You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp a)

LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp a)


By admin - Posted on 13 March 2009

LỊCH SỬ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT-NAM

CHƯƠNG IV - (tiếp a)

CHÍNH SÁCH: Mặc dầu chính sách minh bạch của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp bày tỏ trong Hiến chương và sách khái luận, Taylor ghi nhận trong luận án rằng "điều ấy không có nghĩa là Hội Liên Hiệp lúc nào cũng theo đúng những nguyên lý Hội thánh bản xứ", nhất là tại Á châu năm 1917. Rất lý thú mà nhận xét rằng chính sách nầy đã trở thành mối tranh tụng hăng hái trong các đoàn thể Hội Liên Hiệp năm 1926 và chính R. A. Jaffray, vị lãnh đạo Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Đông Dương và Hoa Nam thật đã đặt nó trên căn bản ổn định hơn và phản ứng lại trong nhiều công trường truyền giáo Hội Liên Hiệp. Chính sách Hội thánh bản xứ có thể tóm tắt như sau: Một Hội thánh quốc gia phải tự lập, tự trị, và tự khuyếch trương.

a) TỰ LẬP:

Tại Hội Đồng các giáo sĩ ở công trường Đông Dương triệu tập tại Đà-nẵng mùa hè năm 1922, Jaffray đã phát biểu từ đầu đến cuối về tự lập cho các Hội thánh Việt-nam dầu chỉ có một lần như thế vào lúc bấy giờ. Sau khi thảo luận nhiều, Hội đồng đã chấp nhận chính sách sau đây:

Hội thánh có 10 thuộc viên chịu trách nhiệm về tất cả những chi phí bất ngờ, với 15 thuộc viên thì phải thêm vào lương người coi giữ đền thờ, có 25 thuộc viên thì thêm ¼ lương truyền đạo, với 40 thuộc viên thì thêm ½, với 60 thuộc viên thì thêm ¾ lương truyền đạo, với 80 thuộc viên thì thêm cả số lương truyền đạo , và cứ thế sự cấp dưỡng sẽ cho tất cả mọi công nhân khác, tiền thuê nhà, v.v…[1].

Vì một Hội thánh mới mở không trông mong có ai dâng tiền, Hội Truyền giáo tạm thời đảm nhiệm việc cấp dưỡng truyền đạo. Chừng nào có một người gia nhập Hội thánh bởi Lễ Báp-têm, anh hay chị ấy khởi sự đóng góp vào mọi chi phí Hội thánh và giá phải trả để truyền giảng Tin Lành. Theo gợi ý của ông Jaffray, Hội Đồng cũng nhất định rằng Hội thánh và Hội truyền giáo không nên trả ông truyền đạo số lương kém hơn một viên thư ký của chính phủ vào năm 1922 là 25 đồng hoặc 12 Mỹ kim mỗi tháng.

b) TỰ TRỊ:

Các Hội thánh địa phương, số bầu cử, vào dịp Hội Đồng thường niên do mục sư hay truyền đạo sở tại chủ tọa, một số đại diện gọi là chấp sự tùy theo cỡ của Hội thánh và theo sự phân phối địa lý của thuộc viên đòi hỏi. Các chấp sự cả nam lẫn nữ đủ tư cách ứng cử vào phương vị nầy, sẽ bầu một ban trị sự ở giữa vòng họ để lo việc chung của Hội thánh. Chỉ những Hội thánh tự lập (trả hết chi phí của Hội thánh và lương truyền đạo) mới có quyền lựa chọn mục sư cho mình. Tất cả Hội thánh khác sẽ có mục sư do Hội Truyền giáo chỉ định. Tuy nhiên, chính sách nầy không được xác định rõ ràng bởi các mục sư thời bấy giờ từ các tập tục của Hội thánh tại Đà-nẵng và từ những lời khuyên riêng của các giáo sĩ[2]

c) TỰ KHUYẾCH TRƯƠNG:

Không thấy ghi chính sách qui định phương diện nầy của một Hội thánh bản xứ, dường như sớm quá để gắng sức lo vấn đề vào thời kỳ Hội Truyền giáo còn giữ sáng kiến mở các Hội nhánh. Trong các năm sau chính Hội thánh Việt-nam khai triển một kiểu mẫu, đặc biệt là sau Hội Đồng Tổng Liên Hội năm 1927. Tại Hội nghị chung của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp năm 1926, Ban Trị Sự trên báo cáo của Hải ngoại vụ đã ghi lại 5 lời khuyến cáo cho chính sách Hội thánh bản xứ

  1. Nhiều người bản xứ còn giá trị cho công việc hơn là chỉ vài giáo sĩ, vì vậy nên giao cho họ thêm trách nhiệm.
  2. Nên có một tư lệ công nhân quốc gia cao hơn đối với các giáo sĩ hơn là 2 đối 1 như hiện có.
  3. Vấn đề tự lập phải được xác định rõ hơn với giai tầng (thang) có chia độ để rút lại tiền quỹ hải ngoại.
  4. Tiền hải ngoại có thể là sự ngăn trở cho Hội thánh bản xứ làm cớ cho tín đồ khỏi làm nghĩa vụ trong vấn đề tự lập.
  5. Tiền hải ngoại nên dùng vào việc giảng Tin Lành và tiến tới các khu vực chưa khai thác.

