You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương V)

LICH SỬ HT/VN (Chương V)


By admin - Posted on 26 March 2009

Chương V
PHONG TRÀO HỘI THÁNH BẢN XỨ
TỪ 1927 - 1941

Sau 16 năm khai khẩn và gieo giống, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Đông Dương đã thấy mục tiêu thứ nhất đạt được vào tháng 3.1927, sự tổ chức các Hội thánh địa phương ở rải rác khắp cả Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, và vài nhóm Tin Lành ở Kamphuchia thành một đoàn thể quốc gia, Hội thánh Tin Lành Việt-nam. Tuy nhiên, tên này phải chịu những đổi thay qua các năm, năm 1927, có tên chính thức là Hội Tin Lành Đông Pháp (The Evangelical Church of French Indochina) được chấp nhận. Năm 1930, khi hiến chương Hội thánh được duyệt lại lần thứ nhất, từ "Việt-nam" được xen vào trong danh hiệu Hội thánh ngay trước từ "Đông Pháp". Theo sau sự lật đổ chế độ Pháp vào cuối thế chiến thứ II, từ "Đông Pháp" được loại bỏ ngay. Hội đồng Tổng Liên Hội năm 1950 cuối cùng chấp nhận danh hiệu "Hội thánh Tin Lành Việt-nam" (The Evangelical Church of Vietnam) cộng với tính từ "thánh" vào danh từ Hội mà nhiều đại biểu đã chỉ ra, có thể áp dụng cho bất cứ hội hoặc hiệp hội thế tục nào[1].

TÌNH HÌNH TẠI VIỆT-NAM: Nền kinh tế khủng hoảng năm 1927 đã có những tiếng dội trong các công trường truyền giáo khắp thế giới. Tại Việt-nam, những hậu quả đầy trọn trên kinh tế của xứ đến sau đó vài năm, đặc biệt vào đầu thập niên 1930. Những thuộc địa và các xứ bảo hộ Đông Dương cũng ràng buộc với hệ thống kinh tế của Pháp, như là nguồn chính các nguyên liệu cho các kỹ nghệ Pháp, và như vậy cũng đồng cam chịu những hiệu quả của kinh tế khủng hoảng. Nhưng sự khủng hoảng này trức tiếp ảnh hưởng đến các hãng của Pháp đang khai thác những tài nguyên Đông Dương và được kiểm soát chung với một số Hoa kiều xuất vốn hầu hết các ngành kỹ nghệ và thương moại lớn ở xứ Đông Dương[2]. Người Việt-nam đã được hưng thịnh trong các kỹ nghệ nhẹ hay xuất cảng gạo, chẳng bao lâu trở thành nạn nhân của kinh tế khủng hoảng, và mắc nợ Ngân Hàng Đông Dương và những ngân hàng Pháp đã cho vay tiền. Tuy nhiên, quần chúng trong dân gian như người ta trông đợi, thấy gánh nặng thuế khóa tăng thêm trong khi lợi tức bị giảm xuống tới mức tối thiểu. Thật thế, lợi tức của họ thật đã bị thủ tiêu bởi thuế thân của họ[3]. Đồng thời, các thực dân Pháp tăng sự chiếm hữu đất đai, trong hầu hết các trường hợp chỉ thiệt hại cho người bản xứ, từ một số diện tích 11.390 hécta năm 1890 tới cỡ một triệu hécta năm 1939.

