You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương III - tiếp)

LICH SỬ HT/VN (Chương III - tiếp)


By admin - Posted on 04 March 2009

ĐẠO GIÁO

Giống như Khổng giáo, triết học của Lão Trang (Lão Tử và Trang Tử) được du nhập vào Việt-nam qua ảnh hưởng Trung quốc trong các thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Cơ-Đốc.

LÃO TỬ: Người ta biết rất ít về đời sống riêng của Lão Tử, nhà sáng lập Đạo giáo. Theo Hồ Thích, Lão Tử sinh năm 570 trước Công nguyên và lớn hơn Khổng Tử độ 20 tuổi. Sau khi đã phục vụ nhà Chu một thời gian dài như là một người trông coi thư viện nhà vua, cuối cùng Lão Tử đã từ biệt văn phòng trong sự tỉnh ngộ đi về phương Tây và mất tích. Khái luận triết học duy nhất của ông là cuốn sách danh tiếng Đạo Đức Kinh, sau nầy được chế dịch lại bởi môn đệ bậc nhất của ông là Trang Chu.

GIÁO LÝ (HỌC THUYẾT): Có hai giáo nghĩa chính như người Việt-nam thấy là quan niệm của Đạo và vô vi luận. Phản đối với tín ngưỡng đang thịnh hành trong thời mình về một Ông Trời tể trị hành động theo ý chỉ riêng và rõ ràng chán ghét những cuộc chiến triền miên cùng những chấn động xã hội đã gieo tai họa cho người Trung quốc trong thời nhà Chu mạt, Lão Tử dạy rằng: "Trời và đất là vô nhân đạo và đã coi mọi sanh mạng như những con rơi." Và quan niệm nầy đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ trên quan điểm của người Việt-nam và Đức Chúa Trời (Thượng đế) trước khi Cơ-Đốc giáo đến, như đã được xét đến trong một số tác phẩm văn chương. Ví dụ: Cung Oán Ngâm Khúc, mô tả Tạo Hóa như một đứa trẻ ác và hành động hay thay đổi đã quyết định số mệnh của loài người. Để thay thế ông Trời tánh khí bất thường, Lão Tử đề nghị Đạo đã thực tại trước khi trời đất hiện ra, đồng thời cũng yên tĩnh, cô độc, bất biến, và cấu thành căn nguyên của vũ trụ. Vì Đạo sanh một, một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh 10 ngàn sinh mạng. Tuy nhiên, Đạo nầy không có một ý chí, vì "trời bắt chước Đạo và Đạo bắt chước thiên nhiên." Các giáo sĩ và các mục sư Tin Lành ở Việt-nam thường ví sánh quan niệm của Đạo với quan điểm của Logos trong sách Tin Lành Giăng, nhưng một quan sát viên kỹ lưỡng đã chú thích rằng định nghĩa của Lão Tử về Đạo chung qui là một sự bác bỏ hẳn "một Chúa tể riêng biệt của vũ trụ." Giáo lý thứ hai của Đạo giáo rất phổ thông giữa vòng phái trí thức Việt-nam, là Vô Vi luận. Vì Lão Tử đã có một lòng tôn kính cao đẹp đối với thiên nhiên, ông tin mọi sự đều được Đạo quản trị, một đường lối hoặc nguyên lý độc lập và bất biến trong cơ hành của nó và không cần sự giúp đỡ, hoặc sự can thiệp từ tác động của Trời hay người. Bởi vậy, người phải giữ tâm trí và tấm lòng bình tịnh, theo đường lối cùng trật tự của vạn vật. Chỉ khi nào con người từ bỏ ý định làm theo đường lối riêng thì mới có thể hiểu biết được những sự lạ lùng của Đạo. Ngay cả trong chính trị, theo giáo lý vô vi, người đời có thể tự cư xử không cần phải nhờ cậy đến pháp điển hoặc luật đạo đức. Trang Chu còn đi xa hơn nữa mà chủ trương rằng: "Chúng ta được sanh ra với Trời và Đất, và chúng ta là một với vạn vật. Bởi vậy, một người chân thật không có quyến luyến với cõi đời nầy hoặc sợ sự chết vì khi chết người được trở về trời."

SỰ THỜ CÚNG: Triết lý nầy cùng với Phật giáo và Khổng giáo đã khuôn đúc nên quan niệm vũ trụ và triết cuộc sống của một phần lớn nhân dân Việt-nam khi đạo Tin Lành được đưa vào lần đầu. Tuy nhiên, Đạo giáo lúc nầy đã trở nên suy thoái mà thành những hệ thống thờ cúng khác nhau. Vị thần tối cao của Đạo giáo là Ngọc Hoàng Thượng đế, có mo^.t hệ thống thần linh phụ tá gồm nhiều vị thần sinh, tử, Lão Tử , Bà Liễu Hạnh, và vô số thần linh (chư vị). Sự thờ cúng Ngọc Hoàng Thượng đế và triều thần đầy những phù phép, bùa chú, tất cả đều do các thuật sĩ là người phục dịch chức vụ tế lễ thao túng.

SỰ THỜ CHƯ VỊ: Các thần thiên địa và thế giới thủy sinh là đặc biệt phổ cập giữa những phụ nữ Việt-nam  vì nó cung cấp một số tiên nữ danh tiếng nhất, và chỉ dùng đàn bà làm đồng bóng trong phương thức truyền thông giữa các tín hữu với các thần linh.

HỘI ĐẠO: Thờ cúng Hưng Đạo Đại Vương là vị anh hùng dân tộc đã đánh thắng quân Mông cổ của Hốt Tất Liệt và có thể bảo hộ những người trung tín tránh khỏi vô số tà linh, ấy là do sự sợ hãi tà linh nầy mà nhiều giáo sĩ Tin Lành đã nhấn mạnh đến trong sự giới thiệu sứ điệp và quyền năng của Đấng Christ để giải cứu người khỏi sợ hãi.

Nói chung, điểm chung của Lão Tử và Trang Tử trên đời sống trí thức của dân tộc Việt-nam, dù cho quan trọng đến đâu cũng không so sánh được với ảnh hưởng của một hình thức pha trộn của Đạo giáo, cặp theo với những tín ngưỡng duy linh của địa phương, đã sinh ra toàn bộ quang phổ những sự cúng thờ và các giáo phái mà cuối cùng chỉ có một chút ít hoặc liên hệ gì với căn nguyên triết học của Đạo và vô vi luận.

PHẬT GIÁO

Phật giáo từ Ấn độ và Trung quốc đến Việt-nam vào cuối thế kỷ thứ II sau Công nguyên[1], các tài liệu Phật giáo từ thế kỷ XIII, XIV, có ghi lại: "Trong đời nhà Hán, có một số sư sãi Phật giáo như Mã Hà Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Mậu Bắc, v.v… đã đến xứ Giao châu (nước Việt-nam xưa) để truyền bá Phật giáo. Nhằm thế kỷ XVII, Lieu Fang, một thái thú Tàu ở Giao châu, báo cáo: Người ta có thể thấy nhiều thầy pháp rao truyền đạo Phật giữa vòng dân chúng."[2]

SIDDHRATHA - ĐỨC PHẬT: Phật giáo được sáng lập bởi Siddhratha, cũng gọi là Gautama bằng tên của thị tộc Ngài. Ngài sinh năm 563 trước Công nguyên, trong thị trấn Kapila Vastu ở nam bộ xứ Nepal, chừng 100 dặm Bắc Bernares, cha Ngài là Suddhodhara, một vua thống trị giàu có của bộ lạc Shakya, thuộc giai cấp chiến sĩ trong xã hội Ấn. Siddhartha đã sống thời thanh xuân trên nhung lụa và đến năm 18 tuổi đã cưới em gái họ Yasodhara, sau nầy sinh một con trai tên là La Hầu La. Nhưng Siddhartha không thỏa lòng về cuộc đời phẳng lặng của cung điện vua cha, nên khởi sự quan tâm đến tôn giáo. Sau chuyến đi qua bốn cửa của thành lũy, sự thất vọng của Ngài đã đến độ không chịu nổi nên Ngài quyết định ra đi tìm ánh sáng. Trải qua nhiều năm, Ngài nghiên cứu kỹ thuật suy gẫm và kỷ luật với một ẩn sĩ danh tiếng, nhưng Ngài không thỏa lòng. Ngài trèo lên núi Tuyết sơn và trải qua 6 năm trong sự khắc khổ cực độ hi vọng sự hành xác thái quá có thể đem lại giác ngộ và bình an. Thế nhưng vẫn thất bại trong sự đạt đến mục tiêu đòi hỏi, Ngài bèn lên núi Tương Dau (Cajasirsa) gần dòng sông Nai Randjana, sau khi đã tắm và uống một bát sữa do người chăn chiên cho, Ngài ngồi dưới cây tất bát la và nguyện rằng sẽ không đứng dậy nếu câu đố về sự đau khổ không được giải quyết dù cho thể xác Ngài có bị suy tàn tại nơi đó. Ngài ở dưới cây đó 48 ngày, khi ngôi sao mai mọc trong ngày thứ 48, Ngài đắc đạo tìm được chân lý về căn nguyên của sự sống và sự chết. Như vậy, Ngài thành Phật năm 31 tuổi, ngày 18.12 âm lịch, Từ đó Ngài đi chu du qua đồng bằng sông Ganges, được mệnh danh là Đức Thích Ca Mâu Ni và đã giảng một giáo lý mới cho đến khi qua đời vào năm 80 tuổi trong một khu vườn gần thành Kusinagara.

