You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương IV)

LICH SỬ HT/VN (Chương IV)


By admin - Posted on 10 March 2009

Chương IV

ĐỨC TIN TIN LÀNH DU NHẬP
Công việc của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp
Từ năm 1911 - 1927

Trái với điều mọi người tin, các giáo sĩ Công Giáo Lamã không phải là những đại diện đầu tiên của Cơ-Đốc giáo vào Việt-nam. Các giáo sĩ của Nestorien đã thăm viếng nước Việt-nam cổ trên đường sang Trung hoa, trước khi mãn thế kỷ thứ X[1]. Theo Sử Địa của Earisi, Loukin (Kinh thành Lou có lẽ là Hoa Lư, kinh đô nước Việt-nam vào thế kỷ thứ 10) đã được thăm bởi Nedjran trong hành trình truyền giáo sang Trung hoa năm 980[2]. Tuy nhiên không có dấu hiệu chỉ rằng những giáo sĩ Nestorien đã hoàn thành công trình đáng kể nào tại Việt-nam.

Trong đời Hoàng đế Lê Anh Tông (1557-1573), một thập tự giá rất cổ được tìm thấy trong bức tường trong quá trình vẽ lại kiểu mấy ngôi đền thờ cổ. Theo báo cáo, sự khám phá nầy đã gây một ấn tượng trên vị quân vương đến nỗi người hạ lịnh tiếp nhận các giáo sĩ Công Giáo Lamã, tạm thời bãi bỏ lệnh cấm đạo áp đặt năm 1553 bởi Lê Trang Tông vào lúc mà hầu hết các xứ Đông Nam Á lánh mặt họ. Dầu người Công Giáo Lamã khởi sự công việc của họ tại Việt-nam vào thế kỷ thứ XVI và thành công trong việc xây dựng một giáo hội mạnh trong thế kỷ XVIII, chẳng có nhà lãnh đạo Tin Lành nào chú ý đến xứ nầy, ngay cả trong thế kỷ thứ XIX, thường được gọi là 'thế kỷ quan trọng của các Hôi Truyền giáo Tin Lành.'

George Bois, trong sách không xuất bản của ông về các Hội Truyền giáo Tin Lành tại Đông Dương, báo cáo rằng tùy theo những điều chung đoán của Jacques Pannier trong cuốn khảo cứu cấp tốc tại Thư viện Quốc gia ở Hà-nội, có vài giáo sĩ Tin Lành đã đến Đông Dương vào thế kỷ thứ XVII. Một số người Tin Lành từ miền Picardic (miền Bắc Pháp) đã vào phục dịch trong Công ty Hòa Lan và Đông Âu như những thương gia, ủy viên, chủ tàu và thủy thủ, binh sĩ và sĩ quan. Charles Martsingh, một thương gia và nhà ngoại giao của nhóm nầy đã thiết lập sự định cư đầu tiên của Công ty trong vùng châu thổ sông Hồng (Bắc kỳ). Năm 1794, J. H. Chaigeaux, một sĩ quan hải quân Tin Lành cùng với các sĩ quan và kỹ thuật gia Pháp khác, đã gia nhập các lực lượng bao vây của Gia-Long trong cuộc nội chiến khốc hại nhất tại Việt-nam, và trong 29 năm đã giúp người tái thống nhất xứ sở và củng cố triều đại nhà Nguyễn. Sau ba năm về nghỉ hạn ở Pháp, Chaigeaux trở lại Việt-nam vào năm 1821 như vị lãnh sự và đại biểu của chính phủ Pháp, nhưng nhất định phải rời khỏi xứ năm 1821, hỏng việc bởi chính sách của Minh Mạng đối với nước Pháp. Tuy nhiên, ông thành công trong việc giúp 4 giáo sĩ Công Giáo Lamã bí mật đổ bộ lên miền duyên hải Nam Việt-nam. Sau cuộc chinh phục Việt-nam bởi quân đội Pháp vào cuối thế kỷ thứ XIX, một số tuyên úy Tin Lành đã đến xứ nầy phục vụ thời gian ngắn trong các đơn vị khác nhau, đặc biệt là đạo quân lê dương ngoại bang.