Khi những phong trào Cần Vương (Rovalist) đuổi người ngoại quốc và lập lại sự độc lập quốc gia, đã trải qua một chuỗi thất bại trong Đệ nhất thế chiến, nhiều thủ lãnh quốc gia đã thử hoàn tất những cải cách khiêm nhượng qua sự hợp tác với chế độ thực dân Pháp. Tuy nhiên, chương trình của họ bị thẳng tay bác bỏ và một lần nữa họ phải quay lại với những tổ chức kín và những phương thức bạo động vào giữa thập niên 1920[4]. Trong số các đảng chính trị có hai đảng thế lực nhất là Việt-nam Quốc Dân Đảng và Đông Dương Cộng Sản Đảng. Cả hai đã giữ vai trò quan trọng trong sự tranh đấu của người Việt-nam trải 40 năm vừa qua. Cả hai đều nhắm mục đích lật đổ ách thống trị của Pháp và thiết lập một nước cộng hòa. Quốc Dân Đảng thành lập tháng 12.1927, dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Thái Học, khởi sự một cuộc tổng khởi nghĩa năm 1930 trong các thành phố Hà-nội, Hải dương, Bắc giang, Phú thọ, Yên bái (Bắc Việt). Tuy nhiên, phong trào chứng tỏ là chưa thành thục và cuộc nổi loạn bị chà nát mau chóng. Quốc Dân Đảng bị ngắt ngọn và 13 vị thủ lãnh trên hết, kể cả Nguyễn Thái Học phải lên máy chém ở Yên Bái năm 1931. Sự lu mờ của những người Quốc Dân Đảng trên đấu trường chính trị được kết hợp với một sự nổi dậy mau chóng của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Đảng này thật ra là sự dung hợp của 3 đảng Cộng sản đối địch nhau, ấy là Việt-nam Thanh niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, cũng được gọi là An-nam Cộng sản Đảng, Đảng Cộng sản Đông Dương và Tân Việt Cách Mạng Đảng, đã điều hành tại Việt-nam, Hoa Nam và Thái lan từ giữa thập niên 1920. Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc, biệt hiệu là Lý Thụy và ngày nay ai cũng biết là Hồ Chí Minh. Đảng Cộng sản Đông Dương Thống nhất hiện ra trên cảnh trí tháng 1.1929, và binh vực chính nghĩa của công dân và nông dân. Đảng long trọng hứa hẹn trong bản tuyên ngôn ra năm 1929 "Chúng tôi muốn giao các xưởng máy cho các công nhân, ruộng đất cho nông dân, nguồn lợi tức cho nhân dân, quyền hành cho các hội nghị các đại biểu của các tầng lớp công nhân trong xứ." Sự hưởng ứng bản tuyên ngôn là tức thời và lan rộng, nhất là về phần người nông dân đang chịu cảnh đói kém kéo dài năm 1930.

Để sánh kịp với sự nổi dậy của Quốc Dân Đảng, người Cộng sản tổ chức quần chúng biểu tình đông đảo nông dân trong tỉnh Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng Ngãi (Bắc và Trung kỳ) hủy diệt guồng máy chính quyền địa phương và thiết lập các 'Xô Viết' địa phương, và các chế độ cách mạng trong các tỉnh này trong vòng mấy tháng. Cuộc nổi dậy này về sau cũng lan rộng vào Nam, kèm theo sự ám sát và hành quyết nhà chức trách Việt-nam đáng ghét đã phục vụ chế độ thuộc địa và bởi sự hủy diệt các thị sảnh và các sổ sách thuế má. Phong trào cũng bị đàn áp tàn nhẫn bởi người Pháp đã dùng chiến thuật oanh tạc trên không và sự khủng bố của đoàn quân Lê dương trên đất. Romain Rolland, một tác giả Pháp, cầm đầu một ủy ban ?ie^`u tra chính thức hai cuộc nổi dậy, liệt kê 699 vụ hành quyết không xét xử năm 1930, cũng như có 3.000 người bị bắt, 83 án tử hình, 548 án khổ sai chung thân cho cả hai đảng cách mạng. Năm 1932, một số ước chừng 10.000 tù nhân chính trị ở rục xương trong tù, trong khi một số lớn người Cộng sản và Quốc Dân đảng bị xử tử.

