trong thời gian Hội thánh phát triển.

Tình hình tôn giáo mà các giáo sĩ Tin Lành đầu tiên đối diện tại Việt-nam là kết quả phức tạp do tác dụng hỗ tương của ba tôn giáo lớn: Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, trải suốt 18 thế kỷ[1]. Tình hình nầy càng được linh hoạt hơn bởi sự đến của đức tin Cơ-Đốc, Công giáo Lamã vào thế kỷ 18, với những bước tiến mạnh trong thế kỷ 19, khiến mọi người phải kinh ngạc, trong khi cả nước đang lâm vào cảnh đấu tranh sinh tử giữa nền văn hóa Tây phương với văn hóa cổ truyền. Có hai đoàn thể tôn giáo mới được biết là Cao Đài và Hòa Hảo đã nhảy vào đấu trường tôn giáo ở một nhật kỳ muộn hơn, chẳng những với các lời sấm truyền và kinh kệ mà còn với các lực lượng vũ trang cùng các tổ chức chính trị. Cả ba tôn giáo cổ truyền đã đến Việt-nam từ Trung hoa hoặc từ Ấn độ trong thế kỷ thứ II của kỷ nguyên Cơ-Đốc[2]. Tất cả ba tôn giáo nầy, qua một tiến trình hòa giải, đặc sắc của dân tộc Việt-nam đã đồng hóa nhiều hoặc ít vào hoàn cảnh xã hội và văn hóa, biến hóa cùng với những niềm tin phổ thông vào một nền triết học hỗn dung đã được chấp nhận bởi đại đa số. Thật rất thường thấy ở Việt-nam những người sùng đạo đến chùa lễ bái Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vào ngày rằm và mồng Một, nhưng đồng thời cũng theo qui phạm đạo đức của Khổng giáo dạy, cuối cùng quay đến triết học của Lão giáo hầu tìm nguồn an ủi cho những kinh nghiệm thất bại của đời sống. Tuy nhiên, giáo phái chung và cũng là đặc trưng tôn giáo có ưu thế lớn của người Việt-nam phi-Cơ-Đốc là thờ cúng tổ tiên, vì người quá vãng bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Việt-nam.

THỜ CÚNG TỔ TIÊN:

Phạm Quỳnh, một học giả lớn và đã từng làm quan nhất phẩm triều đình trong hoàng cung, đã gọi sự thờ cúng tổ tiên là "một quốc giáo chân chính." theo những niềm tin phổ thông của người Việt-nam. Người chết can thiệp mỗi lúc vào cuộc đời của người sống, linh hồn (của người chết) hướng dẫn, chỉ bảo, che chở họ, theo dõi họ, nói cho đúng, bằng cặp mắt vô hình đã xem thấu qua những bí mật của sự sống và sự chết, và đó là phương tiện duy nhất mà nhân loại có thể có một khải tượng vắn tắt về tương lai và số mệnh của mình. Tóm lại, những linh hồn sống trong ký ức họ, mối quan tâm họ, trong giấc mơ của họ về cuộc đời còn mãnh liệt hơn cả cuộc sống của họ trên thế gian nầy.