GIÁO LÝ: Trong bài giảng đầu tiên ở Berneres, Đức Thích Ca Mâu Ni loan báo một chân lý cao trọng về sự đau khổ, thật ra có thể tóm lại giáo lý Phật giáo như sau: Sinh là đau khổ, già là đau khổ, chết là đau khổ, bị hiệp nhất với người không yêu là đau khổ, bị phân rrẽ với điều mình yêu là đau khổ, và không đạt được điều mình muốn là đau khổ[3]. Theo Đức Phật, người ta phải không những nhận biết rằng đời sống trên đất nầy đầy dẫy khổ đau nhưng còn phải nhận thức rằng ấy là sự ham sống vô nghĩa, hoặc ưa thích thực tại và vui chơi, dẫn các sinh linh đang sống từ sự đầu thai nầy đến đầu thai khác (luân hồi truyền kiếp). Muốn chấm dứt sự đau khổ nầy, muốn giải thoát mình khỏi cái vòng lẩn quẩn ấy, người đời phải diệt sự ham muốn trong chính mình.

Đức Phật cũng loan báo giáo lý tứ diệu đế (4 lẽ thật cao trọng) làm con đường giải thoát. Những lẽ thật nầy là: lẽ thật cao trọng của sự đau khổ (dukkha), lẽ thật cao trọng của sự ngừng đau khổ (nirodha), lẽ thật cao trọng của nguyên nhân sự đau khổ (samudaya), và lẽ thật cao trọng của Bát Chính Đạo hoặc con đường 8 lần (tín ngưỡng đúng, cảm xúc đúng, nói đúng, hành động đúng, sống đúng, cố gắng đúng, nhớ đúng và suy gẫm đúng) dẫn đến sự ngừng đau khổ (magra). Đức Phật không thừa nhận một Đấng Tối Cao hoặc Tạo Hóa vũ trụ, nhưng không chối bỏ thực tại qua các thần được coi như những sanh mạng đơn sơ, chóng qua như người đời. Quan niệm của Ngài về tội lỗi có thể tóm tắt trong ba từ: Avijja hoặc thiếu giác ngộ (minh xác) duyên cớ tối hậu của ham muốn tạo nên dukkha của thực tại. Akusala, không tinh sạch dùng những ý chí cặp theo bởi tham, ghét và ảo tưởng, gây nên những kết quả của nghiệp quả (kiết ma) và cuối cùng Kamavipaka hoặc những nguyên do quá khứ. Sự dạy dỗ của Ngài về cõi lai sinh, báo ứng, giải thoát và Niết Bàn (Nirvana) dầu có sự giống về thuật ngữ nhưng thật khác xa với quan niệm Cơ-Đốc giáo.

Theo giáo lý nhà Phật, cõi lai sinh hoặc thực tại tương lai chỉ là cái vòng xích trong vòng lẩn quẩn của luân hồi truyền kiếp, sự báo ứng chẳng xảy ra ở hỏa ngục hay thiên đàng, nhưng sự làm quấy bị phạt qua những cuộc đầu thai, giải thoát, hay nói đúng hơn là sự tự giải thoát được hoàn tất bởi từng cá nhân, cuối cùng dẫn đến sự chấm dứt chu kỳ luân hồi. Nirvana tường được dịch là cực lạc (Phước lành tối hậu) chỉ có nghĩa là tiêu diệt, không còn nữa[4]. Sariputta, một trong các môn đồ sủng ái của Đức Phật, lần kia đã hỏi: Làm thế nào người ta có thể nói về Niết Bàn vì biết rằng tại đó không có cảm xúc gì? Ngài chỉ trả lời: Đúng thế bạn ơi, đó là lạc thú, tại đó không có cảm xúc gì. Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni chết, Phật giáo được chia làm hai nhánh: Mahayana và Kinayana, nhánh thứ hai cũng gọi là Nam tông (nhánh miền nam truyền bá đến Miến điện, Tích lan, Thái lan, Lào, Kamphuchia, Nam phần Việt-nam với toàn bộ giáo lý được coi là rất giống giáo lý đầu tiên của Đức Phật. Mahayana hay Bắc tông (nhánh miền bắc) trải qua một chuỗi biến hình trong quá trình bành trướng tại Trung Á và Đông Á, trở nên theo một ý nghĩa tôn giáo hoàn toàn gọi là A-di-đà (Amidism). Sau khi đã du nhập vào Tây Tạng, Trung hoa, Cao ly, Nhật bản và Việt-nam, Mahayana đồng hóa ít nhiều với Đạo giáo và các nhánh đạo duy linh tại khu vực địa phương . Tùy theo nhánh Mahayana, có vô số Phật và Bồ tát. Bồ tát là những vị đã đạt tới sự sáng minh bạch, lựa chọn trì hoãn không vào Niết Bàn và cứ ở lại nơi thế gian nầy để giúp đỡ những người đau khổ hoặc chết. Đức Thích Ca Mâu Ni là một trong những vị đó, nhưng người ta nghĩ rằng đã có nhiều vị Phật đã đi trước Ngài trong khi có nhiều vị khác đương trông đợi được theo sau Ngài.

Quan niệm mới về Đức Phật, Phật A-di-đà và Quan Âm Bồ tát rất phổ thông ở giữa vòng Phật tử Việt-nam và là trung tâm của sự thờ cúng họ. Theo triết học, Mahayana chủ trương mọi hình thức trong vũ trụ là hư vô và chẳng có gì thật cả, kể cả điều chúng ta gọi là "ngã" (mình hoặc atman) cũng là hư vô. Bởi vậy, giáo lý của sắc không (hình thức và trống không) và vô ngã (không có mình hoặc anatman) được khai triển để nhấn mạnh ảo ảnh của thế giới thấy được và sự điên dại của sự cố gắng của người đời để phân biệt bản ngã mình với vũ trụ.

SỰ PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT-NAM: Phật giáo được du nhập vào Việt-nam vào cuối thế kỷ thứ II (194-195 SCN), bởi Mậu Bắc. Sau bốn thế kỷ truyền bá, Phật giáo chỉ có thể báo cáo, theo nhà sư Đàm Thiên trong đời trị vì của Hoàng đế Cao Tổ nhà Tùy (581-518) rằng Giao châu đã có trên … (stupa, tháp dựng thánh tích), 500 sư sãi và phiên dịch 15 Kinh Phật. Khúc quanh được đánh dấu bởi sự thiết lập các tu viện Phật giáo do các thiền sư. Pháp Hiển, người trước khi qua đời năm 628 (bản sao không rõ) đã huấn luyện một số sư sãi và bố trí đặt nền móng cho một sự bành trướng mau lẹ giáo lý tại Việt-nam. Tu viện nầy và các tu viện thiết lập sau đó trở thành trung tâm giáo dục quan trọng tại Việt-nam trong thời Bắc thuộc. Các tu viện cũng giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị của quốc dân trong thời trung cổ. Nhiều lãnh tụ quốc gia, kể cả hoàng đế, đã nhận sự giáo dục chính thức trong các tu viện, một số khá lớn sư sãi được … (mất một khoản nhỏ) được nền độc lập từ Trung quốc. Hoàng đế Đinh Tiên Hoàng chính thức chấp nhận một chính sách ưu đãi Phật giáo. Những tước hiệu chính thức được ban cho hàng giáo phẩm Phật giáo và một hệ thống Phật giáo được thiết lập. Hoàng đế nâng tu sĩ Ngô Chấn Tuy lên đến hàng Tư Vấn Hoàng gia và phong cho người chức hiệu Khuông Việt Đại sư (bậc thầy lớn ủng hộ dân Việt). Phật giáo tiếp tục hưởng nhiều ân huệ từ Hoàng triều dưới thời nhà Tiền Lê (981 đến 1009) và hầu hết các học giả uyên bác của triều đình là được tiến cử từ hàng giáo phẩm Phật giáo hoặc được huấn luyện trong các tu viện Phật giáo. Như thế, người ta có thể hiểu cách nào Phật giáo được ủng hộ và vì sao triều đình lại thuận ưu đãi sự bành trướng Phật giáo. Sự ủng hộ nầy được duy trì bởi nhà Lý (1010-1225) thiết lập bởi Lý Công Uẩn, người được nuôi dạy trong một ngôi chùa bởi Lý Khánh Vân, ấy là dưới đời trị vì của Lý Thánh Tông (1054-1072) mà Khổng giáo du nhập vào cuộc đời chính trị và tri thức của xứ qua những kỳ thi tổ chức để tuyển các quan chức trong đời nhà Trần (1225 đến 1400), Phật giáo vẫn còn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, mặc dầu có sự gia tăng thi đua của Khổng giáo, Hoàng đế Lý Nhân Tông đã gia nhập bang khổ tu như một vị cao tăng và các thuộc viên khác của hoàng gia cũng trở thành sư tăng, sư ni. Tuy nhiên, trong thời kỳ nầy, Phật giáo tại Việt-nam phải trải qua một biến thể vì các giáo lý nhà Phật pha trộn với Lão giáo và nhất là duy linh phái. Vài sư sãi qua sự tìm tòi thuốc trường sinh bất tử cách vô ích trong khi số khác chuyên lòng học ma thuật. Thật thế, Phật giáo chịu ảnh hưởng bởi các lực lượng bản xứ về duy kinh và triết học của Lão giáo đến nỗi cuối thế kỷ XIV, đã nhường bước cho Khổng giáo, để thành tôn giáo của hoàng triều.