Hầu hết các điều khoản nầy cuối cùng được Hội nghị chấp nhận, đã được áp dụng tại Việt-nam rồi. Tuy nhiên, khoản 1 đã được thực thi tới một mức độ nào, tại Hội Đồng Tổng Liên Hội ngay năm sau đó.

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP: Các giáo sĩ Hội Truyền giáo đã dùng hầu hết các phương pháp và các bạn đồng công đã áp dụng tại các công trường truyền giáo khác. Như đã chỉ dẫn bởi các mục tiêu chính thức, họ cố gắng giảng Tin Lành cho mỗi người "sẵn sàng".

SỰ HỌC TIẾNG: Không giống hầu hết các đối nhiệm Công Giáo Lamã ở Việt-nam thời bấy giờ, các giáo sĩ Hội Truyền giáo đã cố gắng học thấu đáo tiếng Việt hầu truyền thông sứ điệp Tin Lành cho người bản xứ hữu hiệu hơn. Cố nhiên không phải tất cả mọi người đều thành công, một phần là vì tiếng nói đơn âm mà 5 dấu lại còn phức tạp hơn bởi một số thổ ngữ khác nhau mà người Việt đang nói. Họ cũng phải học tiếng Pháp là tiếng chính thức tại Đông Dương cho đến năm 1945. Các giáo sĩ đầu tiên học tiếng Pháp sau khi đến Việt-nam, nhưng vào năm 1921 các giáo sĩ được chỉ định qua Đông Dương, ở một năm hay cỡ đó tại nước Pháp để học tiếng. Điều nầy chứng tỏ là một quyết định khôn ngoan, vì các giáo sĩ nói tiếng Pháp chẳng những có thể kết bạn, và truyền bá sứ điệp Tin Lành cho thế hệ mới gồm người Việt-nam trí thức và công chức vào lúc họ chưa biết đủ tiếng Việt để giải bày quan điểm Cơ-Đốc.

Hơn nữa, những giáo sĩ coi việc học tiếng như một phương tiện truyền bá Tin Lành dầu bằng tiếng Việt "nhát gừng". Sau một thời gian lâu và chuyên chú theo dõi sứ điệp của Đấng Christ trong Kinh Thánh mà họ thường giúp thông dịch, hầu hết các giáo sư quyết định tiếp nhận đức tin mới và chẳng bao lâu đã trở thành chứng nhân rành rẽ cho các bạn bè và bà con của họ.

Hầu hết các giáo sĩ đáng được khen tặng vì đã học thông thạo tiếng bản xứ. Điều nầy bao giờ cũng đem lại một ấn tượng tốt trên người Việt-nam, vì lúc bấy giờ người Tây phương thường tỏ thái độ hơn hẳn đối với tiếng mẹ đẻ và văn hóa của họ. Tuy nhiên, điều bất hạnh là hầu hết các giáo sĩ chẳng chịu để thì giờ - như các vị đối nhiệm của họ tại Ấn độ và Trung hoa từng làm là sử dụng sự thông thạo tiếng Việt và Pháp, nắm chắc hơn văn hóa và lịch sử Việt-nam. Những bài viết của họ, kể cả những vị lãnh đạo ưu việt đôi khi cũng để lộ một sự thiếu sót trong sự thông hiểu cơ cấu xã hội, giáo lý thực hành của các tôn giáo lớn, cả đến những biến cố quan trọng nhất của sự phát triển giáo hội Công Giáo Lamã tại Việt-nam. Một sự hiểu biết đầy đủ về bối cảnh văn hóa và lịch sử các tôn giáo của xứ thuận nhận sẽ là một vật sở hữu có lợi cho chức nhiệm khó khăn và có thể giúp họ tránh được những lỗi lầm mà các giáo sĩ tiền phong đã mắc phải.