Người ta thường chủ trương con người có ba phần, giống như cây cối, người có sinh hồn, chia xẻ với các thú vật khác đặc ân có giác hồn. Nhưng trên hết mọi sự, người được phú bẩm cho một linh hồn, chữ linh bao giờ cũng bày tỏ một chân tánh thiêng liêng và siêu việt nhờ đó người có thể sống sót sau khi đã bị giải thể. Tuy nhiên, linh hồn đi lang thang từ nơi nầy qua nơi khác, sau khi qua đời cho đến chừng tìm được một chỗ do những người dòng dõi đang sống cung cấp. Bởi vậy, nghĩa vụ thánh của người sống, nhất là con trưởng nam hoặc người nam bà con thân nhất của người chết, phải cúng tế thỏa đáng và tỏ lòng tôn kính người. Trong truờng hợp không có dòng dõi là người nam để cúng tế lâu dài, người con gái, cháu gái hoặc người bà con cũng được phép tiếp tục những nghi thức định kỳ. Một gia đình Việt-nam thường để riêng một phần lớn đất hương hỏa để giao cho con trưởng nam hay người nào đảm trách sự thờ cúng đề dùng làm nguồn lợi chi phí những việc cần thiết. Mỗi năm, vào ngày giỗ chạp, một vị tổ tiên nhận sự thờ cúng tế lễ tại bàn thờ gia tiên trước sự hiện diện của cả gia đình. Vì người Việt-nam coi là một chuyện dĩ nhiên rằng cuộc sống sau khi chết thì cũng tương tự như cuộc sống ở dương gian, của cúng tế gồm có đồ ăn ngon, rượu, hoa quả, trầu cau, nhà cửa, xe cộ, quần áo, tiền bạc, tôi tớ, vợ hầu, tất cả đều là hàng mã (làm bằng giấy). Những lời cầu nguyện, những lời khấn vái dài được kêu xin với tổ tiên quá vãng trong khi khói hương nghi ngút đầy dẫy bầu không khí quanh bàn thờ và tất cả mọi người thamd ự đều quì lạy trước chỗ hương án. Tổ tiên cùng gồm với những người khác trong những nghi thức và các ngày lễ cổ truyền nhằm ngày Tết Nguyên Đán, Tết Hàn thực (mồng 3 tháng 3), ngày Thanh minh (ngày kỷ niệm trong tháng 3), Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5), Tết Trung thu (ngày rằm tháng 8), ngày Thượng nguyên (rằm tháng 7), Tết Trùng Cửu (ngày 9 tháng 9), Tết cơm mới (ngày cơm mới trong tháng 9), Tết Hạ nguyên (rằm tháng 10). Ngày áp Tết Nguyên Đán là cơ hội đặc biệt khi tổ tiên được hoan nghinh lại nhà và họ được khoản đãi với những của cúng tế hào hoa trong ba ngày trước khi họ lại từ giã để trở về nơi ở siêu việt. Thêm vào những nghi thức trong ngày giỗ, người dòng dõi sống cũng nhớ đến tổ tiên trong các trường hợp đặc biệt, trong bất cứ biến động quan trọng nào trong gia đình, người gia trưởng đứng trước bàn thờ trịnh trọng loan báo cho các tổ tiên, cũng nài xin ơn phước và sự bảo vệ cho phép hôn phối hoặc người bịnh hoạn, khi thi cử, hoặc du hành xa, mọi công việc quan trọng của một thành viên trong gia đình[3].

Có người quả quyết rằng sự thờ cúng tổ tiên là hình thức cổ nhất của tôn giáo dân tộc Việt-nam, và nói đã có lâu đời trước khi du nhập các tập quán tôn giáo và văn hóa Trung hoa. Mặt khác, nhiều học giả xét đến những quan điểm và những quy lệ cơ bản của thờ cúng là do sự dạy dỗ của Khổng tử, đặc biệt là Kinh Lễ. Thật ra, ngay cả sự thờ cúng tổ tiên cũng đã được thực thi trong hình thức sơ khai trước khi người Trung hoa đến, còn những quan điểm và nghi thức được tinh luyện và trau chuốt qua ảnh hưởng của Khổng giáo[4].

SỰ THỜ THÀNH HOÀNG:

Thêm vào những ngày giỗ gia đình, người dân làng Việt-nam như là một thuộc viên của một đơn vị xã hội trong hệ thống hương thôn, dự phần trong sự thờ cúng cổ truyền của làng xã, mỗi làng đều có vị thành hoàng riêng, đó là thần thổ địa phải cúng tế trong những ngày đặc biệt của năm tại một đền miếu dựng lên để tỏ lòng tôn kính. Thần có thể là một anh hùng hoặc liệt nữ (anh thư) người đã giải cứu xứ sở khỏi ách đô hộ của người Tàu (Phù Đổng Thiên Vương), Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần Quốc Tuấn chẳng hạn, hoặc cả người sáng lập làng (Nguyễn Can ở làng Đồng Lâm, Hoàng Cao Khải ở Thái Hà ấp, gần Hà-nội, v.v… Thần có thể là người phát minh ra một nghề nghiệp mà cả làng thực hành hoặc vị quan đã từng làm việc phúc thiện cho làng xã. Nhiều làng có ý thích thờ cúng một thiên thần thay vì một nhân thần, lại có làng xã lựa chọn một tên trộm làm thần (làng Long Khê, Thái Bình, Bắc kỳ), hoặc một trẻ nhỏ (làng Đông thôn ở Hà Đông), hoặc một người đã chết bất đắc kỳ tử vào một giờ linh. Ngoài những lễ nghi hàng tháng và đặc biệt, còn có sự thờ cúng hội hè hằng năm hoặc ba năm với những nghi thức chuẩn bị kỹ với những trò chơi phổ thông được giữ vào ngày sinh hoặc ngày tử của vị thần.

