You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp b)

LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp b)


By admin - Posted on 20 March 2009

LỊCH SỬ HTTL/VN

(Chương IV - tiếp b)

VĂN CHƯƠNG: Theo sự thực hành chung của các giáo sĩ ở các xứ khác, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp cũng giao những công tác đặc biệt vừa khi sự học tiếng được hoàn tất, cho một số nam nữ đã nhận được sự huấn luyện đặc biệt cho công việc phiên dịch và văn chương, sự dịch Kinh Thánh là ưu tiên trên hết. Dầu tiếng Pháp trở nên ngôn ngữ chính thức trong cả xứ Đông Dương, Quốc ngữ (hoặc lối viết tiếng Việt theo chữ La-tinh thoạt đầu phát minh ra bởi tu sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha và Ý Đại Lợi, sau được hoàn tất bởi Đắc Lộ, đã trở nên ngày càng phổ thông với dân chúng Việt-nam. Vào thời kỳ các giáo sĩ Hội truyền giáo đầu tiên có thể nói tiếng Việt trôi chảy, Quốc ngữ đã thay thế chữ Nho đã từng chính thức được sử dụng tại Việt-nam hơn 17 thế kỷ. Tuy thế, chữ Nho vẫn còn là tiếng của học giả thuộc thế hệ trước, ấy là những người già cả có văn học đã tiếp nhận số đầu tiên của Kinh Tân Ước và số sách Tin Lành mà Thánh Thơ Công Hội mang tới giữa khoảng 1902-1911. Thêm vào giai cấp già tinh anh nầy, có một số người Việt-nam trong 20 năm đầu của thế kỷ đã có đọc và hiểu chữ Nôm, một thứ chữ Việt rút từ những chữ Hán đã không được chính thức sử dụng qua các thế kỷ như là thứ chữ phổ thông song song với chữ Nho.

Những dịch giả của Hội Truyền giáo đứng trước tình huống rắc rối đó đã nhất định dịch các sách Tin Lành ra Quốc ngữ, đồng thời một học giả Việt-nam cũng sẽ dịch sách Tin Lành ra chữ Nôm từ bản Văn Ký[1]. W. C. Cadman và vợ ông đã khởi sự công việc dịch năm 1914. Với sự giúp đỡ của ông Nho, một học giả Việt-nam, họ khởi công với sách Tin Lành theo thánh Giăng, và cuối năm 1915 khi Toàn quyền ra lệnh đóng cửa các cơ sở truyền giáo và trục xuất các giáo sĩ thì họ đã hoàn tất, ngoài sách Tin Lành Giăng, các sách Tin Lành Mathiơ, Mác, Luca, Công vụ các sứ đồ và thư gửi cho người Lamã. Tuy nhiên, năm 1928, bản Quốc ngữ của 7 sách được in ở Thượng Hải, trong khi đó bản chữ Nôm được ấn hành tại Hà-nội, sự phân phát rộng rãi những sách Kinh Thánh tại các trung tâm lớn ở Bắc kỳ, Trung kỳ, và Nam kỳ đã đóng góp đáng kể vào sự trình bày sứ điệp Tin Lành tại Việt-nam. Phần còn lại của Tân Ước được dịch bởi J. D. Olsen với sự giúp đỡ của Trần văn Dõng, một dịch giả chuyên nghiệp, từ đầu năm 1921 đến cuối 1922. Nhu cầu lớn bắt buộc phải tái bản trong năm sau đó. Vì đa số người Việt-nam từ thập niên 1920 trở đi chỉ đọc chữ Quốc ngữ, bản dịch của Olsen cũng như các công trình sau đó về Cựu Ước được soạn trong chữ Latinh hóa nầy. Bảy cuốn sách bằng chữ Nôm được xuất bản cho đến giữa thập niên 1930, nhưng chẳng có phiên dịch thêm trong thứ chữ lỗi thời nầy.