Năm 1884, Hội truyền giáo Tin Lành ở các thuộc địa của Pháp gửi vị mục sư đầu tiên đến thành phố cảng Hải Phòng để tổ chức một Hội thánh cho 'các tín hữu Tin Lành Âu châu' cả dân chính lẫn quân nhân. Có hai Hội thánh khác đã được thiết lập sau đó ở Hà-nội và Sàigòn (1902). Dưới sự lãnh đạo đắc lực của Adolphe de Richmond, Jacques Pannier, D. de Saint André, T. Calas, C. D. Goekler… các Hội thánh nầy được hưng thịnh cho đến ngày 9.3.1945, khi đạo quân Nhật bản lật đổ chính thể chung của Đông Dương, loại bỏ chính quyền Pháp và câu lưu tất cả những người có quốc tịch Pháp. Tuy nhiên, những thật sự trên có rất ít hoặc chẳng có ảnh hưởng gì đến lịch sử truyền giảng đức tin Tin Lành cho người Việt-nam. Dù đã ở Việt-nam lâu, Chaigeaux chẳng bao giờ được công nhận là người Tin Lành, ông chỉ phục vụ quyền lợi của Gia Long và của Pháp. Sự có mặt của những tuyên úy và mục sư dân chính trước thập niên 1920, người Việt-nam chẳng hề biết đến. Bị bắt buộc làm việc túi bụi bởi những đòi hỏi của giáo dân Âu châu, họ chẳng có thời gian đảm trách công việc truyền giáo giữa người Việt-nam. Vì thời gian phục vụ của họ tương đối ngắn, họ không thể học thấu đáo tiếng Việt cũng chẳng thể giao thiệp cách có ý nghĩa với người dân bản xứ. Ngay cả người Việt-nam nói tiếng Pháp cũng không được thu hút vào trong nhà thờ họ, có lẽ chỉ có một trường hợp ngoại lệ. George Bois chỉ ghi nhận có một người trở lại đạo trước năm 1911, ấy là Trung sĩ Dương, nhưng không nói rõ ông Dương đã nghe Tin Lành ở Việt-nam hay ở Pháp. Cũng rất thích thú mà ghi nhận rằng một số báo định kỳ đặc biệt 'Đức tin và Đời sống' (do Hội thánh Tin Lành tại Pháp xuất bản tháng 11.1906) mô tả những nhu cầu của Đông Dương, một tiếng gọi hùng biện được gửi đến các tín hữu Tin Lành Pháp vì các dân tộc Đông Dương. Mục sư Adolphe de Richmond, tác giả của bài báo hiện hộ cho ba nguyên tắc truyền giáo, một vài điều có vẻ mới lạ trong thời kỳ đó vì dân tộc (Việt-nam) nầy đã được 'văn minh hóa trong vòng 15 thế kỷ' rất cần người có văn hóa cao để gánh vác công cuộc truyền giáo, họ phải cẩn thận lựa chọn địa điểm truyền giáo để tránh tranh chấp với công trình của Công Giáo Lamã, họ phải giữ mình đừng biến những người đến hỏi đạo 'thành người Tin Lành' nhưng thà hơn là gắng sức 'biến cải tâm hồn họ' chớ đừng thay đổi 'nhãn hiệu tôn giáo. 'của họ'. Dầu tín hữu Pháp chậm đáp ứng với lời kêu gọi nầy và không đóng góp tích cực vào cố gắng truyền giáo tại Việt-nam cho đến thời kỳ sau có hai tổ chức từ Anh quốc và Mỹ quốc chuẩn bị vào trong công trường truyền giáo nầy (mà chưa ai đặt chân đến) 'Thánh Thơ Công Hội' (Anh quốc và Hải ngoại) và Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp.