NHỮNG TẾ LỄ NAM GIAO CỦA TRIỀU ĐÌNH

Cho đến năm 1944, cứ mỗi ba năm, Hoàng đế nước Việt-nam, như là đại diện tối cao của quốc dân, hướng dẫn quần thần của mình trong lễ đàn Nam Giao, để cúng tế Thượng đế trên trời. Thường người ta tin rằng chỉ có hoàng đế cai trị theo nghị định của trời và các quan triều thần được hoàng đế ban quyền bính mới được phép dâng tế lễ cho Thượng đế trên trời. Thường dân chỉ là bầy tôi của hoàng đế, chỉ được phép cúng tổ tiên và các thần nhỏ.

Theo Khâm thiên giám cho biết rõ đúng ngày cử hành lễ, Bộ Lễ sẽ làm tất cả mọi việc chuẩn bị tai Giao đàn, tọa lạc trên một đồi phía nam hoàng thành Huế. Đến ngày trước lễ cử hành, hoàng đế khởi sự kỳ kiêng ăn và thanh tẩy. Hoàng đế rời bỏ cung điện ngày áp lễ Nam Giao và trong một đám rước long trọng, đi thẳng tới Trai cung vùng phụ cận Giao đàn. Khoảng nửa đêm, tất cả hương hoa lễ vật sẵn sàng, tới giờ Tý (ngay sau nửa đêm) hoàng đế có các vị đại thần, khởi sự cử hành lễ tại bàn thờ chính. Tám nghi lễ được nối tiếp nhau hoàn tất, ấy là rửa tay, dâng hương, lụa, sinh tế và rượu, cũng đọc một bản tuyên cáo với thiên địa. Tiếp theo là sự phân chia của cúng tế, rượu thịt. Trong khi các nghi lễ đang tiếp diễn, một con trâu được dâng làm của lễ thiêu trên giao đàn. Khi ngọn lửa đã hầu như hoàn toàn thiêu rụi con thú, một vị đại thần loan báo Lễ Nam giao kết thúc và hoàng đế trở về cung điện mình.

Những tế lễ Nam giao theo tập tục được kể là hình thức cao nhất để tế trời, "tổ tông chung của nhân loại". Như Toan Ánh đã chỉ trong tác phẩm uyên bác của ông về những tín ngưỡng phổ thông và tôn giáo của người Việt-nam, rằng: Trong quan niệm của người Đông phương, trời không phải chỉ là khoảng không xanh biếc bao quanh mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, nhưng cũng chỉ về chủ tể thiêng liêng tối cao đã sáng tạo vạn vật và điều khiển số mệnh loài người.

Các giáo sĩ Tin Lành đôi khi trưng dẫn đến những tế lễ Nam giao như là "hình thức tinh khiết nhất của tôn giáo quốc dân" và thường dùng làm một lạc điểm để giới thiệu "tín ngưỡng Cơ-Đốc giáo Ông Trời của người Việt-nam". Một sự nghiên cứu kỹ lưỡng về các nghi lễ liên hệ đến Giao đàn sẽ bày tỏ là Trời chẳng phải chỉ là đối tượng duy nhất của cuộc cúng tế nầy, vì các hoàng đế Việt-nam, bao giờ cũng bao gồm trong sự cúng tế thiên địa, tổ tiên của họ, và toàn bộ hệ thống các vị thần linh trên trời, dưới đất, mặc dù ở cấp thấp hơn Trời.