Gia đình Cadman tiếp tục công tác dịch Kinh Thánh năm 1919. Lần nầy với sự cộng tác của ông Phan Khôi, một học giả và văn sĩ lỗi lạc, đã ở với họ trong 10 năm, họ hoàn tất Cựu Ước năm 1925. Sau khi duyệt xét kỹ lưỡng bởi các văn sĩ, mục sư, giáo sĩ, kể cả Olsen, toàn bộ Kinh Thánh đã được in tại Hà-nội năm 1926. Vừa khi cuốn Kinh Thánh Việt-nam in xong, ông Phan Khôi nhận chức chủ nhiệm một tờ báo quan trọng với giá lương gấp bội hơn lương có thể trả cho ông để dịch Kinh Thánh. Chẳng bao lâu, họ Phan khởi xướng "phong trào thơ mới" đã làm rung chuyển cả những truyền thuyết văn học từ bao thế kỷ ở trong xứ và cũng phóng ông lên địa vị lãnh đạo các đoàn thể văn học[2]. Giá trị công việc của ông về bản dịch Kinh Thánh năm 1926 vẫn còn được các độc giả Việt-nam ưa thích. Trong khi Hội Truyền giáo và Hội thánh ấu trĩ cung cấp nhân viên có khả năng, Thánh Thơ Công Hội cung cấp tài chánh cho sự sửa soạn và xuất bản cả Tân Ước lẫn toàn bộ Kinh Thánh. Mãi đến năm 1948, một toán học giả khởi sự nhuận chánh Tân Ước dưới sự lãnh đạo của J. D. Olsen và Ông văn Huyên.

NHÀ IN TIN LÀNH: Nhà in Tin Lành được thành lập tại Hà-nội cuối năm 1920 xuất bản, ngoài Kinh Thánh và các phần Kinh Thánh. Một tập sách Trường Chúa nhật ra hằng tháng, tam cá nguyệt Tiếng Gọi Đông Pháp (Anh văn), Nguyệt san Thánh Kinh Báo (The Bible Magazine), Phước Âm Yếu Chỉ, Truyền đạo đơn, một số sách bằng tiếng Kampuchia và các sách khác. Năm 1922, Cadman báo cáo rằng ‘sự bán các phần Kinh Thánh, sách và truyền đạo đơn rất chạy, đến nỗi nhà in thấy khó mà in kịp các sách tái bản. Tổng số xuất bản là 127.807 ấn bản gồm 3.197.3000 trang cho năm 1922; 3.608.280 trang cho năm 1925 và trên 5 triệu trang.

Vào một thời mà chữ Quốc ngũ trở nên ngày càng phổ thông, và các bài luận ngắn còn hiếm và mắc, sự phân phát rộng rãi Kinh Thánh, các phần Kinh Thánh, các sách nhỏ của truyền đạo đơn được hoan nghênh bởi dân chúng khao khát tìm kiếm điều gì đáng đọc. Trong nhiều gia đình Việt-nam, người có sách mới theo thói tục thường đọc to từ chương nầy qua chương khác cho cả nhà nghe vào mỗi tối, khi cả nhà họp mặt quanh ngọn đèn dầu lửa, và mỗi người vẫn tiếp tục công việc chân tay để khỏi mất thì giờ. Dưới ảnh hưởng của Khổng Mạnh, hầu hết các sách được quí trọng và đọc cách kỉnh kiền. Không lạ gì trong các năm sau nầy, nhiều giáo sĩ và các truyền đạo bản xứ cùng các tín hữu thường thấy trong các thị trấn, làng mạc xa xôi mà họ thăm viếng lần thứ nhất, có những người nam và nữ sẵn sàng tiếp nhận đức tin Tin Lành.

HUẤN LUYỆN: Để đốc thúc truyền bá Tin Lành và để hoàn thành chính sách Hội thánh bản xứ, các giáo sĩ Hội Truyền giáo đã chấp nhận một chương trình huấn luyện cấp tốc cả tín đồ thế tục lẫn hàng chức sắc. Rất lý thú mà nhận ra rằng những người mới tin trước tiên đã có sáng kiến yêu cầu dạy Kinh Thánh kể cả khi chỉ mới dịch xong mấy sách Tin Lành, trong khi Hội truyền giáo vẫn chưa soạn thảo kế hoạch khởi sự mở Trường Kinh Thánh. Lớp học đầu tiên được khai giảng năm 1910, tức là 3 năm trước khi Trường Kinh Thánh Tourane mở cửa. Một số người mới tin đầu tiên tại Đà nẵng là những "thanh niên có học thức cao", người biết tiếng Pháp, kẻ giỏi chữ Nho. Vì hầu hết đều đi làm 2 buổi sáng và chiều trong các văn phòng chính quyền, cho nên thì giờ thuận tiện nhất để học Kinh Thánh (buổi tối dành riêng cho việc nhóm giảng Tin Lành) là buổi trưa, từ 12 giờ đến 1 giờ 30, mỗi ngày làm việc trừ Chúa nhật. Hoàng Trọng Thừa là giáo sư dạy tiếng cho các giáo sĩ, lúc nầy đã trở nên phó Mục sư và đang theo học chương trình cấp tốc Kinh Thánh Thần học cùng Tuyên đạo pháp bằng lối hàm thụ tại trường Kinh Thánh Quảng Tây ở Hoa Nam.