THÁNH THƠ CÔNG HỘI: Sau một cố gắng không thành để khởi sự công việc phiên dịch tại Sàigòn, Thánh Thơ Công Hội gửi ông Bonnet đến Đà-nẵng (Tourane) năm 1902. Ông nầy mua một miếng đất của ông Nguyễn văn Phúc, tọa lạc ở giữa nhà ga xe lửa trung tâm thành phố và kho đạn[3]. Một trung tâm nhỏ được thiết lập và từ đó Bonnet phải có ít nhất ba nhân viên bán sách dạo (An, Lộ, và Yên) đi bán và phân phát Tân Ước và các phần sách Tin Lành bằng Hán văn trong tỉnh Quảng nam, nhưng không có kết quả tức khắc và cũng không có công tác thường xuyên được tán trợ trước năm 1911. Tuy nhiên Thánh Thơ Công Hội nầy đã siêng năng theo đuổi mục tiêu và vào giữa thập niên 1920, đã trở thành đại lý lớn nhất ở Việt-nam để truyền bá sứ điệp Cơ-Đốc càng nhiều bằng những trang sách in.

HỘI TRUYỀN GIÁO PHƯỚC ÂM LIÊN HIỆP: Ấy là một mục sư và lãnh tụ truyền giáo Gia-nã-đại đã gây niềm hứng khởi cho các tín hữu sống ở Bắc Mỹ, phát động một chương trình có hệ thống để đem sứ điệp Tin Lành đến Việt-nam. Trên cơ sở thường xuyên. Hội Đoàn được thiết lập năm 1889 và Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đã sai các giáo sĩ đầu tiên đến trong các xứ năm 1911.

NGƯỜI SÁNG LẬP: Albert B. Simpson, người sáng lập Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp, sanh ngày 15 tháng 12 năm 1843 tại Bayvier, đảo Prince Edward, Gia-nã-đại[4]. Năm 21 tuổi, A.B. Simpson tốt nghiệp trường Đại học Knox ở Toronto, trở nên mục sư của Hội Trưởng Lão Knox tại Hamilton, Ontario[5]. Mục sư trẻ tuổi nầy chẳng bao lâu đạt tới sự siêu quần vì tài hùng biện và lòng sốt sắng truyền giáo, đến nỗi năm 1873, ông đảm nhiệm Hội nghị Hội Trưởng Lão miền Bắc tại Louisville, Kentucky. Thất bại trong cố gắng hàn gắn sự rạn nứt giữa các phe cánh của các giáo phái lớn trong thành phố, Simpson phát động công tác truyền giảng để tới quần chúng ở ngoài cộng đồng giáo hội có tổ chức. Chính tại Louisville, Kentucky mà ông có ý định đi qua Trung hoa giảng Tin Lành, nhưng phải bỏ dự án đó vì vợ ông không chịu cộng tác. Đáp lại lời mời của Hội Trưởng Lão ở phố 13 thành phố Nữu Ước, Simpson khởi sự năm 1879 một chức vụ hiến cho ông dịp tiện duy nhất chẳng những chỉ tới đến 'quần chúng chưa nhập giáo hội' tại khu vực lớn nhất của Bắc Mỹ, nhưng cũng khởi sự từ điểm trung tâm chiến lược nầy, một chương trình truyền giáo đã phóng ông lên địa vị chỉ huy một trong những phong trào truyền giáo quan trọng nhất của Bắc Mỹ vào thế kỷ 20. Ông khởi sự với sự xuất bản 'Tin Lành trong mọi xứ', tập san định kỳ có tranh ảnh đầu tiên của công việc truyền giáo tại Bắc Mỹ. Nhưng khải tượng truyền giáo và những cố gắng giảng Tin Lành của vị mục sư trẻ nầy ở giữa quần chúng chẳng bao lâu thấy lạc điệu với các truyền thống của 'một qui ước giáo khu đối với người Cơ-Đốc đáng kính.' Sau hai năm tại Nữu Ước, Simpson đệ đơn xin từ chức và yêu cầu Hội thánh cùng Ban Trưởng Lão tại Nữu Ước cho ông được nghỉ việc để giảng Tin Lành cho quần chúng.