KHỔNG GIÁO:

Sự mở mang tại Việt-nam: Khổng giáo được du nhập vào Việt-nam trong thời người Tàu nhà Hán cai trị. Quan thái thú Sĩ Nhiếp cai trị quận Giao Chỉ (tên cổ của Việt-nam) từ năm 186 đến 225 sau Công nguyên là người được tiếng đã mang Kinh Thư và Kinh Thi của Khổng giáo vào hệ thống giáo dục địa phương. Toàn bộ xã hội Việt-nam đã trải qua nhiều thay đổi qua ảnh hưởng của những sự dạy dỗ về nghi thức và đạo Khổng giáo trải qua 10 thế kỷ dưới quyền đô hộ của người Tàu. Ngay sau khi giành lại độc lập, quốc gia Việt-nam vẫn còn gìn giữ nguyên vẹn qui phạm và hệ thống giáo dục Khổng giáo. Những triều đại đầu tiên đã trị vì nước Việt-nam độc lập, dầu vẫn tiếp tục tỏ lòng tôn kính Khổng giáo, đã chứng tỏ lòng ưa thích riêng đối với Phật giáo. Tuy nhiên, năm 1070, khoa thi thứ nhất căn cứ vào những cố điển Khổng giáo được tổ chức tại kinh đô bởi Lý Thánh Tông. Năm 1075, hoàng đế Lý Nhân Tông truyền xây dựng một văn miếu và dâng hiến nơi đó để tỏ lòng tôn kính Đức Khổng tử cùng 72 vị hiền tài. Năm sau đó quốc tử giám được thành lập để huấn luyện các lãnh tụ và các quan triều thần theo đường hướng Khổng giáo.

Dưới đời nhà Trần, sức mạnh của Khổng giáo tăng gia mau lẹ, nhờ sự học rộng và ảnh hưởng của các nhà Khổng học trứ danh như Chu văn An, vị giáo sư danh tiếng của Quốc tử giám, Trần Hưng Đạo, người chiến thắng đạo quân của Hốt Tất Liệt, Hàn Thuyên, người canh tân chữ Nôm, Lê văn Hưu, sử gia lỗi lạc. Một viện giáo dục quốc gia được dành riêng cho sự nghiên cứu trên cấp bậc cao nhất Ngũ Kinh và Tứ Thư bởi hoàng đế Trần Thái Tông (1225-1258).

Đến đời nhà Lê (1428-1780), Khổng giáo đã trở nên tôn giáo chiếm ưu thế và cứ tiếp tục giữ địa vị nầy dưới triều Nguyễn cho đến năm 1915. người sáng lập là Khổng Phu tử tại Trung hoa vào thế kỷ VI trước Công nguyên. Nho giáo (tôn giáo của Khổng Mạnh hoặc 'Trường của các học giả' đã trở thành một trong những phong trào có ảnh hưởng nhất để khuôn đúc nên hình thức giáo dục, xã hội, chính trị của nền văn hóa Việt-nam cho đến khi người Pháp đến xâm lăng.

Giáo lý và những tập quán: Những tác phẩm cổ điển của Khổng giáo cấu thành tiêu chuẩn của chánh thống, gồm có hai phân bộ chính: Ngũ Kinh gồm có: Kinh Thư (sách lịch sử), Kinh Thi (sách thi phú), Kinh Dịch (những sách biến cải), Kinh Lễ (sách lễ nghi), hết thảy đều do Khổng tử san định và Kinh Xuân Thu (là những biên niên sử) được tin chắc là của chính Khổng tử biên. Tứ Thư gồm có: 4 sách bình luận do các môn đồ của Khổng Phu tử soạn: Luận Ngữ, Đại học, Mạnh tử, Trung dung. Những tác phẩm cổ điển nầy thay vì được dịch ra Việt văn, đã trở thành sách giáo khoa trong tiếng nguyên văn tại các trường trung học và cao học, trong nhiều trường hợp ở các trường tiểu học nữa. Tuy nhiên, các học giả Việt-nam chẳng phải lúc nào cũng chấp nhận sự giải thích bởi giáo sư vĩ đại của các nhà Khổng học Trung hoa. Tỉ dụ, Nguyễn Nghị đã chối bỏ sách Tống Nho là sự giải thích của Giáo điều Luận ngữ, và đã sáng tác ra một sách giải nghĩa mới về Tứ Thư. Nguyễn Hữu Tạo đã phản đối Chu Hy, nhà Khổng học lỗi lạc nhất đời Tống, bằng cách phát biểu một giáo điều mới về "quyền bính" mà người tin rằng gần với sách Luận ngữ hơn. Tuy nhiên, đa số nhà Khổng học Việt-nam có khuynh hướng chấp nhận sự dạy dỗ từ môn phái đời nhà Tống với giá trị bề mặt, nhất là sau sự trị vì ngắn ngủi của nhà Minh là người đã sung công tất cả những sách Khổng, Phật giáo tốt nhất trong xứ.