Tháng 9.1921, D. I. Jeffrey mở một trường Kinh Thánh hợp thức tại Đà-nẵng với chương trình rập theo khuôn mẫu ở Nyack (Trường Huấn luyện giáo sĩ). Chương trình gồm có: Nghiên cứu Đại Cương Kinh Thánh, Đấng Christ trong Kinh Thánh, Những Bài học Tân Ước nhấn mạnh đặc biệt các sách Tin Lành, thơ Lamã, Galati, Thư tín phổ thông, lời giải thích Cựu Ước, đặc biệt các Thi thiên, Đaniên, và các tiên tri nhỏ, những giáo lý Cơ-Đốc, Truyền đạo pháp, Luận văn Việt, Văn chương Việt, Sử ký thế giới, Lịch sử Hội thánh, Địa lý, Tập địa đồ Kinh Thánh và thể dục. Năm 1922, Jeffrey bày tỏ mục đích của nhà trường là ‘cho các khóa sinh một nền Kinh Thánh đầy đủ để sửa soạn họ rao giảng Tin Lành của ân sủng Đức Chúa Trời cho quốc dân, và gây dựng Hội thánh Annam trong những lẽ thật hằng sống của Lời Đức Chúa Trời. Chương trình sau được phát triển và nâng cao trong các năm sau bởi Olsen và Herman H Hazlett. Ban giáo sư gồm có E. F. Irwin, Hoàng Trọng Thừa, H. C. Smith, và J. D. Olsen, sau làm giám đốc nhà trường năm 1923. Các mục sư bản xứ không gia nhập ban giáo sư mãi cho đến năm 1927.

Một lớp Kinh Thánh cho phụ nữ trước tiên được tổ chức năm 1923 dưới sư đôn đốc và dạy dỗ của cô Edith Frost, do trình độ học vấn thấp của hầu hết phụ nữ Việt-nam trong thời kỳ nầy, chương trình đơn giản hơn nhiều, sắp đặt cho ăn khớp với sự huấn luyện các nữ chấp sự và vợ truyền đạo. Năm môn được dạy trong năm đầu: Cựu Ước, Bốn sách Tin Lành, Phước Âm Yếu Chỉ, Phương pháp giảng cho Thiếu nhi, Việt văn. Năm thứ hai lớp phụ nữ học sách Tin Lành Giăng, thư tín chung, Côlôse, Phương pháp giảng Tin Lành, Việt văn.

Lớp học đầu tiên là một chuồng ngựa không sử dụng trong khuôn viên của Hội Truyền giáo. Khi đặt viên đá xây dựng đền thờ tại Đà nẵng năm 1922, một phòng lớn ở phía sau nhà thờ được dùng làm lớp học. Vì số học sinh gia tăng, một trường trại nhỏ được dựng nên năm 1924 gồm có 1 Lễ bái đường, 4 phòng học và 3 nhà ngủ đủ tiện nghi cho 90 học viên. Tuy nhiên, chương trình xây cất không được hoàn tất cho đến năm 1928. Một phòng lớn lợp tranh dùng làm phạn điếm và sau được xây lại bằng gạch năm 1937. Đoàn học sinh gồm từ 6 người vào năm 1921 đến 47 người năm 1924 và 86 người năm 1927.

Những học sinh năm thứ nhất được gởi đi làm phó mục sư một năm, thường là làm việc dưới sự hướng dẫn của một giáo sĩ và điều khiển một Hội thánh mới mở, họ trở về học năm thứ hai, kế đó đi ra thực tập một năm. Theo lời gửi gắm của người giám thị công việc đầu tiên của họ, những truyền đạo sinh sẽ có thể trở về học năm tốt nghiệp tập trung vào thần đạo có hệ thống và thần đạo thực tiễn, nghiên cứu Kinh Thánh cao cấp. Lễ Tốt nghiệp đầu tiên cử hành vào tháng 4.1927 với 8 sinh viên tốt nghiệp, tất cả đều được tấn phong tại Hội Đồng Tổng Liên Hội Đà-nẵng cũng năm đó. Về sau theo luật lệ các sinh viên học xong 2 năm đi ra tập sự 2 năm trước khi trở về học năm tốt nghiệp. Cuối năm 1927, trên 150 nam nữ ghi tên học tại Trường Kinh Thánh Tournae và hầu hết đã dâng mình vào công tác Cơ-Đốc như mục sư, giáo sư, nam nữ viên bán sách dạo.