SỰ TỔ CHỨC: Simpson quyết định phát khởi tổ chức riêng. Tuy nhiên, ông không có ý khởi sự một giáo phái mới, một điểm ông kiên quyết nhấn mạnh cho đến mãn đời ông. Ông chỉ tổ chức một đoàn thể, 'một hội xã' như về sau được biết, liên kết chặt chẽ các mục sư và Cơ-Đốc nhân từ các giáo phái khác nhau, giống như ông, và đặc biệt hoạt động trong việc giảng Tin Lành cho những 'đám quần chúng bị lãng quên' và những người ở khắp thế gian xa xôi, chưa ai tới thăm. Ông được một nhóm người Cơ-Đốc hăng hái ủng hộ, ở tại Old Orchard Beach tại Maine tiếp tay với ông để thành lập năm 1887, Hội Liên Hiệp Truyền giáo Tin Lành. Hội Truyền giáo mới được qui nhập tại Nữu Ước ngày 2.11.1889 dưới danh hiệu là 'Liên Hiệp Giáo Sĩ Quốc Tế'. Được tổ chức có phương pháp theo 4 nguyên lý căn bản hồi tưởng lại các giáo lý của Hudson Taylor khi ông thành lập Hội Truyền giáo Nội Địa tại Trung hoa năm 1865, hiến chương của Hội ước định các điều kiện như sau:

   1. Hội nhắm trước tiên đến các công trường truyền giáo bị lãng quên khắp thế gian.
   2. Cả tín đồ thế tục và hàng giáo phẩm của các giáo phái Tin Lành đều sẽ được phái đi miễn là họ hội đủ vài tiêu chuẩn.
   3. Các giáo sĩ phải 'tin cậy Đức Chúa Trời chu cấp mọi nhu cần qua những số tiền lạc hiến của giáo dân Cơ-Đốc' và phải sống cách tiết kiệm tại các công trường truyền giáo mà không được bảo đảm một số lương nhất định.
   4. Mục đích của Hội Truyền giáo là nuôi dưỡng một 'Hội thánh bản xứ' trong mỗi công trường truyền giáo và cho họ có tự do 'tổ chức và quản trị công việc tùy theo sự lựa chọn miễn là phương pháp ấy phù hợp với Kinh Thánh trong các đặc thù cốt yếu.

Một nguyên lý khác về sau được thêm vào nhấn mạnh phạm vi quốc tế của tổ chức. Nguyên lý ấy chẳng những thâu nhận nhân viên từ các xứ ngoài Gia-nã-đại và Mỹ quốc, nhưng cũng khuyến khích các giáo dân Tin Lành ở trong các xứ nầy tổ chức ‘liên minh truyền giáo’ riêng để sai phái các giáo sĩ, và đồng công cộng tác với các nhóm liên hiệp quốc tế khác như một đoàn thể.

Năm 1880, một tổ chức anh em đã được qui nhập tại Nữu Ước dưới danh hiệu Hội Liên Hiệp Cơ-Đốc bởi cũng những người sáng lập Hội Liên Hiệp Truyền giáo quốc tế để ủng hộ hội nầy trong công trình truyền giảng toàn cầu, và cũng để khuyến giục một đời sống Cơ-Đốc sâu nhiệm, cao hơn, cùng cộng tác để giảng Tin Lành đặc biệt là ở những giai cấp bị bỏ quên bởi các hội truyền giáo trên đường công cộng và các phương pháp thực tiễn khác. Hai tổ chức anh em hợp nhau làm một ngày 2.4.1897 để thành lập Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp.