Năm 1414, Việt-nam sa vào sự thống trị của người Tàu, nhưng chẳng bao lâu xứ được Lê Lợi giải phóng, người sáng lập ra nhà Hậu Lê (1428-1788), ít lâu sau khi lên ngôi, vị anh hùng dân tộc nầy đã thiết lập các khoa thi cho các sư sãi Phật giáo và các tu sĩ Đạo giáo, truyền cho tất cả những người thi trượt phải trở về đời sống thế tục. Ba mươi năm sau, Hoàng đế Lê Thánh Tông đã ra những luật mới áp đặt sự kiểm soát chặt chẽ trên Phật giáo và cấm xây cất các chùa chiền mới. Núp phía sau tâm trí dân chúng, Phật giáo vẫn còn sắp đặt được để sinh tồn như một thành phần lớn trong sự pha trộn của các niềm tin tôn giáo phổ thông. Sự suy thoái Phật giáo gia tộc bởi sự lên ngôi của Hoàng đế Gia-Long (1802-1819). Vốn là một tín đồ và là người biện hộ cho Khổng giáo, ông bác bỏ cả Phật giáo và Đạo giáo. Điều khoản 143 luật Gia-Long ghi: "Nhà chức trách nào cho phép vợ và con cái đi chùa hoặc đến Đạo giáo thì sẽ bị phạt 40 roi." Dần dần, do sự kiểm soát và áp lực liên tục, Phật giáo tại Việt-nam càng thỏa hiệp và trở nên một tôn giáo hoàn toàn pha trộn vài thần bí học, thông thần thuật và đa thần.

Cố gắng đáng kể mới đây là một số Phật tử trí thức và những người thế tục giàu có đã làm cho Phật giáo sống lại. Những hội nghiên cứu Phật học riêng rẽ được thiết lập tại Sàigòn, Huế và Hà-nội (1931-1934), nhiều văn bản và bản dịch đã được xuất bản. Một đại hội lớn triệu tập ở Huế tháng 5.1957, trong một biểu quyết chưa từng có, hội nghị đã chấp thuận sự hòa hợp cả ba hội đoàn thuộc vùng, biên tập các nghi lễ thành pháp điển, tổ chức nền giáo dục cho các thanh nhân, khai triển sự giao thông các thanh niên Phật giáo và gia nhập tổ chức Phật giáo thế giới.

Tuy nhiên, dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, những Phật tử không được thở dễ dàng. Tình trạng khó khăn nầy đều gây cảm xúc ít hay nhiều trên các tôn giáo khác trừ Giáo hội Công giáo Lamã, bởi một sự mỉa mai của số phận, thành lực lượng đem các tổ chức Phật giáo lại với nhau. Sự đoàn kết mới lên đến tuyệt điểm là sự thống nhất ngành Phật học Kinayana thực hành bởi một số nhỏ người Nam bộ, hầu hết là người Việt gốc Miên, với ngành Phật học Mahayana, trong đại hội Phật giáo toàn quốc, nhóm họp cuối năm 1963. Ít lâu sau khi lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, sự thống nhất nầy được các Phật tử mệnh danh là "một kỳ công xuất chúng chưa từng thấy ở nơi nào trên thế giới." Một gương chứng cho cả giáo hội Phật giáo thống nhất trên toàn thế giới trong mai sau.

HÒA HẢO

HUỲNH PHÚ SỔ, ĐỨC THẦY: Phật Giáo Hòa Hảo được chính thức thành lập năm 1939, tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, Châu đốc, phía Tây Nam kỳ. Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập giáo phái sinh năm 1919, tại Hòa Hảo, con của một hương hào giàu có. Giống Mahomed, người sáng lập Hồi giáo, Sổ tránh đám đông, ưa rút lui vào trong nơi vắng vẻ để tập trung sự suy gẫm. Cũng giống Mohamed, Sổ đặc biệt gớm ghét sự thờ hình tượng, nhưng không giống Mahomed hưởng cuộc sống gia đình với các vợ, Sổ nhất định sống độc thân trong cuộc theo đuổi tôn giáo, thích hiệp với những tập tục khổ tu của Phật giáo. Giữa tuổi 15-21, Sổ bị quấy rầy bởi một trường hợp sốt rét kinh khủng cặp theo bịnh di tinh khiến người trở nên xanh xao gầy đét, trông thật tiều tụy. Cha mẹ kiếm đủ cách chạy chữa, đủ thầy, đủ loại thuốc, phù thủy, sư sãi danh tiếng, kể cả thầy trên núi Trà Cú. Sổ đã được truyền bí quyết về những sự dạy dỗ của Nguyễn văn Quyền, được gọi là Phật Thầy, cùng dạy người phép châm cứu, thôi miên, giáo lý nhà Phật và phù phép. Sau nầy, Sổ xác tín rằng sự đau ốm lâu ngày chỉ là cơ hội để 'tự làm tinh sạch' chuẩn bị mình nhận và truyền đạt những ánh sáng quyền năng và tinh khiết từ Đấng Thiêng Liêng. Tự xưng mình là Ông Đạo Khùng, Sổ đi viếng nơi thánh 4 lần liên tiếp nhau tới chùa trên núi Tà Lơn, Núi Cấm gần địa phận Kampuchia. Mục đích là để chứng minh cho cha mẹ, môn đồ đầu tiên của mình rằng ông được bản thể siêu nhân. Ngày 18.5.1939 (âm lịch), Huỳnh Phú Sổ được 21 tuổi, trang nghiêm cử hành lễ tấn phong mình đứng đầu tôn giáo mới là Phật giáo Hòa Hảo trên thánh địa của làng Hòa Hảo. Với tài hùng biện đặc biệt, Sổ đi ra thi hành chức vụ giảng dạy và chữa bệnh bởi đức tin. Các môn đồ của người tin rằng người có quyền chữa trị mọi thứ tật bệnh và đuổi quỉ nào người lựa chọn. Mỗi lần người điều trị một bệnh nhân, người khuyến khích kẻ bịnh nầy hằng cầu khấn Đức Phật Trời và các thần linh, và chính tay người đưa nước thải cho bịnh nhân uống, đốt bùa làm bằng giấy nhật trình, giấy kim tuyến (giấy vàng) và uống thuốc sắc bằng lá cây, hoa và rễ.GIÁO LÝ: Giáo lý Huỳnh Phú Sổ (Huỳnh giáo chủ) được thấy trong 6 cuốn sách của ông: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm (1939), Kệ dẫn của người khùng (1939), Sấm giảng (1939), Giấc mơ tâm kệ (1939), Khuyến thiện (1939), Những điều sơ lược cần biết của kẻ tự hiến. Nói chung, về phần giáo lý, Phật giáo Hòa Hảo theo đường hướng chung của Tịnh độ tông, phần chính dạy người lo việc thế tục con đường giải thoát. Huỳnh Phú Sổ bao giờ cũng coi tôn giáo của mình là một Phật giáo cải chánh. Bốn giáo điều chính của người là: Hiếu kính cha mẹ, hãy yêu tổ quốc, hãy biết ơn Tam Bảo (ba điều quý trong của Phật giáo) tức là Đức Phật, Phật pháp và Phật tăng hãy biết ơn đồng bào và cả nhân loại. Người nào quyết định đi tu thì phải thêm một giới luật thứ 5: Hãy biết ơn kẻ bố thí cho người (những thầy tu ở Nam Việt-nam, nhất là những Theravadista, đều được cấp dưỡng bởi những kẻ bố thí). Theo Huỳnh Phú Sổ, tất cả những giới răn, có thể truy ngược đến các đức hạnh cơ bản của hiếu thảo và công nghĩa. Trước Hòa Hảo không được uống rượu, hút thuốc á-phiện, giết thú vật ăn thịt, hoặc đồ dâng sinh tế. Tuy nhiên, họ được phép ăn thịt khi nào chủ nhà khoản đãi, chỉ trừ những ngày 14, rằm, 30, mồng một theo âm lịch. Những cải cách của Hòa Hảo phần chính là không xây cất và sử dụng chùa, không có một chức vụ tư tế hợp thức, và cấm hình tượng trong sự thờ lạy.

Tôn giáo đặc biệt của Huỳnh giáo chủ có sự kêu gọi đặc biệt cho thường dân ở Tây bộ Nam kỳ bởi chính sự đơn giản của giáo lý, nghi thức và thực hành. Giống như Martin Luther, Sổ nhấn mạnh trong một ý nghĩa: "Sự phổ thông của chức tư tế vì một cá nhân có thể có một kinh nghiệm phong phú trong sự cảm thông trực tiếp với Đấng Toàn năng (hoặc đúng hơn là Đấng Thiêng liêng) mà người có thể cầu nguyện ở khắp nơi vô luận thì giờ nào." Sổ viết: "Sự thờ cúng phải xuất phát từ đức tin bên trong hơn là sự huy hoàng bên ngoài. Tốt hơn là cầu nguyện với một tấm lòng tinh sạch trước bàn thờ gia tiên còn hơn là cử hành các nghi lễ xa hoa rực rỡ trong chùa chiền mặc áo cà sa của một thầy tu không xứng đáng[5]." Huỳnh giáo chủ dạy rằng: "Cầu nguyện có thể dâng lên chẳng phải chỉ cho Đức Phật mà cũng có thể dâng lên các vị anh hùng dân tộc hoặc tổ tiên."

