You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp c)

LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp c)


By admin - Posted on 20 March 2009

LỊCH SỬ HTTL/VN

(CHƯƠNG IV - tiếp c)

NHỮNG HỘI ĐỒNG BỒI LINH VÀ CẦU NGUYỆN: Trung thành với sự thực hành đặc sắc của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp từ những năm đầu tiên và do đó Hội còn tồn tại, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Đông Dương coi Hội Đồng Bồi linh như là những biến cố quan trọng nhất cho cả năm. Hai hội đồng chung được triệu tập mỗi năm, một cho các giáo sĩ, còn một cho tín đồ bản xứ.

Trong 4 năm công trường Đông Dương còn là 'phụ thuộc' cho Hội đồng Hoa Nam, các giáo sĩ đôi khi phải đi tới Quảng Tây, Trung Hoa để gặp các bạn đồng nghiệp cầu nguyện và nghiên cứu Kinh Thánh. Nhưng theo gợi ý của Tấn sĩ R. H. Glover, Bí thư Hải ngoại của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đã qua thăm Việt-nam năm 1915, một Hội đồng truyền giáo khu vực được tổ chức cho các giáo sĩ phục vụ trong xứ. Mục sư Isaac Mess, Hội Trưởng Hoa Nam được bầu làm Chủ Nhiệm, R. H. Jaffray, người thay thế Mess năm sau, thường xuống Đà-nẵng để gặp giáo sĩ Đông Dương trong các Hội đồng thường niên chẳng những để cầu nguyện khiển trách, huấn luyện các lãnh đạo, đặc biệt là để khuyến khích các giáo sĩ mới tới, cùng gây cảm hứng cho mọi người. Các giáo sĩ cũng chia sẻ những từng trải trong chức vụ tương đối với nhau trong việc báo cáo chi tiết về những thành công hay thất bại trong năm. Sau 1930, các Hội đồng khu vực truyền giáo Đông Dương, như một qui tắc, được triệu tập vào mùa hè tại thành phố nghỉ mát Đàlạt, nơi họ có thể ngụ trong nhà trường nội trú của các con giáo sĩ.

Bắt đầu từ năm 1924, một Hội đồng thường niên được họp tại Tourane (là Đà-nẵng hiện nay) cho các thủ lãnh Hội thánh bản xứ, kể cả hàng giáo phẩm lẫn đại diện tín đồ. Các giáo sĩ cũng dự hội đồng này hoặc như là diễn giả hoặc cố vấn đặc biệt là trong những năm đầu. Tourane, trung tâm của xứ, có thể đến bằng tàu thủy hoặc xe hơi, xe lửa. Những hội đồng được qui định vào lúc thuận tiện cho các học viên Trường Kinh Thánh một dịp tiện dự phần vào sự huấn luyện thêm vào cuối niên học. Các diễn giả của Hội đồng là mục sư bản xứ hoặc thủ lãnh truyền giáo từ Mỹ hoặc ở các khu vực truyền giáo, hoặc các thủ lãnh Hội thánh Á châu. Nhiều người tham dự cảm thấy đức tin được thêm bổ dưỡng và từng trải thuộc linh được phong phú bởi sứ điệp Kinh Thánh và những lời chứng cá nhân được trình bày tại hội đồng. Một số lớn các thanh niên nam nữ dâng đời mình cho chức vụ như kết quả của những báo cáo và sự kêu gọi từ các giáo sĩ và các thủ lãnh bản xứ như nhau. Nhiều đại biểu tín đồ qua những từng trải của đồng đạo, học tập dâng tiền rộng rãi hơn cho ngân quỹ Hội thánh hoặc các công tác tập thể do Hội thánh bản xứ gánh vác như cấp dưỡng cho các truyền giáo Việt-nam tới các bộ lạc, xây dựng cơ sở mới cho Trường Kinh Thánh hoặc cho văn phòng Tổng Liên Hội.

Những Hội đồng Tổng Liên Hội này cùng với các hội đồng khác trên một mức độ nhỏ hơn cấp địa hạt hoặc tỉnh, có khuynh hướng "mở rộng thị giác của tín đồ địa phương", nhiều người chịu nhiều bắt bớ vì cớ đức tin mới của họ, và giúp họ nhận biết họ là "thuộc viên của gia đình toàn cầu" gồm có những nhóm nhỏ rải rác trong xứ mà cũng là đoàn dân đông từ các nước ngoại quốc nói các thứ tiếng khác nhau nhưng chia sẻ cùng một hi vọng, sự xác tín và lối sống. Bởi vậy, hiệu quả tìm kiếm bao gồm cả thuộc linh và tâm lý. Các thủ lãnh giáo sĩ cũng ban lời khuyên và sự huấn luyện thực tiễn cho các thủ lãnh Hội thánh bản xứ bằng cách chia sẻ với họ những trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn các hội đồng, và điều khiển vài công việc kinh doanh của Hội thánh ở mức độ quốc gia và như vậy, chuẩn bị cho việc tổ chức sau cùng của Hội thánh Tin Lành Việt-nam vào cuối thời kỳ này.