Cộng thêm với A. B. Simpson, ban dẫn đạo đầu tiên của Hiệp Hội gồm những người thuộc giáo phái Thánh Công Hội (Episcopal), Trưởng lão, Giám lý, Báp-tít, Menonite, cộng tác mật thiết với Simpson mà không từ bỏ giáo phái riêng của họ.

CHÍNH SÁCH TRUYỀN GIÁO: Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp từ ngày khởi sự nhấn mạnh sự quan trọng của chính sách 'Hội thánh bản xứ'. Người ta có thể lưu ý Hội thánh bản xứ trước hết được dẫn nhập vào thế giới truyền giáo Tin Lành bởi một giáo sĩ Hội Anh quốc giáo và một lãnh tụ tôn giáo Mỹ. Henry Venn, thuộc Hội Truyền giáo (Anh quốc giáo) năm 1851 đã viết về mục đích tối hậu của Hội Truyền giáo Cơ-Đốc là 'thiết lập một Hội thánh bản xứ … trên một hệ thống tự dưỡng.' Rufus Anderson, Bí thư của Ủy ban Các Ủy viên Mỹ cho các Hội Truyền giáo Hải ngoại từ năm 1832-1866 đã bài xích tập tục cho các giáo sĩ định cư vĩnh viễn ở một nơi để trở nên các mục sư và quản trị Hội thánh. Ông khuyến giục rằng vừa khi nhóm tín hữu Cơ-Đốc bản xứ được tổ chức thì nên thiết lập Hội thánh tự trị tự lập và tự truyền bá Tin Lành. John L. Nevius, một giáo sĩ Hội Trưởng Lão khởi sự công việc ở Trung hoa (Hoa Trung) năm 1855 và cuối cùng đã đi Triều Tiên, đã thành công trong một loạt thí nghiệm các công trường truyền giáo và soạn thảo ra phương pháp Nevius và chính sách 'Hội thánh bản xứ' nổi tiếng như sau:

  1. Hãy để mọi người cứ ở yên trong vị trí khi người tin Chúa, mỗi người sẽ là một cá nhân hoạt động cho Đấng Christ, và để Đấng Christ sống trong vòng phụ cận người, tự nuôi mình bằng nghề nghiệp riêng.
   2. Phát triển cả phương pháp và guồng máy Hội thánh, chỉ đến mức độ mà Hội thánh bản xứ có thể chăm sóc và quản trị.
   3. Chừng nào Hội thánh có thể tự cung cấp người và phương tiện, thì để riêng những người dường như có khả năng hơn để làm công việc truyền giảng giữa những người lân cận của họ.
   4. Để những người bản xứ xây cất những nhà thờ riêng của họ. Nhà thờ phải có kiến trúc địa phương, và tùy theo kiểu mẫu họ có thể xây dựng.

Dầu Nevius được hoan hô nhiệt liệt trong các đoàn thể giáo sĩ vì những phương pháp của người thành công tại Cao-ly, mà chính Allen, một giáo sĩ Anh quốc giáo tại Trung hoa từ năm 1895-1903 trở nên lý thuyết gia rành mạch nhất về chính sách Hội thánh địa phương trong thế giới Cơ-Đốc. Trong ba cuốn sách của ông: Những Nguyên Lý Truyền giáo, Những Phương Pháp Truyền giáo của thánh Phaolô hay của chúng ta, và Sự Bành trướng Tự Nhiên của Giáo hội, Allen biện luận rằng các giáo sĩ Cơ-Đốc phải căn cứ công tác và sự dạy dỗ của mình trên Tân Ước, bắt chước chiến lược truyền giảng theo những nguyên lý của Phaolô, chuẩn bị phương pháp truyền giảng xứ họ đang công tác bằng các hoạt động hồn nhiên và tự do của tín đồ, chủ trương rằng ‘sự thắng lợi được đó không nhiều lắm bởi số các giáo sĩ ngoại quốc được sử dụng, hoặc bởi sự tăng trưởng của Hội thánh bản xứ trong quyền lực để bành trướng[6].