Các nhà Khổng học Việt-nam thường tin ở Trời hoặc Thượng đế, theo Luận ngữ, là Đấng tối cao có chủ tâm hoặc Trời tể trị. Trời có thể hiểu con người và tước đoạt của người vật quý giá bằng cách để cho người thân yêu qua đời và người có thể phạm tội với Trời, nhưng Khổng tử đã dạy: Hoạch tội ư thiên vô sở đảo giả - phạm tội với Trời thì còn biết kêu cầu vào đâu. Rất cần cho người quân tử tìm hiểu thiên đạo và thiên mệnh. Quan niệm của thiên mệnh cũng có thể dịch là Ý Trời, cấu thành cơ sở cho thuyết định mạng mà người Việt-nam chấp nhận và phản ánh trong các tác phẩm văn chương Việt-nam dưới các triều đại Lê và Nguyễn, tức là Chinh phụ ngâm, Cung Oán ngâm khúc hay Đoạn Trường Tân Thanh, Lục Vân Tiên… Tuy nhiên, nhiều học giả đã chỉ ra rằng: quan niệm của Khổng Phu tử về Trời khác xa với quan niệm về Đức Chúa Trời của người Cơ-Đốc, đôi khi được phát biểu là một nguyên lý tể trị hoặc một thái cực vượt quá trí hiểu của loài người[5].

Về các thần linh, người Việt-nam đã theo lời khuyến dụ của vị tôn sư nên cúng tế họ như là họ đang hiện diện, nhưng chẳng phải bao giờ cũng để ý đến lời cảnh cáo rằng: Trong khi tôn kính các thần, hãy xa lánh họ, vì sự cúng tế các thần đã thấm thấu vào hầu hết mỗi thớ (sợi) của niềm tin tôn giáo phổ thông. Vũ trụ, hồn , trời và đất, "10 ngàn vị thần" đến từ Thái cực, vì thái cực sinh ra dương trong trạng thái động và âm trong trạng thái tĩnh, ấy là sự hòa hiệp và hỗ tương tác dụng của dương và âm, sinh ra vũ trụ (vạn vật). Trong một ý nghĩa, nhà Khổng học Việt-nam tin vào sự đồng nhất của mọi sinh mạng và thể chất kể cả trời đất.

Trung tâm của Khổng giáo không phải là vũ trụ học, cũng chẳng phải là quan niệm về thần linh nhưng là giáo lý về con người, và "người" là đức hạnh của trời và đất, sự hợp nhất của âm dương, tiêu điểm của các thần linh, thể yếu của ngũ hành. Không giống như các sinh mạng khác, người được phú cho một trí khôn có thể đạt đến và nắm lấy chân tánh của mọi sinh mạng. Vì mỗi sinh mạng trong chính mình là có Đạo (một qui tắc, phép tắc được gọi là Đạo trong triết học Trung hoa), nó hòa hiệp với đạo phổ thông. Con người có nghĩa vụ rèn luyện trí khôn để nhận thấy sự liên hệ của mình với Đạo Trời, đạo đất, đồng thời cũng vận dụng ý chí mình để tìm điều gì là thiện hảo và ích lợi cho nhân tánh mình. Khổng giáo tổ chức lại cuộc quyết đấu nội tâm giữa những bản năng hư hoại với khuynh hướng tự nhiên phấn đấu để làm lành, hoặc cuộc chiến đấu giữa tâm hồn và thể xác con người có thể ví sánh với các phép đối chiếu (phản đề) thấy trong thánh Phaolô và thánh Augustine.