SỰ PHÁT TRIỂN HỘI THÁNH: Như một người quan sát kỹ lưỡng sự phát triển của đoàn thể Tin Lành tại Việt-nam giữa năm 1911, khi các giáo sĩ tiền phong đổ bộ lên Đà-nẵng và năm 1927, khi Hội thánh Tin Lành Việt-nam được chính thức thành lập, ba thời kỳ riêng biệt hiện ra, nổi bật nhất là các biến động sau:

a). Từ 1911 đến 1918 khi Đệ nhất thế chiến kết thúc
b). Từ 1918 đến khi mở Trường Kinh Thánh Đà nẵng năm 1921
c). Từ năm 1921 đến sự chính thức tổ chức Hội thánh Tin Lành Việt-nam năm 1927

a). 1911-1918: Với sự giúp sức chân thành của ông Bonnet, người đại diện của Thánh Thơ Công Hội tại Tourane, và với sự cộng tác của ba nhân viên bán sách đạo, Phan Đình An, Phan Yến và Lo, Paul M. Hosler có thể khởi học tiếng và phân phát một số phần Kinh Thánh và truyền đạo đơn. Tuy nhiên, cuối năm thứ nhất, ông báo cáo có người chịu lễ báp-têm đầu tiên ở Việt-nam. Người trở lại đạo đầu tiên này tất nhiên là một trong mấy người bán sách dạo đã tiếp nhận đức tin Tin Lành qua những sách bằng chữ Nho mà ông đang bán, và cũng nhận được sự giáo huấn thêm từ vị giáo sĩ mới đến. Khi Đệ nhất thế chiến bùng nổ, trong khi các đồng nghiệp của Hosler còn tập trung vào sự học tiếng, ông khởi sự xuất bản các đoạn Kinh Thánh bằng tiếng Việt. Cùng năm ấy thấy F. A. Soderberg và A. H. Birkel, dưới sự chỉ dẫn của Hosler mở một giáo sở ở Faifoo (Hội an) 20 dặm ở phía nam Đà-nẵng. Những bước mới để khởi công tại Hải phòng, Hà-nội, thủ đô Đông Dương, đầu năm 1915. Từ các giáo sở này, những sổ ghi chép chính thức thấy có 6 thuộc viên và ba người mới chịu báp-têm trong năm. Nghị định quan Toàn quyền Đông Dương tháng 12.1915 chẳng những giảm số giáo sĩ xuống còn 5 và hạn chế hoạt động của họ đến một giáo sở thôi, mà còn gieo sự khủng khiếp để nhát nhiều người hỏi đạo và các thuộc viên tương lai không dám tới khuôn viên Đà-nẵng.

Năm 1916 đánh dấu sự khởi đầu tăng trưởng của Hội thánh Đà-nẵng, ghi nhận 18 người chịu lễ báp-têm, số thuộc viên là 25, một Trường Chúa nhật gồm 100 người. Có hai giáo sĩ (W. C. Cadman và vợ) định cư tại Hà-nội ngay sau khi bãi bỏ lịnh cấm giảng với sự cho phép ngầm của quan Toàn quyền. Nhưng mãi đến ngày đình chiến năm 1918, các lực lượng tăng cường mới cho phép Hội Truyền giáo xét đến sự chiếm đóng các trung tâm mới. Vào thời này, Hội thánh tại Tourane đã tăng với số tín đồ là 58 và đã mở một Hội nhánh tại Hải châu ở ngoại thành, phía Nam thị xã Tourane. Tại Hà-nội có 4 người trở lại chịu lễ báp-têm và nhà giảng nhánh, 3 hay 4 tối mỗi tuần đầy những người thuộc giai cấp thông minh lanh lợi. Những Trường Chúa nhật trong hai thành phố ghi một tổng số 400 học viên. Thời kỳ này biểu thị đặc tính bởi sự dọn đường học tiếng, triệt thoái bộ tham mưu, ngộ nhận về phần chính quyền, và những hoạt động hạn chế về phần các giáo sĩ do nhân tố chủ quan cũng như nhân tố khách quan. Sự ghi những người mới trở lại và người hỏi đạo vào lúc ngắn ngủi này chứng tỏ một ý nghĩa rằng người Việt khao khát tìm hiểu và chấp nhận đức tin mới bất kể phẩm chất của sự trình bày sứ điệp trong giai đoạn sớm này cùng sự nghi kỵ của nhà đương cuộc Pháp đang lo xiết chặt bàn tay trên dân chúng thần phục họ.

b). 1918-1921: Quân đội đồng minh chiến thắng Đức quốc xã đã đánh tan sự sợ hãi và hoài nghi về phần chính quyền Pháp đối với những giáo sĩ Mỹ và Gia-nã-đại làm việc tại các thuộc địa và các xứ 'bảo hộ' của họ. Những giáo sĩ mang tên Đức đã lìa khỏi Việt-nam không trở lại. Hai người từ miền Scandinavia đã được điều động đi Trung hoa, một người trong số đó, J. D. Olsen, được phép vào xứ nhưng chỉ sau khi thế chiến kết thúc. Ông nầy cùng với I. R. Stebbins đã đi Sàigòn, thành phố cảng lớn nhất xứ Đông Dương, để khởi sự một Hội thánh trong khi còn học tiếng Việt và tiếng Pháp. Qua sự gắng công của họ, hai Hội thánh được sanh trong thành phố này, một cho người Huê Kiều ở Chợlớn và một Hội thánh cho người Việt ở Sàigòn. Hai năm sau, Stebbins mở một Hội thánh mới ở Sa-đéc, trong nội địa Nam Kỳ. Cần thơ, một thành phố lớn nhất miền Tây Nam kỳ, và Châu đốc, thị trấn ở gần biên giới Kampuchia, mở năm 1921 bởi H. A. Jackson và A. E. Grupe, cũng năm ấy, R. H. Jackson đã định cư tại thành phố cảng Hải phòng, từ nơi đó, hai người đến trước ông đã bị trục  xuất.