Thêm vào sự huấn luyện các mục sư tại Trường Kinh Thánh, các giáo sĩ Hội truyền giáo cũng chú ý đến việc huấn luyện các tín đồ thường. Việc nầy được thực hiện bởi cá nhân giáo sĩ đã khôn khéo dẫn các tín đồ lanh lợi, hoạt bát, đầy hứa hẹn vào trong vài hình thức hầu việc Chúa (dạy Trường Chúa nhật, làm chứng đạo cho người lân cận và bà con, dạy các lớp mới biết đọc, biết viết, v.v…) bằng cách mời họ giúp các vị lãnh đạo trong các hoạt động của họ trong nhà thờ.

Về sau, các giáo sĩ cộng tác với các mục sư Việt-nam trong việc tổ chức Lớp Thánh Kinh Đoản Kỳ để huấn luyện các tín đồ dẫn đạo cho các Hội thánh mới mở. Bà Homera Homer Dixon đã dạy Tiểu học Đường tại Hà-nội từ năm 1931 đến khi Đệ Nhị Thế chiến bùng nổ. Điều nầy chứng tỏ đã thành công trong việc cung cấp các tín đồ dẫn Đạo cho các Hội thánh tại Bắc kỳ và dọn đường cho nhiều sinh viên đi học Trường Kinh Thánh Tourane để sửa soạn cho chức vụ mục sư[3]. Những lớp Phước Âm yếu chỉ trong các Hội thánh ít nhất trong các năm đầu tiên đã được tổ chức tốt và đặt tiêu chuẩn hơi cao. Một lớp huấn luyện 12 tuần học những giáo lý cơ bản và kiến thức Kinh Thánh và một sự tra xét kỹ lưỡng về kiến thức tôn giáo và cuộc sống đạo đức là cần thiết, để chịu lễ báp-têm. Người nào vắng mặt một tuần học sẽ bị loại và phải học lại trong kỳ tới.

Các trường Chúa nhật là một phần chương trình của mỗi Hội thánh. Các lớp đặc biệt cho giáo sư Trường Chúa nhật được tổ chức để huấn luyện họ, không những chỉ dạy dỗ mà còn tích cực dự phần truyền bá đức tin. Các trẻ em trong Hội thánh cũng được học truyện tích Kinh Thánh, hát và lớp mới biết đọc biết viết[4]. Nhưng công việc nầy thường tùy theo sáng kiến của giáo sĩ và mục sư vì họ thường giao lại công việc nầy cho các bà vợ. Nói chung, sự huấn luyện trẻ em không được tổ chức tốt và thiếu một lớp có hệ thống. Điều nầy có thể là do thiếu một sự lãnh đạo cương quyết, và có lẽ phụ nữ không được huấn luyện đầy đủ tại Trường Kinh Thánh Tourane. Tất cả những cố gắng huấn luyện nầy chỉ nhắm mục đích thiết lập Hội thánh tự trị, tự khuếch trương mạnh mẽ tại Việt-nam và được tổ chức năm 1927.

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP GÂY QUỸ: Việt-nam thường được các nước Tây phương mô tả là một xứ giàu có với nhiều tiềm năng kinh tế. Nhưng hai thế kỷ nội chiến và sau một cuộc hưu chiến ngắn ngủi, cuộc xâm lăng dai dẳng và phá hoại cùng "sự bình định" bởi quân đội Pháp để lại dân chúng nghèo thiếu vào lúc các giáo sĩ Tin Lành khởi sự công tác trong xứ. E. F. Irwin đã mô tả rất đúng tình trạng kinh tế bấp bênh của người Việt-nam trong thời kỳ nầy, quần chúng An-nam sống tay làm hàm nhai và cần làm việc ngày nay để có chi sinh sống ngày mai. Một phương diện khác của tình trạng người Việt-nam dưới chế độ thuộc địa Pháp nhằm hồi nầy được phác họa bởi Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong một bài của Tuyển tập: Từ năm 1890-1896, thuế trực thâu đã tăng gấp đôi, từ năm 1896-1898 chúng tăng lên gấp rưỡi. Khi một sự gia tăng được áp đặt trên một làng nào thì làng ấy phải cam chịu và trả. Họ còn biết kêu vào đâu? Thuế thân (một sắc thuế đánh trên nam đinh tuổi từ 18-60, bởi chính phủ Pháp) đã tăng từ 14 xu lên đến 2 đồng rưỡi. Những kẻ nào không ghi tên, tức là những thanh niên dưới 18, bây giờ chẳng có chi để trả bị đánh thuế 30 xu, tức là hơn gấp đôi những kẻ đã ghi tên trả trước kia. Tùy theo nghị định của Quan Thống Đốc Bắc kỳ ra ngày 11.12.1919, tất cả người bản xứ từ 18-60 đều phải trả thuế thân đồng loạt 2 đồng 50 xu[5].

