You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp)

LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp)


By admin - Posted on 13 March 2009

HỘI TRUYỀN GIÁO PHƯỚC ÂM LIÊN HIỆP TẠI VIỆT-NAM TỪ NĂM 1911-1927

Việt-nam là một trong những mục tiêu đầu tiên của phong trào truyền giáo do Tấn sĩ A. B. Simpson lãnh đạo. Trong tờ Nguyệt san "Lời, Công tác và Thế giới" (tháng 2. 1887), Simpson đã lưu ý những người theo mình về thật sự rằng "bán đảo Nam Á đã bị lãng quên nhiều" và "vương quốc Anam rộng lớn cùng với Tây Tạng phải được coi là công trường truyền giáo tương lai của Hội".

MỞ ĐƯỜNG: Simpson thăm viếng Đông Á trong một vòng du lịch quanh thế giới năm 1892 và 1893. Có lẽ theo lời yêu cầu của ông, David Lelacheur, chủ nhiệm của Đoàn Truyền giáo Liên Hiệp tại Á châu đã đến Sàigòn để nghiên cứu ngắn hạn về xứ trong năm 1893[1]. Ông lại trở qua gặp Tấn sĩ Simpson ở Singapore và trần thuật cho người về điều ông gọi là "các cửa mở tại Anam". Báo cáo nầy đã ấn tượng sâu sắc trên Simpson, người về sau cứ nhắc đến xứ nầy mải trong các bài báo ông viết. Tuy nhiên, Việt-nam vẫn còn ở dưới sự bảo trợ của người Pháp, họ chẳng có lý nào hoan nghênh giáo sĩ ngoài những người Công Giáo Lamã. Theo các Hòa ước Giáp Tuất (1874), khoản 9 và Hòa ước Giáp Thân (1884) khoản 14, chỉ những giáo sĩ Pháp và Tây Ban Nha mới có phép hoạt động trong xứ. Simpson quyết định thiết lập ngay một Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp ở tỉnh Quảng Tây, Nam Trung hoa, mà ông dường như tin rằng nơi đó sau cùng có thể làm bàn đạp cho Hội tràn vào Việt-nam. Giáo sĩ và bà C. H. Reeves đổ bộ tại Macao năm 1893, kế tiếp có 5 thanh niên theo sau gồm một cặp và 3 phụ nữ. Những người nầy cùng đi với Tấn sĩ và bà R.H. Glover. Năm 1897, ban truyền giáo nầy được thiết lập xong, Reeves vượt qua biên giới và thực hiện cuộc thăm viếng ở Bắc Bộ Việt-nam. Theo báo cáo, ông được tiếp đãi cách rất lịch thiệp bởi sĩ quan và binh lính Pháp.

R. A. Jaffray, một giáo sĩ mới của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp ở Hoa Nam, đi dọc theo sông Hồng tới Hà-nội năm 1889, nhưng không chiếm được một chỗ cho công việc truyền giảng Tin Lành. Suy nghĩ rằng một người Pháp Gia-nã-đại có lẽ sẽ giao thiệp tốt hơn với nhà nước Pháp, Jaffray thuyết phục Sylvian Dayan, và vợ ông tới Việt-nam năm 1902, họ được phép đổ bộ lên Hải Phòng, nhưng sau một năm lưu lại tại đó, nhận thấy không có chỗ nứt rạn trên bức tường chống đối kịch liệt, họ sang Trung quốc, đành chịu hỏng việc. Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Hoa Nam lại thử một cách khác mà các đoàn thể truyền giáo thường dùng để tiến tới một công trường truyền giáo bị đóng cửa, thiết lập một giáo sở trạm gần biên giới nhất trên một xứ bạn, rồi từ đó các sách Tin Lành có thể được mang qua biên giới và sứ điệp Tin Lành có thể được giới thiệu với khách từ xứ bị cấm viếng thăm. Kết quả là năm 1905, một giáo sở trạm được mở ở Lung Chow, một thị trấn Trung hoa gần tỉnh Lạng Sơn, từ đó hi vọng Tin Lành có thể được đưa qua biên giới mà vào Bắc kỳ và Trung kỳ. Tuy nhiên, các giáo sĩ không cứu xét đến một nhân tố lớn - tức là sự kiểm soát biên giới gắt gao áp đặt bởi các nhà chức trách Pháp - đường thâm nhập mới nầy chẳng dẫn họ đến mục tiêu ấy là quần chúng Việt-nam.