Năm 1927 đánh dấu một số biến động quan trọng. Hội thánh đầu tiên ở Tourane đã hoàn toàn tự lập và có 115 thuộc viên. Một Trường Kinh Thánh hợp thức mở cửa để đón nhận một lớp học chín người, và như vậy khởi đầu sự hình thành hàng giáo phẩm bản xứ, nó chứng tỏ là chủ yếu cho sự bành trướng của Hội thánh Tin Lành chẳng những chỉ ở Việt-nam mà còn ở khắp cả Đông Dương. Cộng thêm vào Hoàng Trọng Thừa, mục sư của Hội thánh Tourane đã nhận sự huấn luyện đặc biệt bởi các giáo sĩ và qua một lớp hàm thụ từ Trường Kinh Thánh Luchow, Hoa Nam, vài phó mục sư đã thỉnh thoảng giúp đỡ trong việc giảng Tin Lành tại Tourane, Hải châu, An hải, một Hội nhánh của Tourane. Một người trong vòng họ, Đoàn văn Khánh, sau một sự huấn luyện ngắn hạn đã hiệp lực với Olsen ở Sàigòn và làm việc trong vài tháng, nhưng lại trở về Đà-nẵng ngay để được huấn luyện chính thức vào dịp khai giảng Trường Kinh Thánh. Cuối năm 1921 với 22 giáo sĩ tại khu vực được 5 truyền đạo sinh giúp đỡ, Hội Truyền giáo đã vững lập 8 giáo sở và hai chi nhánh, tổng số lên đến 8 nhóm Hội thánh với 183 tín hữu.

c). 1921-1927: Đây có lẽ là thời kỳ quan trọng nhất trong sự mở mang công trình truyền giáo tại Việt-nam trước khi Hội thánh Tin Lành Việt-nam được chính thức tổ chức. Với hầu như cùng một bộ tham mưu năm 1921, 1924, 1925, số các giáo sở chính tăng lên từ 5-10 năm 1924 và 11 năm 1925. Mỗi giáo sở chính có mục sư bản xứ hoặc truyền đạo và tổ chức riêng của Hội thánh, vì như thủ lãnh truyền giáo đã ngây thơ thừa nhận "các giáo sĩ không thể mở các giáo sở mới, nếu không có công nhân người An-nam giúp". Hơn nữa, mỗi giáo sở được dùng làm cái trục cho một số chi nhánh mỗi nơi do một truyền đạo bản xứ điều khiển. Chỉ có hai chi nhánh năm 1921, nhưng tương xứng với cố công nhân gia tăng do Trường Kinh Thánh Đà-nẵng cung cấp, tổng số chi nhánh lên tới 22 năm 1924, 37 năm 1925, và 67 năm 1927. Người ta có thể chú ý rằng: Trong thời gian phát triển mau lẹ này, phần nhiều công cuộc khai thác được làm bởi các nhân viên bán sách dạo, là những người dầu chính thức làm cho Thánh Thơ Công Hội đã được huấn luyện hoặc tại trường Kinh Thánh Đà-nẵng hay tại Hội thánh địa phương dưới sự hướng dẫn của giáo sĩ hoặc mục sư. Một yếu tố quan trọng khác trong sự tăng trưởng của Hội thánh là sự xuất bản Tân Ước năm 1924 và toàn bộ Kinh Thánh năm 1926 bằng tiếng Việt (quốc ngữ) bởi nhà in Tin Lành tại Hà-nội. Số tín đồ chỉ vỏn vẹn 180 năm 1921 đến năm 1924 tăng lên 1.671, 2939 năm 1925 và lên đến 4.236 năm 1927, có nghĩa là trung bình tăng ngót một ngàn chịu báp-têm mỗi năm giữa các năm 1924, 1597 năm 1925, 1361 năm 1927. Như thế chỉ rằng có vài trăm trở lại tình trạng cũ, năm 1925 ghi môt số chịu báp-têm gấp đôi. Nhưng một sự phân tích tỉ mĩ bày tỏ rằng khởi đầu của sự gia tăng này đến từ Hội thánh Mỹ tho, Nam kỳ dưới sự chăm sóc của Trần Xuân Phan. Báo cáo hằng năm về hiện tượng này với những lời lẽ sáng rực như sau: Tại Mỹ tho chứng tỏ một điều độc đáo trong lịch sử truyền giáo của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp, rất hiếm có trong lịch sử của Hội đoàn nào. Ngày 1.1.1925, chỉ vỏn vẹn có 27 tín đồ tại Hội thánh này, nhưng cuối năm số tín đồ chịu báp-têm nhập hội lên tới 1017. Những thuộc viên mới đã dâng 3.105 đồng cho công việc Hội thánh trong năm. Tuy nhiên, chẳng phải ít người đã đến với cớ tích lẫn lộn và sai lạc. Năm sau, khi Lê-văn Thái, một truyền đạo sinh, nắm quyền kiểm soát Hội thánh, những cớ tích sai lầm lần lần được đem ra ánh sáng, khi ông ngay thẳng trình bày sứ điệp đơn sơ như thấy trong Kinh Thánh, chối bỏ những lời ám chỉ chính trị mà người đến trước ông đã khôn khéo gợi ý trong bài giảng mình, những lớp Kinh Thánh được cấp tốc tổ chức tại Mỹ tho và các hội nhánh giúp đỡ kiện toàn đức tin của những tín đồ chân thật và như một kết quả gián tiếp loại bỏ hàng chục 'tín đồ giả dối'. Tuy nhiên trong một năm ông hầu việc Chúa tại Mỹ tho có 565 người trưởng thành, gia nhập Hội thánh bởi lễ báp-têm. Hội chúng lớn này chẳng bao lâu chia thành 3 Hội thánh, năm 1928 chỉ 640 người còn ở lại Hội thánh Mỹ tho. Đây chắc hẳn là phong trào nhân dân lớn nhất tại Việt-nam trong thời kỳ này. Nhiều tín đồ tỏ ra là những chứng nhân trung thành cho đức tin, mặc dù vài người phải chịu đau khổ vì áp lực xã hội nặng nề, và trong vài trường hợp chịu bắt bớ nữa. Chính những nam nữ tín hữu này đã có sáng kiến tổ chức ba Hội thánh tại Mỹ tho, Bến tre và Gò công trên một căn bản tự lập đầy đủ, xây cất hai nhà thờ bằng gạch tại Mỹ tho và Bến tre bằng tiền túi của họ. Vào cuối năm 1927, một Hội thánh bản xứ đã hiện ra trong vùng Đông Nam Á gồm có 4.236 thuộc viên trong 74 Hội thánh và nhóm Hội thánh ở Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, ngay cả trong mấy thành phố ở Kamphuchia nữa.