Đối với sự chấp thuận chung của người dân quê và công nhân là người từ lâu khiếp sợ những nghi lễ và sinh tế, lễ vật trau chuốt tốn kém như phong tục quốc gia và tôn giáo cổ truyền qui định cặp theo lễ an táng hợp thức, Huỳnh Phú Sổ chủ trương rằng: "Thân thì phải được chôn cất đơn sơ và không cần nghi lễ lớn hầu cho sự giải thể không làm cho người sống khó chịu. Tại sao phải chi nhiều tiền dưới duyên cớ là cụ thể hóa của lòng hiếu thảo hay trung thành, tình bằng hữu đối với người chết, khi đáng lẽ những cảm xúc đó phải được bày tỏ khi họ còn đang sống." Thật thế, trong nguồn cảm hứng nầy, Sổ mang theo sự dạy dỗ và truyền giảng của các Hội thánh Tin Lành tại Nam kỳ và đặc biệt tại tỉnh nhà của Sổ về những lễ vật và sinh tế cho người sống ít nhất cũng là 20 năm sau khi ông ra đời. Tuy nhiên, lời kêu gọi lớn nhất của giáo lý Huỳnh giáo chủ và một điều làm cho sứ điệp của ông độc đáo trong các đoàn thể tôn giáo của thời đại, trích từ lòng ái quốc phổ thông: Một tín đồ Hòa Hảo phải chấp nhận một quan niệm ái quốc của nghĩa vụ tín đồ để "bảo vệ đất nước khi quân thù giày xéo để nâng đỡ xứ sở trong thì giờ nghiêm trọng, để khiến nước giàu dân mạnh, để ra tay cứu giúp quốc dân đang bị người ngoại bang thống trị, và người ta chỉ có thể sống bình an khi nào đất mẹ hòa bình, và thân thể người chỉ có thể được bảo vệ khi xứ sở người ấy giàu mạnh. Và cuối cùng: hãy làm hết sức mình để hi sinh (hoặc hi sinh đời mình) cho tổ quốc, mỗi người tùy theo sức lực và khả năng của mình."

SỰ PHÁT TRIỂN VÀ DÍNH LÍU VÀO CHÍNH TRỊ: Chẳng cần phải nói, hàng ngàn người đã say mê đáp ứng với sứ điệp ái quốc và tôn giáo của Huỳnh giáo chủ được sung vào trung đoàn của một trong các lực lượng cách mạng chính nhằm mục đích lật đổ chế độ thực dân Pháp. Không bao lâu, môn đồ của Huỳnh giáo chủ đi đến chỗ suy nghĩ về người như một vị Phật sống mà những nét hướng dẫn cho cuộc dấn thân của họ chẳng những vào một đức tin tôn giáo khỏi bọn quỉ hung hăng, thậm chí để hoàn thành sự hiệp nhất của nhân loại. Quan điểm sau nầy được hiện thân trong lá cờ Hòa Hảo là cờ gồm đủ màu sắc, biểu tuợng cho sự hợp nhất của các nòi giống, quốc gia và ngôn ngữ.

Nhằm mùa Hè 1940, sự tự lập tôn giáo của Sổ trong miền Trung châu sông Cửu Long trở nên lớn và đông quá, lại được định hướng chính trị đến nỗi nhà cầm quyền Pháp phải quyết định can thiệp. "Ông Đạo Khùng" (biệt hiệu của Sổ) phải được đặt vào chỗ thuộc về ông, ít nhất theo suy luận của người Pháp. Nhưng khi bị giam giữ tại Dưỡng Trí Viện Chợ Quán trong miền ngoại ô Saigon, chẳng bao lâu Sổ cảm hóa được vị y sĩ chữa bệnh cho mình trở lại đạo. Được gửi đến Bạc liêu thuộc góc Nam miền Châu thổ để lại bị giam giữ, Sổ biến nầy trở nên một thành lũy kiên cố của Hòa Hảo nhờ đó ông hót vang những sứ điệp chống Pháp, soạn thảo hoàn toàn trong ngôn ngữ tôn giáo (rất cẩn thận). Cuối cùng khi người Pháp quyết định lưu đày ông sang Lào cùng các lãnh tụ chính trị khác của các phong trào cách mạng, Hiến bịnh Nhật Kempeital (cảnh sát chính trị) đến cứu ông hoặc nói đúng hơn giựt ông khỏi tay của Sở Mật Thám Liên bang Pháp. Làm việc dưới sự bao che của Nhật, Huỳnh Phú Sổ thành lập một Đảng chính trị mệnh danh là Việt-nam Dân chủ Xã hội Đảng. Ngay sau khi Nhật bản thất trận và bản tuyên ngôn độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được công bố tháng 8.1945, Huỳnh Phú Sổ bắt tay với các lãnh tụ Việt-Minh để thành lập Mặt Trận Thống Nhất Kháng Chiến chống xâm lược Pháp, chung với các đoàn thể tôn giáo và chính trị khác ở miền Nam. Cuộc hôn phối không thoải mái và dễ lung lay đó chẳng bền lâu, Sổ là người độc lập, khó trị, chẳng bao lâu trở thành nổi nhức óc cho các lãnh tụ Cộng sản cuối cùng đã quyết định bắt cóc và thủ tiêu ông ở tỉnh Long Xuyên tháng 4.1947. Khi được tin thầy của họ chết, các lãnh tụ quân sự Hòa Hảo trở lại nghịch với Việt-Minh và chiến đấu với cả Việt-Minh lẫn Pháp. Tuy nhiên, quần chúng tín đồ thường tin rằng Đức Thầy của họ chẳng bao giờ chết, người chỉ rút lui khỏi nơi đấu trường một thời gian và cuối cùng lại tái xuất.

Dầu Huỳnh Phú Sổ đã từng quyết đoán với các lãnh tụ Việt-Minh rằng tổng số người theo Hòa Hảo là 2 triệu người, con số dường như hơi quá đáng. Một sự ước lượng thiết thực hơn cho biết số tín đồ Hòa Hảo ở giữa 750 ngàn và một triệu. Khối tín đồ Hòa Hảo được tập trung lại trong các tỉnh Miền Tây và Nam trung châu thổ sông Cửu Long làm thành một vòng đai ngang qua miền Nam Việt-nam Cộng hòa. Trong hai tỉnh An-giang và Châu-đốc, thành phần Hòa Hảo tương đối lên đến 53% dân số. Tại Kiến Phong, Kiến Tường, Phong Dinh và Vĩnh Long, nơi có Tổng Hành Dinh của tướng Hòa Hảo là Trần văn Soái, biệt hiệu Năm Lửa, lực lượng của họ thay đổi từ 10 đến 24% dân số. Tại các tỉnh Chương Thiện, Kiên-giang, Ba-xuyên, số bách phân càng giảm, tức là từ 1-3%.

Lực lượng chính trị của Phật giáo Hòa Hảo đã đạt tới điểm tuyệt đích trong những năm chót của chiến tranh Đông dương lần thứ nhất. Cùng với các bè phái tôn giáo, chính trị khác, nó hăm dọa lật đổ chính phủ thứ nhất của Ngô Đình Diệm năm 1955. Tuy nhiên cố vấn chính trị của Diệm thành công trong sự gieo mầm chia rẽ, trước tiên đối với mặt Trận Thống Nhất các giáo phái, kế đến ngay giữa vòng các lãnh tụ, và cứ tiếp tục loại trừ họ và từng trung đoàn một.. Việc bắt và hành quyết tướng Lê Quang Vinh biệt hiệu Ba Cụt từ lâu từng được coi là quân nhân có khả năng lãnh đạo nhất, đánh dấu sự suy thoái của Phật giáo Hòa Hảo, ít nhất cũng trong lãnh vực quân sự và chính trị. Các giáo phái cứ tiếp tục thực tại và được điều hành ít hay nhiều như là một đoàn thể tôn giáo cho đến ngày nay, nhưng sức mạnh tiềm tàng chính trị của nó vẫn còn là một mối quan tâm cho các chính phủ ở miền Nam Việt-nam.

Năm 1934, một hội nghị chung họp tại Thánh địa Hòa Hảo đã bầu cứ 16 vị vào trong Ban Chấp Hành Trung Ương và đứng đầu là Lương Trọng Tường, ông nầy trước kia là một lãnh tụ chính trị và là thành viên nội các Cơ Cấu của Ban Chấp Hành, thuần túy tôn giáo gồm có một Hội Trưởng, một Phó Hội Trưởng, nhiều Cố Vấn, một Thư Ký, nhiều bí thư phó,… được dự phòng ở mọi tầng lớp tổ chức. Hội nghị công nhận bà Huỳnh Công Lộ, mẹ của Sổ là đầu trưởng thiêng liêng của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo ngày nay.

CÔNG GIÁO LA-MÃ

Không ai biết chắc khi nào Công giáo Lamã được du nhập vào Việt-nam lần đầu tiên. Tùy theo huyền thoại, người Tây phương, kể cả những thương gia, các thầy cả Cơ-Đốc đã thăm viếng Việt-nam vào thế kỷ thứ II, III và các thế kỷ kế theo, nhưng những hoạt động của họ nhất là cố gắng truyền bá Tin Lành không được ghi chép, cũng chẳng có bằng cớ chứng tỏ có người tin đạo trước thế kỷ 16[6].

Khâm Định Việt Sử ghi chép rằng trong năm của Nguyễn Hóa (1653), một sắc lệnh được công bố bởi Hoàng đế Lê Trang Tông cấm đạo Công giáo Lamã tại Việt-nam. Sắc lệnh nầy nói đến bởi một người Tây phương tên là I-hi-kha đã truyền bá đức tin Công giáo tại các huyện Giao-Thủy và Nam Châu thuộc tỉnh Nam Sơn nay là Nam Định[7]. Đây là một thời kỳ nổi dậy về chính trị và sự qua phân về lãnh thổ tại Việt-nam với Nhà Mạc giữ bắc phần, triều Lê giữ Nam phần (vào 1527-1529). Xứ có danh là thống nhất dưới triều Lê mà thật chia thành đường ngoài (vùng bắc) và đường trong (vùng Nam) tương đối được cai trị bởi Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn (1592-1788).