Giáo sư Trần văn Hiển Minh, trong tác phẩm trứ danh của ông nhan đề: "Quan điểm Khổng giáo về con người" đã phân tích những sự dạy dỗ của bậc tôn sư nầy về con người và sự cấu tạo nội tại đã kết luận: "Theo Khổng giáo, trong khi con người phải mượn vài yếu tố của sinh mạng vật chất mình từ đất thường chứa bản chất vật thể, thì thân thể con người được linh hoạt bởi tấm lòng tương đương với linh hồn và sự siêu việt và sự bất tử được thiết lập chắc chắn, và cũng bởi hồn mà người thuộc về phạm trù chen hoặc thần linh sau khi chết (theo nguyên ngữ của học phái)." Đa số người Việt-nam theo Khổng giáo hiểu đạo theo điều kiện danh từ của những lời giáo huấn đạo đức áp dụng cho đời sống hằng ngày chứ chẳng phải theo giáo huấn tâm lý hoặc siêu hình học. Họ đều nhận thức rằng dầu đạo tự tại trong mỗi người và con đường của người quân tử được rộng mở cho mọi người, ít người đạt đến điểm ưu tú của đạo đức nầy. Tuy nhiên, chẳng ai thích làm kẻ tiểu nhân, vậy mỗi người phải làm hết sức mình để theo tam cương, ngũ thường. Tam cương qui định sự liên hệ đứng đắn giữa vua và quần thần; giữa cha và con; giữa chồng và vợ. Một người đức hạnh phải rèn luyện ngũ thường, ấy là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín (lòng nhân từ, sự công nghĩa, cư xử phải đạo, khôn ngoan, lòng tin tốt). Trong mọi trường hợp, sự quá đáng phải nên tránh vì chỉ có con đường tiết chế bởi đạo Trung dung (con đường trung bình) khiến một người có thể hoàn tất cuộc dời đức hạnh điều hòa với "thiên địa đạo" (đạo trời đất), người đàn bà không đồng vị trí với người đàn ông dầu họ có thể sống cuộc đời đức hạnh như đã chứng minh bởi công, dung, ngôn, hạnh. Người đàn bà phải buộc cả đời mình bằng ba nghĩa vụ: nghĩa vụ đối với cha cho đến khi về nhà chồng, đối với chồng trong suốt cả cuộc đời đã kết hôn, và cuối cùng với con trai sau khi chồng chết.

Thờ cúng Đức Khổng tử: Người Việt-nam đã chấp nhận Khổng giáo cũng thờ cúng Đức Khổng tử và các bậc thánh hiền của Khổng giáo trong nhiều đền thờ. Trước khi Cơ-Đốc giáo đến, mỗi làng đều có văn tự, hoặc văn chỉ, đền thờ Đức thánh Khổng. Hằng năm hai lần, mùa Xuân và mùa Thu, tất cả mọi làng đều cử hành lễ để tôn trọng Đức Khổng, những của cúng tế dâng lên thánh Khổng và các bậc hiền triết, cũng dâng lên các học giả Việt-nam được coi là đại diện xứng đáng nhất của tôn sư. Trước năm 1918, trước và sau khi thi hương ba năm một lần đã được tổ chức theo nguyên tắc Khổng giáo, tất cả các thí sinh trong mọi làng phải hợp nhau lại tại Văn tự hoặc Văn chỉ để cầu xin sự giúp đỡ của vị tôn sư hoặc cảm ơn Ngài về sự thành công của họ. Trong những ngày thuở trước, một người con trai không được vào trường cho đến khi cha nó đã đem nó đến đền Đức Khổng tử với của cúng tế để xin tôn sư chấp nhận nó như một khóa sinh của "đạo thánh hiền". Mỗi tổng, mỗi huyện và mỗi tỉnh cũng đều có một đền thờ. Nhưng hai đền thờ lớn nhất thường được gọi là Văn Miếu ở Hà-nội và Huế. Văn Miếu ở Hà-nội xây cất vào thế kỷ XI, được cung hiến cho sự thờ cúng Đức Khổng tử, bốn vị á thánh thân cận nhất của người, 10 nhà hiền triết của môn phái, 72 vị hiền tài, 120 học giả nhà Đường và nhà Tống, cùng Chu văn An, nhà Khổng học lỗi lạc nhất của Việt-nam. Hằng năm hai lần, vị hoàng đế tự mình hành lễ, chỉ định một quan đại thần của mình đến cúng tế linh đình tại Văn Miếu. Theo sau sự lên ngôi của Hoàng đế Gia Long năm 1802, Huế được chọn làm kinh đô mới và Văn Miếu thứ hai được dựng lên ở phụ cận hoàng thành.