Nói chung, sự tăng trưởng mau nhất này xảy ra ở tỉnh Quảng nam ở Trung kỳ đặc biệt là thung lũng Sông Cái, ở Trung bộ Trung kỳ, và phần trung tâm của châu thổ sông Cửu Long. Những điều kiện kinh tế khả quan hơn của những khu vực này cũng giúp các Hội thánh của họ sớm đạt đến tình trạng tự lập mau hơn là hầu hết các Hội thánh anh em khác, đồng thời cung cấp một số bách phân học viên Kinh Thánh, mục sư và công nhân tín đồ thế tục lớn hơn cho sự phát triển Hội thánh bản xứ.

Sau khi mở các Hội thánh tại Hải châu và An hải, Hội thánh Đà-nẵng cũng khởi sự một Hội thánh ở Nam Ô, một làng đánh cá ở 5 dặm về phía Bắc thành phố, và ủng hộ tài chánh trong nhiều năm, nhưng công việc này chẳng bền lâu. Mục sư của Hội, ông Hoàng Trọng Thừa đã khởi sự cố gắng giảng Tin Lành nhắm vào các bộ lạc sống ở phía Bắc Tourane, nhưng kết quả rất hiếm và công việc bị bỏ dở.

Trung tâm thiết yếu nhất của tỉnh Quảng Nam chứng tỏ là Faifoo (Hội an) ở cửa sông Cái. Tự cơ sở này và qua những cố gắng của các mục sư hoạt năng và sự làm chứng hăng hái của tín hữu, những Hội thánh mọc lên ở Tam kỳ, Lạc thành, Đại an, Trường an và lâu hơn chút nữa tại Thu bồn, Khánh bình, Phú lãnh, Thanh quít, ngoại trừ ở Tam kỳ, tỉnh lỵ của hạt Tam kỳ trong phần cực nam của tỉnh, tất cả Hội thánh trên đều tọa lạc ở thung lũng sông Cái, một trong những khu vực trù phú nhất ở Trung kỳ.

Theo cùng một mẫu mực đó, một nhóm Hội thánh được hình thành quanh Mỹ tho (Bến tre, Gò công, Tân thạch, Quới sơn, Tân an, Cần đước, An hóa, Lộc thuận, Bình đại trên bờ sông Vàm cỏ, và Cần thơ (Phong điền, Cái răng, Ô môn, Kế sách). Hầu hết các Hội thánh như một qui tắc, liên hệ với các hội chính bằng đường sông, nó làm dễ dàng cuộc thăm viếng của các chấp sự cũng như sự đi nhóm của các thuộc viên sống ở các nơi xa vắng vào giai đoạn đầu của cuộc vun trồng Hội thánh, hằng tuần phải đi đến Hội thánh để thờ phượng Chúa vào Chúa nhật. Cũng là việc rất ý nghĩa mà thấy rằng ngay trong thời kỳ đầu tiên của sự truyền bá đức tin Tin Lành tại Việt-nam, phần lớn sự bành trướng này được hoàn tất tự nhiên bởi tín đồ thế tục và các truyền đạo bản xứ. Đồng thời các giáo sĩ được các mục sư bản xứ giúp đỡ mở và điều khiển các trung tâm.