SỰ GIẢNG ĐẠO: Như đã chỉ dẫn trong hiến chương của Hội và sách khái luận cho công tác hải ngoại, sự giảng đã và đang còn là đặc trưng rất quan trọng của các phương pháp truyền giáo của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp. Tại Việt-nam, họ khởi sự giảng trước khi có thể nói tiếng bản xứ đầy đủ. Nhiều người phải dùng quá nhiều bộ tịch để gửi sứ điệp khi thiếu lời để bày tỏ. Các người khác bày tỏ bằng cách trưng những bức tranh tô màu, vẽ truyện tích Kinh Thánh thường dùng trong Trường Chúa nhật tại Mỹ quốc. E. F. Irwin, giáo sĩ niên trưởng và là vị Hội Trưởng đầu tiên của Hội Truyền giáo ở Đông Dương, sử dụng phương pháp "giảng gián tiếp" trong những năm đầu khi còn đang học tiếng. Giáo sư của ông, một học giả đã từng học 15 năm các sách cổ điển của Đức Khổng, Mạnh, đã bày tỏ lòng ao ước muốn tin theo Đấng Christ năm 1915, đã nghe Irwin và thử hết sức hiểu điều giáo sĩ muốn giảng bằng tiếng Việt nhát gừng, và ghi lại bố cuộc cùng những ý niệm. Kế đó giáo sư biên lại bằng tiếng Việt thông suốt và giảng trong nhà thờ. Tuy nhiên, sau ba tháng dùng cách giảng kỳ lạ đó (nói theo lời của Irwin), 18 người trở lại Đạo được ghi nhận và "Hội thánh tại Tourane được sanh ra". Khi giáo sĩ nói tiếng bản xứ trôi chảy, họ tập trung vào sự giảng dạy cho từng nhóm, hoặc mỗi cá nhân, tại nhà thờ, hoặc tại nhà riêng, trong nhà của người hỏi Đạo hoặc tại các chợ. Những bài giảng của họ - như người ta mong đợi - gồm truyện tích Kinh Thánh, giáo lý, mệnh lệnh Kinh Thánh, và theo một mức độ lớn, phương diện rất thường được nhấn mạnh là về sự sống và sự chết của Đấng Christ mà các người Tin Lành lúc bấy giờ hiểu được, và những ứng dụng cho cuộc sống thường nhật của các giáo hữu. Họ tin và giảng với xác tín rằng những từng trải của các Cơ-Đốc nhân thời Tân Ước có thể mô phỏng đúng trong các tín đồ ngày nay "bởi đức tin trong Đấng Christ" và trong sự đáp lời cầu nguyện. Họ cau mặt khi thấy các truyền đạo bản xứ đem quá nhiều "hương vị Khổng giáo" cho sự giảng dạy. Nhưng theo nhiều quan sát viên Việt-nam, họ thường bày tỏ trong lời giảng dạy một số nguyên tố mà có thể truy đến văn hóa Âu Tây hơn là Cơ-Đốc giáo đời Tân Ước. Như một luật lệ, họ chối bỏ sự luận chứng triết học là sức mạnh của người Công Giáo Lamã giảng tại Việt-nam[3]. Họ ưa thích viện dẫn Kinh Thánh "Kinh Thánh chép" như là quyền bính tối hậu của sự thông biết tôn giáo và cách cư xử đạo đức để giải quyết mọi sự biện bác, ngay cả với người chưa tin. Điều nầy không nhất thiết có nghĩa là họ bỏ qua nguyên lý logích và biện chứng pháp, họ biết và dạy những nguyên lý đó cho các truyền đạo sinh, nhưng đồng thời cũng cảnh cáo họ chớ ỷ lại vào "sự khôn ngoan người đời mà giảng Lời Đức Chúa Trời"[4]. Tuy nhiên sức mạnh truyền giảng của giáo sĩ Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Việt-nam là lòng xác tín của họ. Những người nghe hay hoài nghi, sau khi nghe họ, quan sát lối sống của họ, thường xác tín lòng thành thật của họ. Ho tin điều họ rao giảng, và họ có lối sống theo đức tin họ, thành thật thừa nhận lỗi lầm và thất bại của họ. Đó là một điều mới, ít nhất cho một số người hỏi đạo đã hết mê muội với các hình thức và tập tục của tôn giáo khác.

[1] Phỏng vấn Mục sư Lê văn Long (6.6.1964) so Phan Đình Liệu, SĐD.
[2] So E. F. Irwin, SĐD, t.16tt, Stebbibs, SĐD, t.20. Tỉ dụ: E. F. Irwin nói đến sự trở lại của một hoàng đế Việt-nam theo đức tin Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp, dầu rằng không có chứng cớ trong tài liệu lịch sử, và các khái luận để hậu thuẫn chuyện đó.
[3] Phan Đình Liệu, Sự Dịch Kinh Thánh ra tiếng Việt (1964, t.1 t
[4] Hoài Thanh và Hoài Châu, Thi nhân Việt-nam (Huế, bởi các tác giả, 1842, t.3 tt). Vũ Ngọc Phan, sđd, t.26 tt.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by