CHIẾM ĐÓNG: Không nao núng bởi những thất bại đầu tiên nầy, R.A. Jaffray cứ thử mải cho đến chừng được một chỗ đứng vững tại miền duyên hải Việt-nam. Mùa Xuân 1911, ông dẫn hai giáo sĩ mới, Paul M. Hosler và G. Lloyd Hughes tới Đà-nẵng (Tourane, thành phố cảng lớn nhất ở Trung bộ Việt-nam). Họ được hoan nghênh bởi ông Bonnet, đại diện Thánh Thơ Công Hội ở ngay tại Trung kỳ, Về phần ông Bonnet rất thành công trong công tác của ông. Theo lời yêu cầu của Tấn sĩ Jaffray, ông nhã nhặn bán tài sản của Thánh Thơ Công Hội cho Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp và các cộng sự trẻ tuổi của ông lập tức trở về Hongkong để chuẩn bị cho một chức vụ thường xuyên tại Việt-nam. Ông Jaffray chẳng bao giờ trở nên giáo sĩ cho người Việt-nam, nhưng chẳng bao lâu ông đã tiến lên địa vị quan trọng trong các công trường truyền giáo của Hội Liên Hiệp tại Á châu. Ông chẳng những hướng dẫn Hội Truyền giáo Hoa Nam mà cũng đảm trách sự chỉ đạo tại Đông Dương cho đến năm 1927, và cứ tiếp tục mở công trường truyền giáo tại Indonesia cho các giáo sĩ của Hội Liên Hiệp. Hosler trở qua Đà-nẵng cùng năm đó để công tác một mình và người bạn đồng công tên Hughes qua đời tại Hoa Nam. Các nhà chức trách Pháp hồi nầy đã thay đổi thái độ và đối xử với người rất tử tế, ông hơi lạc quan về tình huống mới, báo cáo rằng "cho đến nay sự tự do rộng rãi nhất đã được ban cho", nhưng cũng bày tỏ mới quan tâm về thái độ của mấy linh mục.

Tấn sĩ Simpson lập tức kêu gọi sự tăng cường từ giáo dân Bắc Mỹ, giữa vòng những người hưởng ứng đầu tiên có một người Anh, hai người Na-uy, bốn người Gia-nã-đại và hai người Mỹ. Hai người trong vòng họ đến cộng tác với Hosler năm 1912, còn các người khác đến vào năm 1913 và 1914, một giáo sở mới được mở ở Hội An.

Trận Đệ Nhất Thế Chiến bùng nổ, ngoài những hậu quả tai hại trên đời sống kinh tế, chính trị của Việt-nam, đã tống một đấm khiến lực lượng nhỏ của các giáo sĩ tại Việt-nam phải loạng choạng. Đầu năm 1915, chín vị giáo sĩ nhất định mở hai giáo sở mới ở Hải Phòng và Hà-nội (Bắc việt), nhưng những sự nghi kỵ bắt đầu giáng trên các giáo sĩ, vài người gốc dân Đức. Hầu hết các giáo sĩ lúc nầy có thể nói tiếng Việt và đàm thoại thông thạo với người bản xứ. Tin đồn về Cách Mạng và cuộc tấn công các nhà chức trách Pháp đã khiến Sở Mật Thám đặt các giáo sĩ dưới sự quản thúc chặt chẽ. Tin đồn lan rộng rằng các giáo sĩ nầy là gián điệp Đức, người Pháp dường như nghi ngại rằng họ có thể khai thác sự bất ổn trong xứ nếu không muốn nói họ thật sự xúi giục điều đó. Tháng 12.1915, mặc dầu có sự can thiệp của Tòa Lãnh sự Mỹ, chính phủ Pháp ra một Nghị định ‘cấm mở thêm công cuộc truyền giảng giữa vòng người bản xứ’, đóng cửa các nhà thờ và các giáo sở truyền giáo chỉ trừ Đà-nẵng và truyền các giáo sĩ mà tên có thể truy đến nguồn gốc Đức phải rời khỏi xứ. Biện pháp nầy giảm lực lượng giáo sĩ xuống còn 5 người, kể cả 3 phụ nữ, đứng đầu là một người Gia-nã-đại, Giáo sĩ E. F. Irwin. Ông và bà Hosler và một cộng sự thanh niên tên A. H. Birkel bắt buộc phải rời khỏi xứ, từ chức khỏi Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp khi về tới Mỹ, có lẽ vì sự tỉnh ngộ như là kết quả của sự chống đối đã gặp phải. Một cuộc thăm quan toàn quyền ở Hà-nội năm 1916, do giáo sĩ chính khách R. A. Jaffray ở trụ sở truyền giáo Hoa Nam đã dẹp tan mối lo sợ của chính phủ Pháp trước thế công của người Đức, nhất là Pháp mới thắng trận Versuri, Jaffray may mắn kết thân với vị đứng đầu ngành hành pháp của chính phủ Đông Dương. Ông tiếp tục giải thích cách thành thật và đầy đủ những mục tiêu thuần túy tôn giáo của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp trong mỗi công việc truyền giảng, chẳng những ở Đà-nẵng, Hà-nội, Hải Phòng, nhưng còn được phép khởi công tại Nam kỳ nữa. Ngày đình chiến năm 1918, những người mới tuyển đã nâng con số giáo sĩ trở lại 9 người, kể cả người Gia-nã-đại, D. I. Jeffrey và người Na-uy, J. D. Olsen, người cùng với E. F. Irwin, người Gia-nã-đại khác đã ở lại trong xứ suốt trận thế chiến, là những người giữ vai trò quyết định trong sự mở mang công trình Hội Liên Hiệp tại Đông Dương. Lực lượng giáo sĩ nầy tăng gấp đôi vào cuối năm 1921, và gấp ba năm 1927.