QUAN HỆ HỘI THÁNH VỚI QUỐC GIA VÀ NHỮNG SỰ BẮT BỚ: Như đã chỉ ở trên, Chính phủ Pháp ngó nguýt công trình của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Việt-nam. Vào một thời mà sự thống trị của người Pháp mới tạm được củng cố, sự thắng trận của Nhật trên nước Nga năm 1905, và cuộc cách mạng tại Trung hoa năm 1911 làm rung chuyển cả đấu trường chính trị Việt-nam với những hi vọng mới cho các thủ lãnh quốc gia đang thử lật đổ chế độ thuộc địa Pháp. Phong trào Đông Du, khuyến khích các sinh viên Việt-nam du học hải ngoại, nhất là ở Nhật bản, được hướng dẫn bởi Phan Bội Châu, có lẽ là lãnh tụ cách mạng lớn nhất ở Việt-nam hồi đầu thập niên 1900. Theo báo cáo Phan Bội Châu đã tin đạo Tin Lành trong khi ông ở Trung Hoa[1]

Sau khi đã cản trở những cố gắng sớm hơn việc của các giáo sĩ tiền phong tại Đông Dương, chính phủ Pháp khởi sự trong thập niên 1910 bao dung sự hiện diện của mấy giáo sĩ Gia-nã-đại và Mỹ tại Tourane. Nhưng chiến tranh bùng nổ thình lình với nước Đức và sự tiến quân chớp nhoáng của Đức trên đất Pháp giáng những đòn khiến uy danh của Pháp ở khắp thế giới phải nghiêng ngữa. Sáu trong số chín giáo sĩ làm việc tại Việt-nam năm 1915 đều sinh tại Đức hoặc có gốc Đức. Bởi một sự trùng hợp kỳ lạ, mấy gián điệp Đức hành động tại Trung Hoa và Thái lan đã khuấy động trại quân cách mạng và thậm chí giúp tài chánh cho cuộc tấn công Ta Lung, một đồn bình Pháp thuộc tỉnh Cao bằng, Bắc kỳ, bởi bộ đội của Việt-nam Quang Phục Hội. Chỉ huy của quân đội chẳng ai khác hơn là Nguyễn Hải Thần, sau này trở nên Phó Chủ Tịch chính phủ Hồ Chí Minh năm 1940. Bởi đó, lẽ tự nhiên người Pháp phải nghi ngờ những 'giáo sĩ Đức' này. Quan toàn quyền ra một nghị định trục xuất 5 người trong đám họ kể cả thủ lãnh của họ và đóng cửa những nơi nhóm họp của họ tháng 12.1915. Bốn giáo sĩ còn lại - một người Anh, một người Mỹ, hai người Gia-nã-đại - được phép làm việc trong nhà họ tại Tourane dưới sự quản thúc chặt chẽ của cảnh sát. Rõ ràng chính phủ định chấm dứt các cuộc tiếp xúc thân mật giữa giáo sĩ và người Việt-nam.

Cuộc tiếp đón nồng hậu với Jaffray năm 1916 bởi Quan Toàn quyền tại Hà-nội và sự ngầm cho phép Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp hoạt động trong thuộc địa Pháp ở Tourane, Hải phòng, thường được thừa nhận là nhờ tài ngoại giao của vị thủ lãnh truyền giáo này. Một nhân tố khác có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi đột ngột về chính sách của Pháp: mặc dầu chiến thắng trận Verdun, Pháp đang tìm viện trợ cách tuyệt vọng nơi Hoa kỳ, và việc Hoa kỳ sẽ nhảy vào vòng chiến tại Âu châu, vị Chủ tịch hành pháp của Pháp ở Đông Dương làm một cử chỉ để kết thân với một nhóm người Mỹ, cốt để thiên hạ tin, sẽ có ảnh hưởng phần nào trên công chúng Mỹ. Mặt khác, chính phủ Pháp vẫn giữ quyết định ra tháng 12.1915 và các giáo sĩ bị nghi kỵ chẳng bao giờ được phép trở lại. Khi Đệ nhất thế chiến kết liễu, các giáo sĩ thường báo cáo đã tiếp xúc thân mật với nhà chức trách Pháp. Vài người thỉnh thoảng lại gặp sự đối nghịch về phần các quan cai trị. Tỉ dụ, I. R. Stebbins gặp khó khăn với quan đầu tỉnh Sa-đéc ở Nam kỳ, nhà chức trách Phàp dường như nắm lấy mọi cơ hội để hạ nhục các giáo sĩ và viết những báo cáo phỉ báng những hoạt động của ông với quan Thống đốc Nam kỳ. Để tỏ sự không quan tâm đến vấn đề, quan Thống đốc nói cho một giáo sĩ khác biết về các báo cáo trên và thêm rằng ông đã khuyên nhà chức trách kia nên để cho Stebbins ở yên. Nhưng Stebbins cũng ngây thơ nhận mình có phạm mấy lỗi, nhất là quên không chính thức đóng dấu bản cáo thị ông niêm yết trước cửa nhà thờ như luật pháp đòi hỏi. Mặc dầu trường hợp được bỏ qua và giáo sĩ được tha, nhưng việc này còn chống nghịch ông một thời gian khá dài nữa.