Lịch sử chính thức không nói I-ha-kha bị trục xuất liền hay còn ở lại trong xứ để theo đuổi cố gắng truyền giáo. Tuy nhiên, năm 1583, một phái đoàn gồm 8 linh mục, đứng đầu là Linh mục Diego d'Oropress nhận lời mời của Hoàng đế Mạc Mậu Hiệp đến thăm Việt-nam. Những linh mục nầy đến từ thủ đô Manila và đổ bộ lên Quảng Yên. Nhưng khi họ theo đường thủy lên kinh đô Thăng Long (Hà-nội), thuyền của họ bị trôi lạc vì gặp cơn bão[8]. Linh mục Bartholomes Ruiz, nhân viên trong phái đoàn trở lại Việt-nam sau được hoàng đế nồng nhiệt tiếp rước và cho phép linh mục ở lại trong xứ và truyền bá đức tin của mình. Cha Ruiz và một số khá đông linh mục dòng Tên, hầu hết là người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, đã đến Việt-nam trong thời kỳ nầy rất tích cực hoạt động và thành công trong việc đem một số thuộc viên của giai cấp thống trị trở lại Đạo, kể cả bà Công chúa Nhiếp Chính Mai Hoa, nhưng điểm chạm của họ trên dân chúng Việt-nam chẳng được sâu rộng. Nguyễn Hữu Trung trong luận án Tiến sĩ nhan đề "Căn Nguyên của Hàng Giáo Phẩm Việt-nam", đã nhận xét rõ: Nếu người xem xét kết quả của thời kỳ truyền giảng hoàn toàn thí nghiệm nầy tại Việt-nam thì phải nhận rằng kết quả thật nhỏ. Chỉ có vài trường hợp chịu lễ báp-têm, nhưng không thấy ở đâu có một cộng đồng Cơ-Đốc vững chắc đủ để được coi là một phôi thai của Hội thánh tương lai[9].

Khúc quanh trong sự tiến bộ của Công giáo Lamã được đánh dấu bởi một giáo sĩ người Pháp, Linh mục Đắc Lộ, tên rõ hơn là Alexandre de Rhodes. Vị học giả xuất chúng nầy đã đổ bộ vào năm 1624 và dành 22 năm ở cả hai khu vực đường trong và đường ngoài. Ông học thấu đáo ngôn ngữ, lịch sử và địa lý Việt-nam, và điều quan trọng hơn hết, ông đã hoàn thành cách viết tiếng Việt-nam (theo chữ viết La-tinh) mà về sau chỉ cần vài sửa đổi nhỏ là hoàn thiện, để thay thế cách viết chữ Hán cổ truyền trở thành chữ Quốc ngữ vào cuối thập niên 1910. Đắc Lộ trở về Paris năm 1649 và thành lập Hội Các Sở Truyền giáo Hải Ngoại, để tuyển mộ những giáo sĩ Pháp cho miền Viễn Đông. Từ thời đó trở đi số các giáo sĩ Pháp tăng lên cho đến khi trở thành nhóm giáo sĩ Công giáo Lamã lớn nhất và ảnh hưởng nhất tại Việt-nam. Theo Đào Duy Anh, tác giả cuốn Việt-nam Văn Hóa Sử Cương, chừng năm 1660, tức là 30 năm sau khi thành lập Hiệp Hội Các Sở truyền Giáo Hải Ngoại, Giáo hội Công giáo quả quyết nhận mình có 600.000 tín đồ ở đường trong và 200.000 ở đường ngoài. Tuy nhiên, các con số nầy dường như hơi phóng đại khi người ta suy xét rằng hơn một thế kỷ sau, tổng số dân Công giáo trong xứ thống nhất, sau nhiều sự bành trướng đã không quá con số 320.000 theo một sử gia Công giáo.

Sự truyền bá đạo Công giáo Lamã từ cuối thế kỷ XVII cho đến Hoàng đế Gia Long lên ngôi năm 1802, không phải lúc nào cũng dễ dàng và thành công. Những bước thăng trầm khởi sự hoặc chấm dứt với sự bắt đầu hoặc sự băng hà của một vua chúa có thiện cảm hoặc trong nhiều trường hợp tùy theo sắc thái hay thay đổi của một quốc vương đa nghi. Tỉ dụ, các giáo sĩ Bồ Đào Nha đã được Chúa Trịnh Tráng ưu đãi cho phép họ đi theo người trong các cuộc chinh chiến chống miền Nam, cho phép họ giảng và lập các nhà thờ ở Hà-nội và các tỉnh khác ở miền Bắc. Nhưng vừa khi Chúa Trịnh thấy những ân huệ đặc biệt người gia ân cho các linh mục Bồ Đào Nha không cải thiện được mối quan tâm của mình về thương mại với các thương gia Bồ, Chúa Trịnh bèn quyết định trục xuất các giáo sĩ. Tại miền Nam, Linh mục Đắc Lộ trước hết được đón tiếp bởi Chúa Sãi Công Thương Vương, đã nhận lễ vật và cho ông ở lại trong xứ. Tuy nhiên, cũng dưới quyền cai trị của chúa nầy mà Anrê, I-nha-xo, Vinh Sơn và vài người Công giáo khác bị hành quyết trong lãnh địa của người (1644-1645).

Triều đại Tây Sơn (1788-1802) thành lập bởi ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, đã tiêu hủy chế độ của các lãnh chúa, cả hai miền Nam Bắc, và như thế gián tiếp chấm dứt triều đại của nhà Lê mạt. Dầu các hoàng đế Tây sơn không tỏ lòng cừu thù gì với người Công giáo Lamã, hầu hết các giáo sĩ bị đuổi khỏi xứ bởi cuộc chiến dai dẳng trong khi đó sự sống của Hội thánh địa phương không được báo cáo lại đầy đủ. Nhà chép sử lỗi lạc là Trần Trọng Kim, đã ghi chú trong tác phẩm Việt-nam Sử Lược rằng: "Trong triều đại Tây sơn, xứ ở trong hỗn loạn, sự chú tâm tập trung vào cố gắng chiến tranh nên Công giáo Lamã không bị cấm. Tuy nhiên, chính sách phóng nhiệm (laisser faire) đối với người Công giáo trong các năm sau lần lần sửa đổi. Trước hết, quân đội Tây sơn không thiên vị nhóm tôn giáo nào, chẳng cố gắng bảo vệ đền chùa miếu nào, và Công giáo được đối xử ngang với các tôn giáo khác. Tuy nhiên, khúc quanh đạt đến khi Giám mục Bá-Đa-Lộc (Adran) đã công khai ủng hộ Hoàng thân Nguyễn Ánh, kẻ tử thù của Tây sơn. Kết quả là chính quyền Nam kỳ dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Lữ, em của Hoàng đế Quang Trung khởi sự bắt bớ người Công giáo, các nhà thờ bị hủy phá còn các linh mục bản xứ bắt buộc phải chạy trốn vào rừng. Trong 9 năm Nam kỳ ở dưới quyền cai trị của triều Tây sơn (1780-1788), theo báo cáo số người Công giáo giảm đi từ 100.000 xuống còn 80.000, nhưng thật sự dường như chỉ rằng một phần lớn số thiệt hại nầy là do sự tàn phá và thăng trầm của chiến tranh đã giáng trên dân chúng như toàn bộ chứ không phải là cố gắng có phối kiểm về phần chính quyền nhà Tây sơn để trừ diệt Công giáo Lamã."

Tại miền Bắc và Trung bộ Việt-nam, người Công giáo Lamã trước hết được bao dung hay ít nhất, người Tây sơn không dòm ngó đến, cho đến chừng Giám mục Labariette ở Thuận hóa (Huế) nhận được một mật thư từ hoàng thân Nguyễn Ánh, lúc nầy đã thắng lợi trong việc chiếm lại miền Nam Việt-nam. Như kết quả trực tiếp của biến cố nầy, 31 người Công giáo, kể cả Linh mục Nguyễn văn Triều, bị xử tử, còn những người khác phải trốn khỏi nhà. Phản ứng gay gắt nầy về phần nhà Tây sơn không phải xuất phát từ tình cảm bài ngoại hoặc chống Cơ-Đốc. Thật thế, phản ứng đó được xui khiến bởi sự cam kết của Giám mục Bá-Đa-Lộc và cộng sự viên của ông để ủng hộ chính nghĩa của Nguyễn Ánh. Linh mục Phan Phát Hường, tác giả cuốn Việt-nam Giáo Sử, có lẽ là cuốn sử ký dễ hiểu nhất về giáo hội Công giáo Lamã tại Việt-nam cũng đồng quan điểm nầy: 'Ví bằng Giám mục Adran không giúp Nguyễn Ánh chiếm lại xứ, thì quân Tây sơn không tàn sát người Công giáo.' Cuối cùng Nguyễn Ánh thành công trong sự tiêu diệt quân Tây sơn và lên ngôi năm 1802 lấy vuơng hiệu là Gia-Long, người Công giáo Lamã hưởng hòa bình và thịnh vượng. Dầu hoàng đế mới không tin theo đạo Công giáo Lamã, và kiên quyết không ban ân huệ đặc biệt nào cho giáo hội, nhưng ông chẳng bao giờ che giấu lòng biết ơn các giáo sĩ, nhất là đối với cố Giám mục Adran, người đã anh dũng chiến đấu cho chính nghĩa hoàng triều, cho đến hơi thở cuối cùng. Trong đời Hoàng đế Gia Long trị vì, giáo hội Công giáo tại Việt-nam ghi nhận có 320.000 tín đồ, 117 linh mục bản xứ, 15 giáo sĩ ngoại quốc và 3 giám mục. Cũng rất thích thú mà ghi nhận rằng 80% những tín đồ thế tục và linh mục bản xứ nầy đều tập trung ở miền Bắc Việt-nam thời đó.