Tất cả đều đã học dưới chân Tấn sĩ A. B. Simpson tại trường huấn luyện giáo sĩ ở Nyack và tốt nghiệp sau ba năm. Vài người đã tốt nghiệp đại học, kể cả cô Grace Hazenberg (về sau là bà Cadman) đậu bằng Cao học với sự nghiên cứu rộng rãi về tiếng Hi-lạp và tiếng Hi-bá-lai, mở đường cho bà dấn thân vào việc phiên dịch Kinh Thánh. Chồng bà, W. C. Cadman, nguyên là chủ nhà in chuyên nghiệp mà cũng là nhà doanh nghiệp được định cho làm chủ nhà xuất bản của Hội Truyền giáo. Tuy nhiên, tất cả các giáo sĩ đều được lợi nhờ tài lãnh đạo sáng suốt của Tấn sĩ Jaffray và đồng thời là văn sĩ, giáo sư, chức viên hành chánh và người canh tân. Thế nhưng lực lượng hữu hiệu của Hội Truyền giáo dường chẳng đủ thiếu gì trong gắng công truyền bá Tin Lành trong một khu vực rộng hơn nước Pháp, với 20 triệu dân cư. Tuy nhiên, vào cuối năm 1927, họ đã lập được những cơ sở tại Hà-nội, Hải phòng, Thanh Hóa, Đà-nẵng, Nha-trang, Sàigòn, Biên-hòa, Mỹ tho, Vĩnh long, Sa đéc, Cần thơ, Rạch giá, Nam Vang và Battambang tại vương quốc Kampuchia, giáo sở sau hết được mở năm 1923.

NHỮNG MỤC TIÊU: Các giáo sĩ Hội Liên Hiệp vào xứ nhằm thời kỳ đánh dấu bởi cuộc cách mạng Trung quốc năm 1911, trận Đệ Nhất Thế Chiến và sự bất ổn do phong trào cách mạng Việt-nam gây nên, và sự đảo chánh bất thành của Hoàng đế Duy Tân chống chế độ thực dân Pháp, thường khêu gợi sự hiểu lầm và nỗi hoài nghi về những mục tiêu thật tại Việt-nam. Chẳng những nhà chức trách Pháp nhìn họ như những mật thám Đức và Mỹ giả dạng nhưng cả một số người Việt-nam tin rằng cuối cùng họ có thể bỏ cái ách của người Pháp đặt trên cổ họ. Tin đồn truyền đi mau lẹ giữa quần chúng rằng các giáo sĩ đang thử thiết lập "Đạo Hoa Kỳ" và tuyển mộ những thanh niên trở lại đạo để huấn luyện tại Mỹ và ngay trong ngôn ngữ tôn giáo cũng có tấm màn mỏng phủ che mục đích chính trị. Người ta thường dẫn chứng hồi bấy giờ khi giáo sĩ nói về "sự tái lâm của Chúa Jêsus Christ" tức là thật muốn nói về người Mỹ đến và đoạt chính quyền. Về phần các giáo sĩ họ cũng đã làm hết sức mình để làm tiêu tan mối nghi kỵ. Họ chịu khó cắt nghĩa về các cớ tích thật cho nhà chức trách Pháp và người bản xứ hỏi đạo. Họ xuất bản sách nhỏ bằng tiếng Pháp, nhan đề "Hội Truyền giáo Tin Lành: Lý do tồn tại" để xác minh những mục tiêu tôn giáo tại Việt-nam. Thậm chí họ soạn thảo hiến chương của Hội để bày tỏ mục tiêu duy nhất của họ tại Đông Dương, thật là "giảng Tin Lành". Thật thế, hiến chương của Hội xác định mục tiêu như sau:

   1. Làm chứng về những chân lý Cơ-Đốc, nhất là những lẽ thật về đời sống Cơ-Đốc sâu nhiệm hơn.
   2. Theo đuổi sự thống nhất đức tin trong Chúa Jêsus Christ.
   3. Giảng Tin Lành của Nước Trời khắp thế gian để làm chứng cho các dân tộc, đặc biệt ở nơi nào Đấng Christ không được nghe danh, như thế khiến sự tái lâm của Chúa được mau chóng.
   4. Giảng Tin Lành cho các khu vực bị lãng quên ở quốc nội cũng như quốc ngoại.
   5. Thiết lập và duy trì Hội thánh và Hội thánh ở quốc nội.
   6. Thiết lập và duy trì công tác truyền giáo ở công trường hải ngoại.
   7. Theo đuổi công tác truyền giáo ở quốc nội.
   8. Xây dựng và duy trì những tòa nhà cần thiết cho các mục đích trên.
   9. Chuẩn bị cho cá nhân tín đồ tinh thần cảm thông thân thích với nhau và không đá động đến những quan hệ giáo phái.
  10. Khuyến khích sự cộng tác của các nhóm giáo sở và Cơ-Đốc nhân sẵn sàng sai phái các giáo sĩ đặt dưới quyền Ban Giám Đốc và đóng góp tài chính vào công cuộc truyền giáo thông qua vị thủ quỹ[2].

Lẽ cố nhiên không ai trông đợi những người dân ý thức chính trị tại Việt-nam thời kỳ nầy cả người Pháp lẫn Việt-nam, tiếp nhận lời phát biểu chính thức của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp với giá trị pháp định. Sau khi điều tra cặn kẽ những sự dạy dỗ và thực hành của các giáo sĩ trải qua nhiều năm, một nhà quan sát tinh tường đã kết luận rằng mục tiêu chính của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp gồm 4 điểm sau đây:

(a)   Giới thiệu Tin Lành do sự thông hiểu và khả năng tốt nhất của họ cho càng nhiều bộ lạc và người riêng càng tốt ở tại Việt-nam, Lào, Kampuchia.

(b)   Cung cấp Kinh Thánh và văn chương Cơ-Đốc khác bằng tiếng bản xứ, tạo căn bản cho sự truyền thông sứ điệp Tin Lành cho người hỏi Đạo và gây dựng đức tin giáo hữu.

(c)    Huấn luyện người địa phương, cả hàng giáo phẩm, lẫn tín đồ thế tục, để sống theo đức tin và truyền bá niềm tin cách cá nhân.

(d)   Thiết lập một Hội thánh quốc gia theo kiểu mẫu nhiều hay ít của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp mà họ tin là có tổ chức theo những nguyên tắc Tân Ước.

(e)   Hội Liên Hiệp không nhắm mục đích cải cách xã hội như W. Carey đã làm tại Ấn độ. Hội không dự liệu công tác an sinh xã hội như đã làm tại Ấn độ, là công trường truyền giáo lâu nhất tại đó có những cơn đói kém hoặc thiên tai, tình trạng người cùng đinh càng đáng kinh khiếp hơn và tuyệt vọng hơn người đối cấp ở Việt-nam, ít nhất cũng trong thời kỳ nầy. Hội cũng không dấn thân vào chương trình giáo dục trong xứ như các Hội Truyền giáo Tin Lành khác đã gắng làm tại Trung hoa. Tất cả sự truyền bá, dạy dỗ, huấn luyện, kể cả ở Mỹ lẫn Việt-nam, đều nhắm mục đích độc đáo là xây dựng Hội thánh trên các nguyên tắc Tân Ước mà chẳng chóng thì chày sẽ tự mô phỏng đúng.

[1] Sách Khái Luận của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp 1963, t.5-6. So Hiến chướng của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp & Quốc Tế Liên Hiệp (1889, t.1-16).
[2] TCIT.  Biên bản Hội Đồng Giáo sĩ Đông Dương (tháng 1-3, 1923, t.11)

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by