Trong tỉnh Quảng nam, có lệnh sung công và hủy sách đạo Tin Lành vì họ quả quyết nó thuộc loại sách cấm. Người ta có thể chú ý rằng cộng thêm vào một ác ý về phần quan lại, ít nhất có hai nhân tố liên can đến việc đó. Sự phổ biến rộng rãi tại khu vực Quảng nam Đà-nẵng trong những năm đầu thập niên 1900, các phần sách Tin Lành nhập khẩu từ Thượng hải trùng hợp với một sự luân chuyển bí mật sách Hải Ngoại Huyết Thư của Phan Bội Châu, các truyền đơn cách mạng khác, một tổ chức được mang lậu từ Trung Hoa và thường bị đổ cho là khiến nhân dân dấy nghịch. Nhan đề của sách Tin Lành thứ nhì, chuyển dịch qua tiếng Việt là MÁC, là chữ đồng nhất với từ của người Cộng sản Việt-nam dùng cho Karl Marx. Bìa màu đỏ thường dùng cho sách này, bởi nhà in Tin Lành chỉ cốt để cung cấp sự trình bày khác nhau của 4 sách Tin Lành, giúp thêm một chứng cớ cho luận chứng, ít nhất cũng cho một số quá đa nghi trong thời kỳ cuối thập niên 1920, khi đảng Cộng sản đang tăng cường độ tuyên truyền ở khắp xứ. Nó chung các giáo sĩ Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp hưởng sự tự do rộng rãi trong các hoạt động tôn giáo ở Nam kỳ, và trong những nhượng địa ở Hà-nội, Hải phòng, Tourane. Tuy nhiên, trong phần còn lại, dân chúng theo nguyên tắc ở dưới quyền kiểm soát hữu danh vô thực từ triều đình Huế, và các nhà chức trách Pháp, theo điều họ nói, không thể can thiệp.

Thật thế, Hòa ước Giáp thân (1884) cấu thành căn bản cho chủ quyền của Pháp tại Việt-nam, chứng quyết sự bảo đảm quyền lợi của các giáo sĩ và những Cơ-Đốc nhân tùy theo sự qui định của Hòa ước ngày 15.2.1874, thường được gọi là Hòa ước Giáp Tuất. Khoản 9 của Hòa ước này nêu rõ từng chi tiết những quyền này: Đại Nam Hoàng đế (Việt-nam) phải ban sự tự do truyền giảng cho các giáo sĩ cũng như cho quốc dân tiếp nhận đức tin này. Những Cơ-Đốc nhân của Đại Nam quốc được quyền nhóm trong nhà thờ để cử hành lễ tôn giáo không hạn chế nhân số. Tất cả những luật lệ nhằm mục đích kiểm soát các Cơ-Đốc nhân hoặc buộc họ làm những hành động phỉ báng chống với tôn giáo họ nay bị bãi bỏ, Cơ-Đốc nhân được quyền đi thi và giữ các ghế trong chính phủ như các hội viên của tôn giáo khác. Hoàng đế nước Đại nam thỏa thuận hủy bỏ mọi sổ sách hành động chống Cơ-Đốc nhân đã có từ 15 năm trước và áp dụng một tiêu chuẩn cho việc thi cử và tuyển mộ cho việc đánh thuế Cơ-Đốc nhân như các công dân khác. Giám mục và linh mục có thể được tự do lưu hành trong xứ miễn là họ mang một giấy thông hành do văn phòng Quan Thống đốc Nam kỳ cấp và bôi thự bởi Thượng thư hoặc Bộ Lại nước Đại Nam. Các linh mục Việt-nam có đồng một quyền hành để rao giảng cũng như các đối nhiệm người Âu châu. Trong trường hợp phạm luật sự hình phạt đánh đòn bằng hèo, bằng roi vọt sẽ được thay thế bằng hình thức khác. Giám mục và linh mục Việt-nam được quyền mua, bán, thuê nhà cửa hoặc tài sản để xây cất đền thờ, nhà thương, nhà trường, Cô nhi viện… Những tài sản sung công của các Cơ-Đốc nhân phải hoàn trả. Các giáo sĩ Tây Ban Nha cũng được hưởng những đặc ân trên như các giáo sĩ Pháp.

Hòa ước này được áp đặt trên chính phủ Hoàng gia hồi cuộc xâm lăng Pháp kết thúc, thường được giải thích bởi các nhà chức trách Pháp và Việt-nam chẳng những để đảm bảo quyền của Giáo hội Công Giáo Lamã truyền bá giáo lý tại Việt-nam, nhưng đồng thời bởi cùng một dấu hiệu cũng trục xuất mọi tôn giáo khác từ hải ngoại đến. Bởi vậy Đạo Tin Lành phải đặt ở dưới lệnh cấm này tại Bắc kỳ và Trung kỳ trải qua hơn 100 năm.

Hội nhánh tại Faifoo đóng cửa năm 1915 theo sau sự trục xuất 4 vị giáo sĩ, vẫn còn bị đóng cửa năm 1920. Các giáo sĩ bị trục xuất, tuy nhiên những người dân tại vùng phụ cận Faifoo đã đến Tourane tiếp nhận đức tin mới và trở về nhà với các sách đạo Cơ-Đốc và các lời chứng đầy xác tín. Năm 1921, 40 người đã tin đạo, nhiều người phải đi hàng 20 dặm mỗi chiều thứ bảy để nhóm buổi sáng Chúa nhật tại Tourane, và khi họ trở về nhà chiều Chúa nhật thì truyền bá Tin Tức Tốt Lành. Khi số tín đồ thêm lên, họ muốn thành lập Hội thánh riêng tại Faifoo, nhưng không xin được phép.