Trong nhiều khu vực, người nghèo chạy trốn khỏi làng để trốn tránh các người thâu thuế nhưng chỉ ít người trốn thoát tay cảnh sát thuộc địa. Giữa cơn khốn khó, một số người dân quê Việt-nam chạy đến các giáo sĩ Mỹ hi vọng rằng sự che chở của người Mỹ có thể khiến họ được miễn, hoặc ít ra cũng được giảm thuế phần nào. Năm 1908, một phong trào quần chúng do hai nhà lãnh đạo quan trọng của phe quốc gia là Phan Bội Châu và Huỳnh Thúc Kháng đã bị chấm dứt trong đau khổ, đàn áp cách dã man và lưu huyết mà chẳng làm cho gánh nặng của người nghèo giảm bớt[6].

Nhưng các giáo sĩ trung thành với chính sách, chẳng xen vào chính trị hoặc khiến cho đời sống kinh tế của dân chúng dễ chịu hơn. Chẳng những họ không giúp những người trở lại đạo về phần tài chánh nhưng còn dạy họ cần đóng góp vào công cuộc giảng Tin Lành ngay từ thuở ban đầu. Hội thánh ở Tourane gồm 18 thuộc viên năm 1918 đã dâng tiền đều sáng Chúa nhật ngay từ ban đầu và trở nên gần tự lập năm sau. Trong năm đó, có báo cáo là số thuộc viên trong ba Hội thánh hiện hữu, hay thật ra là nồng cốt, tăng gấp đôi nhưng tiền dâng thì đã tăng lên gấp 6 lần. Tại Hà-nội với số 10 hội viên, tiền dâng lên đến 100 đồng bạc hoặc 40 Mỹ kim năm 1920. Cùng năm ấy, Hội thánh Tourane đã có thể cấp dưỡng chẳng những cho mục sư của mình mà còn thêm một bà đi bán Kinh Thánh và một người bán sách dạo, từ số tiền dâng của Hội thánh. Các giáo sĩ cũng khởi sự khuyên giục Hội thánh dâng 1/10 lợi tức. Sự dạy dỗ nầy nhận được sự hưởng ứng lần lần, nhất là tại Đà-nẵng, Hội-an, Mỹ tho, Bến tre, Cần thơ. Tuy nhiên nhiều Cơ-Đốc nhân đã học từ Kinh Thánh trách nhiệm dâng 1/10 như là kết quả trực tiếp do sự huấn luyện họ và khởi sự đem 1/10 dâng vào Hội thánh hoặc bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật.

Nhiều giáo sĩ đã có lệ là trả lời những người hỏi đạo mà chất vấn rằng họ sẽ được bao nhiêu nếu họ gia nhập Hội thánh, một câu trực tiếp rằng: Họ sẽ chẳng nhận được gì về phần vật chất, phần trai vụ là thuộc về họ, và họ còn được trông mong và phải trả những chi phí để giảng Tin Lành trong xứ. Vào lúc mà hàng trăm hàng ngàn người đến cùng họ với những cớ tích sai lầm, họ tin rằng hiệu quả tâm lý của sự lấy tiền dâng và 1/10 là "quan hệ hơn số tiền nhận lãnh" vì "nó có khuynh hướng là giữ tín đồ gạo ở bên ngoài Hội thánh".

Tổng số tiền dâng của Hội thánh Đông Dương (kể cả hai giáo sĩ ở Kampuchia) lên tới 5.432.98 Mỹ kim năm 1925, 7.882.93 Mỹ kim năm 1926 và 7.217 Mỹ kim năm 1927. Đây hẳn phải tiêu biểu cho sự hi sinh dâng hiến về phần một dân bị bần cùng hóa. Trong số 7 Hội thánh chính do các mục sư Việt-nam điều khiển và 67 Hội thánh mới và các Hội nhánh, có 8 Hội thánh đã hoàn toàn tự lập năm 1927.