Nói cách chung, Khổng giáo thâm nhập hầu hết mọi phương diện của đời sống chính trị, xã hội và giáo dục. Những nghi lễ Khổng giáo được ứng dụng trong sự thờ cúng tổ tiên, cúng tế thần linh và Lão giáo. Những nghi lễ Khổng giáo về "phép cư xử" đã trở nên tiêu chuẩn của tập tục Việt-nam trong sự sanh con, lễ hôn phối và tang lễ cũng như trong tất cả những liên hệ xã hội. Khổng giáo khuôn đúc hình thức chính trị Việt-nam, tập trung vào hoàng đế, bầy tôi tuyệt đối trung thành với người cho đến khi người Pháp thống trị. Trải qua 17 thế kỷ, những giáo điều Khổng giáo được thấy trong Tứ Thư và Ngũ Kinh, cấu thành nguồn cảm hứng cho giới trí thức Việt-nam, chúng cũng làm bền vững sự kiểm soát tuyệt đối của giới trí thức trên xã hội Việt-nam, mà theo quan niệm Khổng giáo, gồm có 4 giai cấp: Sĩ, Nông, Công, Thương. Tuy vậy, giai cấp thứ nhất hằng kéo một lớp mới từ giai cấp khác, vì chẳng ai làm tù nhân của giai cấp mình từ thuở sinh ra …. Miễn là văn hóa và công đức của người ấy có thể khiến người chiếm được bảng vàng trong các kỳ thi văn chương ba năm một lần.

Các giáo sĩ Tin Lành đầu tiên chứng kiến một thời kỳ tranh đấu cay đắng giữa các nhà Khổng học tiêu biểu cho tập quán và chủ quyền Việt-nam với những thực dân Pháp, đã cố gắng du nhập lợi khí văn hóa Tây phương để củng cố nền thống trị của họ trên một dân mới chinh phục được. Chẳng may, các nhà Khổng học thấy sức mạnh của họ bị phá hoại ngấm ngầm bởi những thất bại chính trị liên tục và tay họ bị trói chặt bởi sự ngưng các khoa thi tam niên ở Bắc kỳ (1915) và Trung kỳ (1918). Tuy nhiên, sự thờ cúng Đức Khổng tử và các bậc hiền nho vẫn còn tiếp tục duy trì, đặc biệt ở các làng xã nhưng các làng "chức sắc", "tăng lữ" suy nhược ngay trước ngày thế chiến thứ hai bùng nổ. Một vài cố gắng sau hiệp định Geneve để hồi sinh Khổng giáo tại Việt-nam, nhưng kết quả đến nay chẳng có gì khả quan.

[1] Đào Duy Anh, Việt-nam Văn Hóa Sử Cương (Saigon, Bốn phương, 1951) t.233; Trần Trọng Kim, Nho giáo (Saigon, Tân Việt) t. 372-373.
[2] Thích Nhất Hạnh, sách đã dẫn, t. 6-7
[3] Toan Ánh, Tín Ngưỡng Việt-nam (tập 1) Saigon, Nam Chi Tùng Thư, 1967. t. 57.
[4] …. Hy, Gia Lễ (Familly Rites) và Hồ Gia Tân, Thọ Mai Gia Lễ.
[5] Kinh Dịch, Trần Trọng Kim, Nho giáo (t. 88tt)

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 3 guests online.

Hosting by