E. F. Irwin, Hội Trưởng Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp hồi bấy giờ được phép hội kiến với quan Khâm sứ (giới chức cao cấp nhất của Pháp bên cạnh chính phủ hoàng gia) ở Huế, thủ đô xứ Trung kỳ. Vị quyền Khâm sứ giữ chức vụ này đặc biệt thân hữu với các giáo sĩ trong vài trường hợp khác nhau. Dầu ông tự nhận mình không có quyền quyết định, ông hứa sẽ nói một lời thay cho Hội Truyền giáo khi quan Khâm sứ thường trực đến. Khi giáo sĩ có một cuộc hẹn gặp với một viên chức mới, người nhận được một giấy phép hơi lạ. Quan Khâm sứ chỉ nói đơn sơ rằng: "Tôi không thể đổi cách giải thích Hòa ước, nhưng cứ tiếp tục mở một Hội Tin Lành tại Faifoo hầu cho những người này có thể thờ phượng Đức Chúa Trời theo ý thích của họ. Tôi sẽ không gặp ông, và tôi sẽ truyền cho cảnh sát không đến thăm quí ông nữa".  Hội thánh Hội an được dung túng nhưng các Hội thánh lân cận là Tam kỳ và Lạc thành, khởi sự trong cùng một tỉnh qua lời chứng của các Cơ-Đốc nhân Việt-nam, không được hưởng cùng một đặc ân. Trải qua mấy năm nhóm tín hữu ở Tam kỳ, một thị trấn cách 45 dặm về phía Nam Đà-nẵng phải thờ phượng cách lén lút trong các nhà riêng và nhiều buổi lễ bị gián đoạn và mấy thuộc viên tạm thời bị bắt giam. Hội thánh tại Lạc thành được xây dựng ít nhất bởi một nhóm tín đồ thế tục trong một làng cách Hội an 20 dặm về phía Tây, phải đóng cửa theo lệnh của nhà chức trách hàng tỉnh.

Ngay tại Tam kỳ nơi các nhóm Tin Lành được hưởng tương đối tự do thờ phượng, nhiều thuộc viên đã chịu sự bắt bớ và khuấy rối vì đức tin của họ trong thời gian này. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, những sự rắc rối không đến từ các nhà cầm quyền hàng tỉnh hoặc cấp cao hơn, bèn là từ các chức viên ở hàng xã hay phủ huyện. Tại Mỹ tho, sau nhiều năm đọc Kinh Thánh, một phú gia tỏ mình muốn 'theo Đấng Christ'. Sau khi trở nên Cơ-Đốc nhân, ông không còn dự phần vào những việc cúng tế trong làng mà ông thường đóng góp rộng rãi. Sau nhiều cố gắng vô ích nhằm can gián ông đừng theo 'đạo ngoại quốc' các chức sắc hương thôn đã tố cáo ông trốn thuế, vì họ coi sự đóng góp vào việc cúng tế trong làng là một hình thức thuế khóa đánh trên mỗi công dân. Người tín đồ bị bắt đánh đòn và thuyên chuyển từ nhà ngục này sang nhà ngục khác trong huyện, mỗi đợt đều bị đánh đòn. Trường hợp của ông cuối cùng được đem ra trước toà án hòa giải hàng tỉnh. Ông được tha bổng nhưng vẫn còn tiếp tục một thời gian khá lâu bị cộng đồng địa phương khuấy rối.

Ít lâu sau đó, một toán cướp đánh phá một làng gần đó, ăn cắp chiếc phà của một tín hữu để chở đồ cướp được. Chiếc thuyền được tìm thấy nhiều dặm ở vùng hạ lưu sông Tiền giang, với chứng tích trên thuyền, nhà chức trách địa phương nắm lấy cơ hội tố cáo người tín đồ dự phần trong sự cướp bóc. Mặc dầu mọi chứng cớ 'bắt tại trường' ông có thể cung cấp để chứng minh sự vô tội, ông vẫn bị giam 8 tháng không xét xử, trong khi công cuộc kinh doanh của ông bị tiêu hủy. Không sợ, không chán nản bởi những nghịch cảnh đó, ông còn làm chứng cho các bạn đồng tù và đem một số đến tiếp nhận đức tin mới. Cuối cùng khi được tha bổng, ông hầu trở nên nghèo thiếu, không một xu dính túi, nhưng nhờ sự giúp đỡ của các bạn đồng đạo ông thu xếp và thiết lập được một Hội thánh trong làng mình.