PHƯƠNG PHÁP KHUẾCH TRƯƠNG: R. A. Jaffray đã hướng dẫn công trường truyền giáo Liên Hiệp tại Đông Dương trong những năm đầu tiên, bao giờ cũng chủ trương một phương pháp chủ động cho việc khuếch trương: "Chúng ta phải tiến lên, chúng ta phải chiếm cứ 2 giáo sở mới (cộng thêm vào Đà nẵng và Hà-nội) một giáo sở trong thành phố Hải phòng (Bắc kỳ) và giáo sở ở Sàigòn (Nam kỳ), điều này sẽ tăng gấp đôi số trung tâm chiến lược chiếm đóng". Các giáo sĩ Hội Truyền giáo theo mẫu mực này cho sự khuếch trương trải qua nhiều năm, họ tránh sự tập trung được chừng nào hay chừng nấy. Một cặp mới hoặc hai thanh niên sẽ hầu như bất biến thấy mình được chỉ định để điều hành giáo sở riêng rẽ hoặc mở một giáo sở mới. Nhiều người đã học tiếng Việt tại chỗ trong khi tiếp tục thực hiện, với sự giúp đỡ của mục sư bản xứ, công trình truyền giảng đều đặn. Vừa khi Hội thánh sinh ra, họ sẽ lan rộng ra từ giáo sở chính và mở giáo sở phụ với sự giúp đỡ của tín đồ thường. Khi một giáo sở chính được vững lập với một Hội thánh mạnh, các giáo sĩ lại tiếp tục đi mở chỗ khác, để lại Hội thánh hiện có cho các mục sư và tín đồ bản xứ chăm sóc. Jaffray lần này qua lần khác cảnh cáo các giáo sĩ "Hãy nhớ các bạn chẳng được phái tới Việt-nam để làm chúa, hoặc làm giám mục và bạn không được sai phái để làm mục sư của giáo hội".

Phương pháp lan rộng mau chóng này chắc chắn có các lợi điểm. Các giáo sĩ càng có thể lan rộng thì họ càng có thể đạt đến các mục tiêu đã biểu lộ là tới đến mỗi nhóm ngôn ngữ tại Đông Dương. Với sự xác tín này, họ đã gửi hai cặp đi Nam-vang và Battambang ở Kampuchia, dầu tổng số lực lượng ở Đông Dương chưa đạt tới số 25 điểm. Một giáo sở khác Cơ-Đốc mở ở giữa bộ lạc Thổ tại Lạng sơn năm 1927 bởi ông bà J. J. Van Hino cộng thêm với công việc của ông bà giữa người Việt-nam trong thành phố. Cũng theo kiểu mẫu ấy, trong khi các công trường Việt-nam và Kampuchia còn đang thiếu người, năm 1929 hai giáo sĩ được phái tới Luang Prabang, thủ đô của vương quốc Lào. Cũng năm ấy, một cặp khác đã thiết lập một giáo sở tại Ubon, Thái lan. H. A. Jackson, cũng phải từ giả chức vụ đang kết quả ở Cần thơ, Nam kỳ để khởi sự công việc tại thành phố nghỉ mát là Đàlạt trên miền cao nguyên Nam Trung kỳ, ở giữa vòng bộ lạc Kơho. Những cố gắng này chẳng bao lâu xúc tiến mạnh với sự chỉ định các giáo sĩ mới tới Hòa bình, Sơn la, Champa, ở Bắc kỳ và Ban-mê-thuộc, Pleiku và Djiring ở Trung kỳ. Rất thích thú mà chú ý là: các tín đồ và truyền đạo Việt-nam cũng thừa tiếp lấy sức xung kích và lan rộng ấy là theo sáng kiến riêng và trong nhiều trường hợp đã thành công trong sự thiết lập các Hội thánh mới trước khi các giáo sĩ đến nơi. (còn tiếp)

[1] Nguyễn Khắc Xuyên, Quan điểm thần học, Đại học, tháng 2.1968, t.41, 35-36.
[2] Chương trình dạy trong Trường Kinh Thánh Tourane, Lê văn Thái, sđd, t.36.
[3] H. H. Dixon, Báo cáo Tiếng Gọi Đông Dương (9.1932, t.90)
[4] Herbert A. Jackson, sđd, t.24, Stebbins, sđd, t.47.
[5] Bernard B. Fall, Hồ Chí Minh on Revolution (New York, Frederick A. Praeger, 1967, t.94/5 tt)
[6] Phạm văn Sơn, sđd t.43, Nguyễn Phúc Tân, sđd t.342-343.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by