Ngoại trừ thời gian ngắn ngủi tương đối yên lặng theo sau sự chết của Gia Long (giữa năm 1820-1833), người Công giáo Lamã khởi sống những ngày tối tăm nhất trong các đời trị vì của Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức (1833 đến 1883). Ngày 6.1.1833 ra một sắc lệnh cấm đạo Công giáo Lamã trên toàn xứ. Sự cấm đoán nầy trước hết áp đặt bởi Minh Mạng, kế đến chứng quyết bởi cả Thiệu Trị lẫn Tự Đức, bày tỏ 'các giáo sĩ ngoại bang vào xứ bất hợp pháp để truyền giáo đức tin sẽ bị hành quyết, các linh mục bản xứ từ chối không bỏ đạo sẽ bị gạch mặt và bị lưu đày, thường dân thì cấm không cho theo đạo Công giáo mà không bị giết….' Trước khi chính thể Hoàng triều Việt-nam bị buộc phải bãi lệnh cấm nầy bởi các hiệp ước 1862 và 1874. Một số khá đông các giáo sĩ ngoại bang, linh mục bản xứ và các tín đồ thế tục thường bị hành quyết, hoặc bởi chính quyền địa phương tố cáo người Công giáo làm gián điệp, hoặc bởi chính quyền Trung ương và sự nghi kỵ càng sâu sắc hơn bởi nhiều cuộc nổi loạn địa phương và bởi chiến tranh chống Pháp. Một sử gia Việt-nam, Lê Thành Khôi, đã ghi nhận rằng: "Các hoàng đế Việt-nam không cấm đạo Công giáo vì sự cuồng tín, nhưng vì họ muốn bảo vệ sự thống nhất quốc gia cả về đạo đức lẫn chính trị. Họ coi người Công giáo không thờ cúng tổ tiên là một sự đe dọa cho việc thống nhất quốc gia. Sau khi lên ngôi, Minh Mạng không cố gắng che giấu sự giận hờn nghịch cùng những kẻ chống đối mình và dân chúng không ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy hoàng đế coi những giáo dân Công giáo Lamã như kẻ thù."

Nhưng có ít nhất ba lý do khiến Hoàng đế Minh Mạng và những người kế vị giữ một thái độ cừu địch đối với Hội Truyền giáo Công giáo. Trước hết có lẽ lý do mạnh hơn cả hai lý do kia, thuộc về chính trị. Minh Mạng không phải là con trưởng của Gia Long, và sự lựa chọn ông thay thế Hoàng tử Cảnh, người thừa kế đã chết ở Gia-định sau khi hoàng tử thăm viếng Paris với Giám mục Adran, trước hết bị các quan đại thần và một số giáo dân Công giáo cảm tình viên phản đối. Ngay cả ngày nay, vô số người Công giáo vẫn còn nghĩ rằng đó chẳng phải là sự lựa chọn 'hợp pháp' và chỉ con của Hoàng tử Cảnh mới có quyền kế vị Gia Long. Lý do thứ hai khiến hoàng đế chống đối là vì ông nghiêm nhặt theo các tôn giáo cổ truyền - tức là Khổng giáo và sự thờ cúng tổ tiên - hậu quả là ông chống đối một tôn giáo ngoại lai mà ông coi là 'đức tin gian ác.' Lý do thứ ba cũng mang bản sắc chính trị, được xúi giục bởi chính sách bành trướng lãnh thổ trong thời kỳ nầy, các nước đế quốc đang thực hiện, nhất là người Anh đã chiếm đóng Ấn độ và Miến Điện mấy chục năm trước, người Pháp đang cố gắng đặt chân lên Á châu. Sau khi đã mất Ấn độ về tay người Anh, các giáo sĩ ngoại quốc được coi là các thám tử, và các tín hữu Công giáo bản xứ là gián điệp, họ chẳng ngần ngại phản bội xứ sở để thực hiện phần nào sự tự do tín ngưỡng. Bởi Hòa ước năm 1862, Hoàng đế Việt-nam buộc phải công nhận quyền cai trị của Pháp trên Nam kỳ và bãi bỏ sắc lệnh cấm đạo Công giáo như ghi trong điều khoản thứ nhất, đế quốc An-nam sẽ cho các giáo sĩ Pháp và Tây Ban Nha tự do vào xứ để truyền bá giáo lý và dân địa phương được tự do theo đạo Cơ-Đốc.

Tuy nhiên, sự tự do tín ngưỡng nầy người Công giáo sống tại miền Trung và Bắc Việt-nam không được hưởng vì họ cũng đã bị các nhà ái quốc, chính quyền đặt ra ngoài vòng pháp luật - như Đảng Văn Thân đã công bố cách không hòa giải rằng: "Người Công giáo đang bán nước cho những tên xâm lược Pháp. Một khi bọn gián điệp nầy bị loại trừ, người Pháp chẳng còn ai ủng hộ và sẽ bị tiêu diệt." Những cơn đại nạn của họ không ngừng mãi cho đến năm 1834 khi Hòa ước Paternôte bắt buộc trên người Việt-nam bởi người Pháp đã chiếm xong Bắc kỳ và phần lớn Trung kỳ. Theo Hòa ước nầy, Bắc kỳ, Trung kỳ thuộc quyền bảo hộ của người Pháp, và tự do tín ngưỡng được bảo đảm cho người Công giáo bởi Hiệp Ước Giáp Tuất (1874) lại được tái quyết và thực thi. Giáo hội Công giáo Lamã không bao giờ mất 'sự tự do truyền bá Cơ-Đốc giáo' trong thời Pháp thuộc, và không tiết chế cố gắng rao giảng cho toàn xứ. Cuối năm 1932, Việt-nam đã có 32 giáo phận, đứng đầu bởi các giám mục ngoại quốc. Vị giám mục Việt-nam đầu tiên là Monseigneur Nguyễn Bá Tòng được thụ phong năm 1933. Đây quả là niên hiệu lịch sử cho hàng giáo phẩm Việt-nam đã từ lâu phàn nàn rằng sự lãnh đạo giáo hội là trong tay người ngoại quốc, và rằng gần bốn thế kỷ không thấy cố gắng nào đáng kể từ phía các giáo sĩ châu Âu huấn luyện những lãnh đạo bản xứ và tổ chức hàng giáo phẩm thổ dân, đúng theo chính sách của các sứ đồ trong thế kỷ thứ I. Phải mất 27 năm trôi qua trước khi một biến cố quan trọng xảy ra: Vào năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII thiết lập ba tòa tổng giám mục và một hệ thống Việt-nam đầy đủ cho giáo hội Công giáo tại Việt-nam được thiết lập. Những tòa tổng giám mục nầy là Tòa Tổng Giám mục ở Hà-nội với 6 giáo phận, đứng đầu là Tổng Giám mục Trịnh Như Khuê, Tòa Tổng Giám mục Huế với ba giáo phận, đứng đầu là Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, Tòa Tổng Giám mục Saigon với 5 giáo phận, đứng đầu là Tổng Giám mục Nguyễn văn Bình. Trong số 16 giám mục chỉ định cho các giáo phận nầy bởi sắc lệnh của Giáo hoàng có 14 người Việt.

Ngày nay, Giáo hội Công giáo Việt-nam chắc chắn là đoàn thể tôn giáo có tổ chức tốt nhất tại Việt-nam. Với số 1.454.842 tín đồ ở miền Nam và 833.468 ở miền Bắc, cấu thành một trong những cộng đồng lớn nhất và thế lực nhất trong xã hội Việt-nam. Cộng thêm với sự truyền bá đức tin Cơ-Đốc và sự huấn luyện một đoàn dẫn đạo chỉ huy bản xứ mạnh mẽ, giáo hội Công giáo Lamã cùng với những cố gắng liên minh của 24 dòng tu, đã xây dựng một hệ thống giáo dục và một công trình xã hội lớn lao, hiệu quả. Điều nầy đã đóng góp phần lớn vào sự dẫn đưa hàng ngàn người Việt-nam mỗi năm đến với đức tin và kết quả là gieo một ảnh hưởng mạnh mẽ giữa giai cấp trí thức vậy.

CAO ĐÀI GIÁO

Cao Đài là một trong các tôn giáo mới nhất tại Việt-nam. Cao Đài là một giáo phái Phật giáo cải cách theo kiểu mẫu tự chế. Những đặc trưng của Cao Đài nhận thấy giáo phái ấy như là một tôn giáo hầu như hoàn toàn chiết trung và đồng thời là tôn giáo có màu sắc bản xứ nhất trong xứ.