Không giống nhiều giáo sĩ thường áp dụng chính sách Hội thánh địa phương sau một giai đoạn kiểm soát và huấn luyện Hội thánh bản xứ cho đến chừng đã trưởng thành, Allen tin rằng 'sự tự khuyếch trương tự lập và tự trị phải đi song song với nhau, tất cả đều là quyền lợi của tín đồ ngay từ thuở ban đầu. Thật không lạ mà thấy A. B. Simpson, người đồng thời với Allen, đã soạn thảo hiến chương Hội Truyền giáo mới được thành lập của ông theo các đường hướng nầy, và ngay từ buổi đầu đã chấp nhận theo phương pháp 'tự lập, tự trị và tự khuyếch trương.'

Hiến chương của Hội năm 1889 qui định đặc biệt rằng: Hội Liên Hiệp sẽ khuyến khích và tán trợ nguyên lý tự lập, toàn bộ hay một phần, nơi nào có thể thực hành trong công trường truyền giáo hải ngoại[7]. Trong các năm đầu của Hội Đoàn, các giáo sĩ phải hành nghề để tự cung cấp những nhu cầu và như thế nêu một gương cho các mục sư bản xứ noi theo. Cho đến năm 1891, các giáo sĩ liên hiệp tại Ấn độ, Congo, và Phi-luật-tân thử tự lập bằng nông nghiệp, dự án kỹ nghệ và các công việc thương mại. Nhưng công cuộc làm ăn như thế chứng tỏ sự thất bại hoàn toàn. Đến cuối thế kỷ, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đã hủy bỏ nguyên tắc 'các giáo sĩ tự dưỡng'[8], và từ đó trở đi, các giáo sĩ nhận, không phải là lương cố định, nhưng là 'một phụ cấp sinh hoạt' bao hàm nhà ở, lương thực, quần áo, chuyên chở và sự giáo dục các trẻ em cho đến năm chúng lên 18 tuổi. Tuy nhiên, sự trợ cấp nầy đôi khi phải cắt giảm tới 50% hồi kinh tế khủng hoảng hoặc hồi ngân quỹ thiếu hụt.

Tuy nhiên, Hội Liên Hiệp chủ trương nguyên lý 'tự lập' áp dụng cho Hội thánh quốc gia. Thể theo chính sách nầy, những cô nhi viện, chẩn y viện, nhà thương, nhà trường cho giáo dục thế tục phải giữ trong mức độ tối thiểu, vì những cơ quan nầy - trừ phi Hội thánh bản xứ hoặc chính phủ địa phương có thể chu cấp đầy đủ - thì sẽ nuốt chửng nhiều nguồn cung ứng bấp bênh của Hội Truyền Giáo và ngăn trở mục đích chính là thiết lập Hội thánh bản xứ mạnh mẽ. John F. Taylor, trong luận án về: 'Hội thánh bản xứ của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp' đã ghi nhận rằng nguyên lý tự dưỡng 'ít được các giáo sĩ thực thi dầu họ được nhắc nhở trong hiến chương mà họ đang hoạt động và lấy đó làm chính sách của Hội Truyền giáo', và nhận thấy rằng năm 1908 ngân quỹ truyền giáo được đem sử dụng để xây cất nhà thờ và cấp dưỡng cho các truyền đạo bản xứ. Tự trị cho Hội thánh quốc gia cũng được định nghĩa rõ trong hiến chương Hội Liên Hiệp năm 1889: "Các Hội thánh bản xứ được tự do thành lập chính thể riêng theo Tân Ước" và các phụ tá bản xứ phải được tán trợ và khuyến khích, khi họ đủ khả năng thì phải được cho phép gánh trách nhiệm, và yếu tố sự dạy dỗ, sự chăm sóc bầy chiên, sự giám thị ngoại bang phải lần lần rút lại[9]. Tuy nhiên, hiến chương còn chưa xác định hẳn chính sách tự khuyếch trương, dường như có ý để Hội thánh địa phương soạn thảo một công thức cho chính họ. Hiến chương chỉ bày tỏ "mục tiêu của Hội Truyền giáo là thiết lập Hội thánh tự lập và tự khuyếch trương."