Nói chung các tín đồ gặp nhiều bắt bớ và chống đối tại hai xứ bảo hộ Trung kỳ và Bắc kỳ hơn là Nam kỳ, và điều này người ta có thể chú ý là do những hệ thống chính trị của mỗi 'kỳ' của xứ Đông Pháp. Tại Trung kỳ, nơi có sự bắt bớ dai dẳng nhất, chỉ vài vị quan lại hàng tỉnh thực thi sắc lệnh của hoàng triều, hoặc áp dụng các Hòa ước năm 1874 và 1884 (hoặc thật ra là sự giải thích chính thức của các Hòa ước) để cấm sự truyền bá Tin Lành ở trong cùng thẩm quyền của họ. Không có sự lưu huyết như Hội thánh Công Giáo Lamã phải chịu đựng trong thế kỷ đầu tiên của cuộc truyền giáo tại Việt-nam. Sự khuấy rối dù mãnh liệt, và trong vài trường hợp có hại cho các tín đồ mới, không sao có thể sánh với điều cộng đồng Tin Lành chịu ở tại Trung Hoa trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

KẾT QUẢ:  Giữa năm 1911 và 1927, đức tin Hội thánh Tin Lành đã lan rộng từ Đà-nẵng đến 4 trong 5 xứ Đông Dương. Bên cạnh công trình tại các thành phố Kamphuchia là Nam vang và Battambang, nơi người dân Việt-nam cũng tới được những Hội thánh mọc lên trong 7 thị trấn lớn ở Nam kỳ, trong 4 tỉnh tại Trung kỳ, và 2 tỉnh ở Bắc kỳ, tổng số lên đến 82 Hội thánh và giảng đường. Với số tín đồ tích cực ít hay nhiều là 4.236, tín đồ Tin Lành tại Việt-nam đã được tổ chức thành một Hội thánh bản xứ và giữ vai trò có ý nghĩa trong đời sống tôn giáo của xứ sở. Tuy nhiên, rất ít người trong giai cấp học giả tin theo đạo Tin Lành, dầu thỉnh thoảng cũng có một cá nhân gia nhập Hội thánh. Đa số những tín đồ là nông dân, thủ công nghiệp, công nhân, buôn bán và học sinh. Những người này với một nhóm nhỏ hơn thư ký, công chức, giáo viên và quân nhân đều là đại diện của từng hàng ngũ liên tiếp trong xã hội Việt-nam.

Những kết quả đáng chú ý của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Việt-nam không được đo bởi số hội viên hoặc Hội thánh được thiết lập, Những kết quả số lượng chắc chắn chẳng đáng kể so với kết quả của các tổ chức tôn giáo lớn hơn. Có lẽ phương diện hấp dẫn nhất của các nhóm Tin Lành mà lúc đó ở rải rác trên nhiều phần xứ, ít nhất có một số lớn người Việt-nam là sự hiện diện tại giữa vòng họ hàng trăm người mà cuộc đời đã được thình lình thay đổi. Người nghiện thuốc phiện, trộm cắp, gian xảo, người nam và nữ mà gia đình bị tan vỡ vì rượu chè, cờ bạc hay vũ phu, con cái đã bỏ đạo hiếu và sống trong trụy lạc, đã đột nhiên xoay bỏ nếp sống của mình và trở nên những người con ngoan ngoãn, những người vợ hoặc chồng đoan trang và các công dân đáng tôn trọng. Tất cả đều nhờ sứ điệp Tin Lành mà họ đã tiếp nhận như kết quả của sự tiếp xúc với các bạn hữu Tin Lành, nhiều người cũng quả quyết rằng họ cũng có đồng một từng trải đó. Ấy là do sự biến cải trên tính tình cá nhân mà các giáo sĩ Hội Truyền giáo đặt dấu nhấn mạnh trong sự truyền giảng, dạy dỗ của họ, đặc biệt là thử nghiệm các tín đồ cầu lễ báp-têm vì họ coi đó là tiêu chuẩn giá trị duy nhất để đo sự thành công hoặc thất bại trong cố gắng của họ. Muốn trở nên một tín đồ Tin Lành trong thời gian này, khi cổ lệ còn đứng vững trong dân gian thường cần một sự can đảm vì nó có nghĩa là ly khai với cuộc sống hương thôn của xã hội Việt-nam và hầu hết các trường hợp tách ra khỏi sự kiểm soát của toàn thể gia đình trên một cá nhân.

Ngoại trừ lời hứa "phước lành trong Chúa Jêsus Christ." Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp chẳng hề cống hiến quyền lợi hiển nhiên cho tín đồ, không giống các cơ quan truyền giáo Cơ-Đốc khác, cung cấp đồng thời với sứ điệp về hi vọng còn có những đặc quyền về thể xác và vật chất trong các trường học, nhà thương, và các chương trình an sinh xã hội, các truyền giáo liên hiệp đã nói rõ cho những người Việt-nam đến hỏi đạo rằng họ "chẳng được hưởng một lợi vật chất nào". Kết quả là những người gia nhập Hội thánh Tin Lành trong thời kỳ này vẫn đứng vững sau những năm chịu khuấy rối và áp lực xã hội, đã khuyến khích các thuộc viên của nhóm khác mà họ đã đến từ đó, bằng những lý tưởng đạo đức Cơ-Đốc và tánh hạnh cao quí của họ.

Đây là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến sự thay đổi trong đời sống gia đình và hương thôn Việt-nam cùng với các dòng tư tưởng khác, đã mở đường đưa đến một số lớn trong các tầng lớp khác nhau của xã hội Việt-nam đến sự đổi thay triệt để trong đời sống văn hóa của quốc gia Việt-nam như một toàn bộ tiếp theo cuộc cách mạng năm 1945. (Hết chương IV)

[1] Phạm văn Sơn, sđd t.43, Nguyễn Phúc Tân, sđd, t. 342.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 2 guests online.

Hosting by