NGƯỜI SÁNG LẬP: Không giống các giáo chủ của tôn giáo khác, Ngô văn Chiêu, đã khởi sự phong trào Cao Đài năm 1921, chẳng bao giờ trở nên đầu trưởng tối cao của tôn giáo mình. Ông chủ trương thay vì Cao Đài (Tháp Cao hoặc Đấng Tối Cao) đã ban cho ông một khải thị đặc biệt thì chính Cao Đài là Đấng Sáng lập tôn giáo mới. Vốn là một nhà chức trách của chính quyền, Ngô văn Chiêu được chỉ định làm đại diện hành chính tại đảo Phú Quốc ở Nam Việt-nam năm 1920. Sử dụng một giỏ có mỏ tương đương với bảng ouija, Chiêu giao thông với các thần linh trên đỉnh núi Dương Đông trong đảo lớn nhất bằng cách đánh đồng thiếp. Một trong các thần linh đã tỏ mình cho Chiêu, mà người ta tin rằng đó là Ngọc Hoàng Thượng đế và Đức Chúa Trời Chí Cao, trước hết truyền cho ông ăn chay trong 10 ngày, sau đó tiếp tục ăn chay trường trong 3 năm. Chiêu khởi sự ăn chay trường ngày 8.3.1921. Trong hai trường hợp kế tiếp nhau, Cao Đài hiện ra cho Chiêu với hình 'con mắt lớn' rất linh động sáng láng như mặt trời mà ánh sáng thấm nhập cả vũ trụ, và dạy người phải thờ lạy Thiên Nhãn như biểu tượng riêng của Cao Đài. Ngày 30.7.1924, Chiêu được đưa về Sàigòn bởi chính phủ Pháp vì đã cương quyết từ chối, không chịu xét xử các trường hợp đã đệ trình lên thẩm quyền của ông mà thay vào đó chỉ khuyên hai bên nguyên cáo và bị cáo nên sống chung với nhau cách hòa bình.

Qua những đồng cốt linh thiêng sử dụng chiếc bàn quay, Cao Đài trong buổi họp về chiêu hồn thuật tỏ mình cho một nhóm công chức tại Sàigòn, gồm có Phạm Công Tắc, Cao Huỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Cao Huỳnh Điểu, Trương Hữu Đức và Nguyễn Trung Hậu rằng Ngài đã lấy danh hiệu Cao Đài để lập một tôn giáo mới ở miền Nam. Nhóm nầy cũng thiết lập sự cảm thông đều đặn với Lý Thái Bạch, một hiền triết Trung hoa của thời cổ, người đã xúi giục cuộc phấn hưng văn chương dưới đời nhà Đường (713-742 SCN). Lê văn Trung, một thầu khoán và nghị viên của Hội Đồng Tư Vấn của chính quyền Nam kỳ đã được Lý Thái Bạch thuyết phục trong buổi chiêu hồn khác để gánh vác công tác truyền giáo chung với nhóm Phạm Công Tắc. Cao Đài cũng hướng dẫn Trung, Tắc, Cư, được giáo dục thêm về cách thức thờ phượng Thiên Nhãn và những luật lệ ăn chay từ 'người anh cả' của họ là Ngô văn Chiêu. Trong một buổi họp chiêu hồn khác, Ngài chỉ định Trung đứng đầu một tôn giáo tổ chức lại cách mới. Kết quả là từ năm 1926 đến khi ông chết Lê văn Trung được gọi là Giáo Tông của Cao Đài cai trị giáo hội đang phát triển từ Tòa thánh Tây Ninh.

GIÁO LÝ:  Chính Đức Chúa Trời cao cả đã lựa chọn tên để tự chỉ chính mình: Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-ha-tát, mô tả cách hỗn dung của Cao Đài giáo. Những chữ Cao Đài (tháp cao) đến từ Khổng giáo, trong khi Tiên Ông (Đấng Bất Diệt) và Đại Bồ Tát đến từ Phật giáo và Đạo giáo.

Cao Đài cũng là Đấng tối cao đã khởi sự các tôn giáo lớn của nhân loại. Tiếp hợp với sự dạy dỗ của Ngài với sự tiến bộ của loài người, Ngài chọn tự tỏ chính mình lần nầy bằng 'đồng cốt' vì không muốn cho người hay chất nào được đặc ân lập một tôn giáo mới. Lý do cho sự bày tỏ mới nầy của Đấng Chí Cao là 'mọi tôn giáo nào đệ trình cho quyền bính của một người sáng lập là chống với tánh đại đồng, vì các tiên tri nổi lên chống lại những lẽ thật công bố bởi các tôn giáo khác đối với những giáo phái ấy, họ tỏ ra sự bất dung rõ ràng.' Bởi vậy tôn giáo mới được gọi là Đại Đạo Tam kỳ Phổ Độ, theo nghĩa căn từ là 'Tôn giáo lớn của ba thời kỳ bày tỏ sự thương xót thiên thượng.' Theo Cao Đài giáo, có ba sự bày tỏ lớn lao trong lịch sử nhân loại: Thời kỳ thứ nhất được gọi là Nhất thiết Long hoa Thiên Khai tị hợi, được đánh dấu bởi sự xuất hiện của ba bậc thánh: Nhiên Đăng Cổ Phật, Thái Thượng Lão Quân (tin là tiền thân của Lão Tử) và Phục Hy (vua lớn của Trung quốc trong truyền khẩu của Khổng giáo). Trong thời kỳ thứ hai, cũng được gọi là Nhị Thiết Long Hoa Thiên Khai sửu hợi, những tôn giáo lớn được thiết lập bởi Lão Từ, Khổng Phu Tử, Thích Ca Mâu Ni và Jêsus Christ. Trong thời kỳ thứ ba, Đức Chúa Trời Chí Cao hay Ngọc Hoàng Thượng đế đã quyết định tỏ chính Ngài cho Ngô văn Chiêu và những kẻ theo người, hầu thống nhất các tôn giáo thành một đoàn thể 'vì con người đã tới điểm mà sự hòa đồng các tôn giáo là cần thiết cho sự tiến bộ của loài người.' Kết cuộc là Cao Đài giáo nhấn mạnh về sự hòa hiệp bốn tôn giáo lớn và gồm trong giáo lý mình những giáo lý của Đức Khổng là 'Tam Cương Ngũ Thường' và Đạo Trung Dung, v.v… Các quan điểm của Phật giáo về Kiết-na, Dukka của thực tại, Bát Chính Đạo, đường lối của Lão giáo về 'sự hoàn thiện tâm hồn và thể xác', và 'hoàn hảo tính tình' cuối cùng các sự dạy dỗ Cơ-Đốc về 'tình yêu thương, dung thứ, đức tin và khiêm nhường.' Nhưng không giống ba tôn giáo cổ, Cao Đài giáo công nhận sự thực tại của một Chúa Cao Cả của vũ trụ, Đấng Duy nhất, Đấng Tạo Hóa của mọi sinh mạng. Ngài được mô tả như Đấng Vô Sở Bất Tri, Đấng Vô Sở Bất Tại, Đấng Vô Sở Bất Năng, ở khắp vũ trụ, hoàn toàn nhân lành, giàu lòng thương xót… vô hình, không mùi vị, không tiếng động và đời đời, goị là Trời. Ngài có nhiều tên, Ngài là Cao Đài của thời kỳ thứ ba tự bày tỏ lòng thương xót thiên thượng, nhưng Ngài là Ngọc Hoàng Thượng đế hoặc Vua Thánh Cao Cả của người Trung hoa, Đức Chúa Trời hoặc là Cha của Cơ-Đốc giáo… Cao Đài cũng phân biệt ba phạm trù của những sinh mạng vô hình và thiêng liêng. Có các thần linh cao đẳng gồm: Đức Phật, các Đấng Bất Tử và các thánh. Các thần linh trung đẳng gồm có các vị thần nhân lành, các thần linh hạ đẳng gồm các quỉ và ma quái. Mỗi người tự mình là sự hiệp nhất của những yếu tố thuộc linh và thuộc thể, có thể đi qua mọi giai đoạn nầy của tiến hóa để đạt đến trọn thành. Người ấy có thể trở nên, qua ý chí và hành động, một bậc thánh hoặc ma quỉ, sau khi người đã đi trọn chu kỳ thực tại của mình (sự đầu thai là một quan điểm cơ bản của sự dạy dỗ đạo đức của Cao Đài).

Sự thờ cúng tổ tiên được coi là phương tiện để cụ thể hóa sự liên hệ các thuộc viên cùng một gia đình và cũng là phương pháp để giúp đỡ mỗi cá nhân làm trọn đạo hiếu là công đức quan trọng nhất. Tuy nhiên, sự thờ cúng tổ tiên phải giữ cách đơn sơ và chẳng bao giờ trở nên một cớ cho các lễ nghi xa hoa phung phí. Người Cao Đài chủ trương rằng Đức Chúa Trời tối cao tiếp tục phán bảo loài người trong những buổi họp chiêu hồn thuật qua những đồng cốt linh thiêng dùng một giỏ có mỏ đặc biệt để cập nhật hóa sự khải thị của Ngài. Khi nào cái giỏ có mỏ đặc biệt được giữ bởi hai chức sắc của Hiệp Thiên đài ở Tây ninh, Thần linh khiến cho cái mỏ di chuyển trên vần chữ cái ghi trên một tấm bảng để đọc chậm ra sứ điệp của Ngài. Về đền tiên hiền của các thần và vị bất tử là những vị luôn giáo tiếp với các lãnh tụ Cao Đài, các bậc xuất chúng là Lý Thái Bạch, Quan Âm, Quan đế, Victor Hugo, Jean d'Arc, Descartes, những lãnh tụ chiêu hồn học cận kim như Allen Kardec, Leon Denis… Huệ Lương, một trước giả Cao Đài cũng phân biệt ở giữa các phương diện bí mật và công khai của giáo lý Cao Đài.