CÔNG TÁC HỘI TRUYỀN GIÁO PHƯỚC ÂM LIÊN HIỆP NĂM 1911: Cuối năm 1911, công trình Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp ở Hải ngoại bao hàm trong phạm vi của Hội là 17 công trường truyền giáo: 8 ở Á châu, 7 ở Mỹ châu Latinh, 2 ở Phi châu. Ấn độ là một xứ quan hệ nhất trong công trình của Hội Liên Hiệp với một Bộ Tham mưu là 03 giáo sĩ đang ở hiện trường và 16 người về nghỉ hạn. Với ba phái đoàn ở miền Tây, Trung và Hoa Nam tương đối có 13, 42, và 33 giáo sĩ, Hội Liên Hiệp bành trướng công tác dọc biên giới Tây Tạng về hướng tây Bắc và bán đảo Đông Dương ở phía Nam. Trong khi công tác ở trong xứ Phi-luật-tân còn ở trong giai đoạn mở đường với 4 giáo sĩ trên các đảo, công trình ở Nhật bản thì đang tiến hành, đặc biệt là trong khu vực Hiroshima và Nageya. Một bộ tham mưu gồm 13 người được cắt cử sang xứ Sudan thuộc Pháp và Sierra Leone với một lực lượng gồm 21 người đang gắng công ở Congo thuộc Bỉ, trở thành công trường truyền giáo rộng nhất và lớn nhất của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp về số tín hữu. Tại Châu Mỹ Latinh, ngoài Chi-lê là công trường quan trọng nhất của bán cầu nầy, Ecuador, Venezuela, Argentina, Santo Domingo, Jamaica, Puerto Rico, mỗi xứ đều nhận một hoặc hai cặp giáo sĩ dấn thân vào công tác truyền giảng Tin Lành. Tấn sĩ R. Glover, Bí thư phụ tá của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp báo cáo trong năm 1912, tổng số lực lượng là 25 giáo sĩ hoạt động tại 89 giáo sở cùng với 375 truyền đạo địa phương để chăn dắt 4.500 giáo hữu, điều khiển 130 trường tiểu học, 19 trường trung học và trường Kinh Thánh (Thần Học Viện).

(Còn tiếp)

[1] Phan văn Sơn, Việt Sử Tân Biên (Sàigòn, Khai Trí, 1961, tập 4, t.119)
[2] J. Despent, l;Eglise d'IndoChine (Lyon, Propagation de la Foi, 1964, t.3)
[3] Phan Đình Liệu, Lịch sử Tin Lành truyền đến Việt-nam,  Hồi ký không xuất bản, t. 3-6
[4] A. W. Toser, Wingspread, Harrisburg, Pa. Christian Publications, Inc, 1939, t.12
[5] A. E. Thompson, A. B. Simpson, Cuộc Đời và Sự Nghiệp (New York, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp xuất bản, 1920, t.3.
[6] Roland Allen, Sự Bành Trướng Hồn Nhiên của Giáo hội (Grand Rapids, Mic. Wn. B. Eerdmans, 1963, t.19)
[7] Tuần san Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp, tháng 4.1908, t.52.
[8] Hiến chương của HTG QUốc Tế Liên Hiệp 1889, t.23-24.
[9] E. F. Irwin, Với Đấng Christ ở Đông Dương (Harrisburg, Pa. Christian Publications, Inc. 1937, t.15)

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by