Sự bí truyền gồm có những sự dạy dỗ bí mật được truyền đạt không phải bằng chữ viết bèn là sự khải thị bằng miệng tới miệng, gọi là 'khoa luyện kim thiên thượng, nó nhắm vào sự biến hình cuối cùng của người đã được truyền bí quyết đã trở nên quan trọng trong sự thoát xác ý thức của người.' Giáo phái Chiêu Minh Vô Vi là Ngô văn Chiêu lập ở tỉnh Cần thơ sau khi người rút lui khỏi quyền lãnh đạo tích cực của giáo hội Cao Đài đầu tiên chính là bí truyền đó. Mặt khác, sự công truyền của tôn giáo kêu gọi đa số quần chúng đã tin, nó gồm lại một hệ thống lễ nghi kết hợp những nghi thức của ba tôn giáo lớn ở Đông phương và Cơ-Đốc giáo. Nó được đem áp dụng vào đời sống hằng ngày của tín hữu Cao Đài. Người Cao Đài phải kiên định tìm kiếm sự trọn  lành đạo đức và linh thiêng, sự tấn bộ trên đường trước khi có thể được phép nhận vào trong đoàn người được truyền bí quyết. Trong thời kỳ đạt tới sự tinh luyện đạo đức nầy, người phải làm nghĩa vụ mình trong gia đình và xã hội, người phải giữ điều răn: ngươi chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ ăn thịt và uống rượu, chớ tà dâm và cuối cùng chớ nói dối. Ngươi cũng phải nhịn ăn 2, 6, 10 ngày hay một tháng, tùy theo sự lớn lên trong đức tin, ngươi phải thờ độc nhãn, vì Logos đầu tiên là Đấng mà những tia sáng giác ngộ được tỏa sáng suốt cả vũ trụ.

TỔ CHỨC: Thánh thất Trung Ương của Cao Đài ở Tây Ninh, thành phố của Đức Hộ Pháp gồm có ba cung điện, mỗi cung điện đều có chức phận riêng, cấu thành họa đồ của kiến trúc thánh thất. Hiệp Thiên đài hoặc cung điện của Liên Minh thiên thượng là chỗ mà buổi họp chiêu hồn xảy ra. Đài nầy cung cấp sự truyền thông liên tục giữa Đấng Tối Cao và các thánh Ngài với loài người. Đài tượng trưng "quyền năng kiểm soát trong kiến trúc thánh thất." Cửu Trùng Đài, là cung điện của 9 bệ, đại diện cho quyền hành pháp của giáo hội. 9 cấp của nền thứ nhất chỉ 9 cấp bậc của hệ thống tế lễ đứng đầu là Giáo Tông (Đức Thánh Cha Hộ Pháp). Dưới quyền chỉ huy của Ngài có ba chưởng pháp ba đầu sư, 36 phối sư, 72 giáo sư, 3.000 giáo hữu, hàng vạn lễ sinh, và hàng vạn chánh phó trị sự, hàng triệu giáo dân cả nam lẫn nữ. Các chức sắc của Cửu Trùng Đài được chia làm ba bang: Bang Phật giáo mặc áo vàng, tượng trưng ý niệm, tư tưởng. Bang Lão giáo mặc áo xanh tượng trưng tình cảm. Bang Khổng giáo mặc áo đỏ tượng trưng trí khôn. Đài thứ ba gọi là Bát Quái Đài, là cung điện bát giác gồm có "bàn thờ thầy" cung hiến Đức Chúa Cha, Khổng Phu Tử, Thích Ca Mâu Ni, Lão Tử và Jesus Christ. Những vật dâng trên bàn thờ nầy gồm hoa, rượu trắng, và trà tượng trưng tương đối tính dịch vũ trụ, hơi thở và nguyên lý thông minh (trí tuệ). Những chức viên Bát Quái đài giữ quyền lập pháp vì họ có thể bỏ phiếu về luật pháp để chuyển qua Hội đồng chung của giáo hội Cao Đài, cộng thêm với những điều luật do Cao Đài và các thánh trong các buổi họp chiêu hồn truyền đạt cho Hiệp Thiên đài.

SỰ PHÁT TRIỂN: Vì kêu gọi dân chúng được hướng dẫn về tâm linh thuyết tại Nam bộ Việt-nam, đức tin Cao Đài giáo truyền bá rất mau trong miền châu thổ sông Cửu Long và tiến bộ đáng kể tại các tỉnh miền Trung, dầu trong một thời gian ngắn chính quyền hoàng gia cấm truyền bá trong lãnh địa ấy, rõ ràng là vì cớ có tương quan đến Hoàng thân Cường Để, một vị lãnh tụ chính trị mang dòng máu hoàng tộc lưu vong tại Nhật bản. Giáo hội Cao Đài cũng gửi các giáo sĩ sang Kampuchia, Lào, kể cả Pháp nữa. Một giáo hội mạnh mẽ được thành lập tại Kamphuchia giũa vòng người Việt di cư. Năm 1940, Cao Đài đã bành trướng mạnh mẽ về nhân số cũng như về địa lý và trở nên một tôn giáo lớn tại Nam kỳ. Với một số lớn giáo dân, các thủ lãnh đã tổ chức giáo hội thành những cơ cấu phức tạp giống như giáo hội Công giáo Lamã với sự nhấn mạnh phải cứu giúp người nghèo. Tuy thế sự bành trướng mau lẹ nầy đã bị làm hư xấu đi bởi sự chia rẽ nội bộ, giữa vòng hệ thống đầu não, từ lãnh tụ nầy đến lãnh tụ khác từ bỏ giáo hội với một số lớn tín đồ để lập giáo phái riêng. Nhưng sự chia rẽ nầy kết quả thành 11 giáo phái, mà 8 giáo phái tồn tại sau cuộc bắt bớ tôn giáo và chính trị cùng những sự tranh đấu nội bộ ở giáo phái ấy là :

  1. Chiêu Minh Vô Vi phái, tổ chức bởi Ngô văn Chiêu, lìa giáo hội năm 1926 để thiết lập tại Cần thơ.
  2. Minh Chân Lý phái: lãnh đạo bởi Nguyễn Hảo Ca với giáo tông ở Mỹ tho.
  3. Tiên Thiên phái: thiết lập bởi Nguyễn Hữu Chính với thất thánh thấ hiền của người tại Cai Lậy, Sóc Sãi và Bến Tre.
  4. Bán CHính Đạo phái: lập bởi Nguyễn Ngọc Tường, một Hộ pháp lâm thời, ở Bến Tre.
  5. Minh Chơn Đạo phái: thiết lập tại Bạc Liêu.
  6. Bạch Liên Đoàn phái: thịnh hành tại tỉnh Tây Ninh
  7. Chân Tâm Nguyên phái: nhỏ nhất và cũng khác biệt nhất về giáo lý của Cao Đài, tập trung tại Tân An.
  8. Giáo hội Trung Ương Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: dưới quyền lãnh đạo của Hộ Pháp Phạm Công Tắc tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Hội thánh Truyền giáo Cao Đài là một cánh tay truyền giáo thành công nhất của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại miền Trung Việt-nam, trụ sở đặt tại Trung Hưng Bửu Tự, một thánh thất lớn ở Đà-nẵng. Cao Đài thường quả quyết rằng mình có 2 triệu tín hữu. Mặc dầu có sư chia rẽ bên trong, và thỉnh thoảng thất bại trong cuộc phiêu lưu chính trị và quân sự, nhất là dưới quyền cai trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Cao Đài vẫn là lực lượng tôn giáo lớn nhất đáng kể đối với bất cứ chế độ nào ở miền Nam Việt-nam.

Nói chung, các giáo sĩ đầu tiên của Tin Lành tại Việt-nam đã tìm thấy một dân tộc sâu nhiệm về đạo giáo luôn luôn khát vọng học hỏi những quan điểm nói về siêu hình học và luân lý học để đương đầu với những xã hội biến chuyển mau chóng của thời đại. Sự mở tâm trí tương đối nầy đã khiến sự gặp gỡ giữa các đại diện tôn giáo của hầu hết các đức tin được êm ái va kết quả ít hay nhiều, nhất là trong 20 năm đầu Tin Lành có mặt trong xứ.

[1] Thích mật Thể, Việt-nam Phật giáo Sử Lược (Huế, Phật học viện Trung phần, 1960, t. 63). Đào Duy Anh, SĐD t. 213.
[2] Lê Thành Khôi, Le Vietnam Historic et Civilisation (Paris, Les Edition de Minuit, 1955, t.128)
[3] Phạm Quỳnh, Phật giáo Đại quan (Hà-nội, Nam Phong Tùng thư, 1931, t.49). Albert Schweitzer, Tư Tưởng Ấn độ và Sự Khai Triển của nó (Beacon Press, 936, t.96)
[4] Albert Scheitzer, SĐD , t. 99-100
[5] Minh Chơn Đạo Phái, thiết lập tại Bạc liêu.
[6] Phan Khoang, SĐD, t.79
[7] Cha Phan Phát Hường, Việt-nam Giáo Sử tập I (Saigon Cứu Thế Tùng thư, t.35)
[8] Cha Phan Phát Hường, Việt-nam Giáo Sử, tập I (Saigon Cứu Thế Tùng Thư, 1962, t.35)
[9] Nguyễn Hữu Trung, Les Origines du Clerge Vietnamien (Saigon, Tịnh Việt 1959, t.68).

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by