Nhiều nhà ái quốc, thay vì theo những đảng chính trị chiến đấu trong cuộc khởi nghĩa có vũ trang, lựa một con đường ôn hòa hơn, họ gắng sức hiểu biết cặn kẽ văn hóa và kỹ thuật Pháp và sửa lại, lẽ cố nhiên là lần lần, những tập quán và lối sống đã có từ ngàn xưa của quốc dân. Một thủ lãnh canh tân tại Trung kỳ nói: "Chúng ta yếu đuối và bị đàn áp vì chúng ta không muốn bước ra khỏi con đường hết hoạt động của chúng ta". Trong cố gắng canh tân chung này để làm tươi trẻ lại xã hội Việt-nam, nhiều nhà cải cách lợi dụng sự truyền bá rộng quốc ngữ để phổ biến sứ điệp của họ cho quần chúng. Hai trong các nhóm các ảnh hưởng nhất, đã góp phần vào sự phát triển những khái niệm mới về cuộc đời bằng cách ghi vào trí não dân chúng một sự tổng hợp cân xứng ít hay nhiều các tư tưởng Tây và Đông Phương, là các ban biên tập của tập san Đông Dương Tạp Chí, và Nam Phong Tạp Chí, và các nhà xuất bản tương đối của họ. Mặc dầu họ khởi sự vào đầu thế kỷ, nhưng điểm chạm mạnh nhất của họ được cảm xúc giữa các thập niên 1920 bởi một phong trào cấp tiến hơn, cầm đầu bởi các văn sĩ trác tuyệt của Tự Lực Văn Đoàn. Trong cuốn sách danh tiếng "Mười Điều Tâm Niệm" của Hoàng Đạo, một trong số thủ lãnh, lấy việc 'theo cái mới, theo hoàn toàn không ngần ngại' làm giáo điều đầu tiên và chủ chốt của người Việt-nam. Các văn sĩ và các phóng viên đã sắp đặt một hợp đồng tấn công những điều mê tín, phong tục cổ và những lạm dụng đã gây tai ách cho đời sống gia đình và xã hội Việt-nam. Còn những nhóm khác cũng khua chuông đòi cải cách xã hội theo đường hướng xã hội trong các báo định kỳ của họ: La Lutte, Le Militant, Le Travail, Đn Avant (?), Hà-thành thời báo và Tin Tức, v,v…

Trong Địa hạt tôn giáo, sự xuất hiện và tăng trưởng mau lẹ của hai tôn giáo Cao Đài và Hòa Hảo ở Nam kỳ từ năm 1920 đã đưa vào một kỷ nguyên mới tranh đấu gay go chẳng những để giành quyền độc lập quốc gia mà còn cho linh hồn của nhân dân Việt-nam, đặc biệt là ở Nam kỳ và Trung kỳ.

HỘI ĐỒNG TỔNG LIÊN HỘI CỦA HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT-NAM NĂM 1927:

Như đã nói ở trên, năm 1927, thấy sự tốt nghiệp đầu tiên của các học viên thần học Tin Lành tại Việt-nam, buổi lễ tấn phong đầu tiên các mục sư được huấn luyện tại địa phương, và Hội đồng Hiến chương đầu tiên của Hội thánh bản xứ.

Những Hội đồng được triệu tập hằng năm tại Tourane từ năm 1924, những Hội đồng này chuyên độc cho sự gây dựng thuộc linh của các mục sư, tín hữu Việt-nam, với sự nhấn mạnh trên cầu nguyện và nghiên cứu Kinh Thánh. Hội đồng năm 1927, cũng họp tại Tourane từ ngày 5-13/3, khởi sự tổ chức các Hội thánh địa phương tại Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ thành một Hội thánh quốc gia[5]. Hội đồng gồm có 50 đại biểu, kể cả 4 đại biểu tín hữu, đại diện cho 7 Hội thánh tự trị, tự lập và 7 hội nhánh. Mục sư A. C. Snead, Bí thư Hải ngoại Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp và Mục sư Jaffray, Chủ nhiệm công trình Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Hoa Nam và Đông Dương, đã đem những sứ điệp Kinh Thánh và ban sự dạy dỗ về nguyên tắc và thể thức cho cuộc điều hành đúng đắn của Ban Hành Pháp quốc gia (Ban Trị Sự Tổng Liên Hội).

Cộng thêm vào sự báo cáo về các Hội thánh tương đối của họ, các đại biểu xem xét kỹ về các nguyên tắc hướng dẫn để soạn thảo một hiến chương và chỉ định một ủy ban để thảo một bản nháp chung với 5 vị giáo sĩ. Muốn nâng cao địa vị và uy tín của Hội thánh, đặc biệt là sự liên hệ với chính quyền, Hội đồng quyết định đi những bước chính đáng để tìm sự công nhận của chính quyền. Cũng tại Hội đồng này, theo sáng kiến riêng của họ, những đại biểu cùng chung với 70 người nam và nữ đến dự Hội đồng, lạc hiến 148,80 đồng vào chi phí chung của Hội đồng. Điều này đã được Hội Truyền giáo bảo đảm trước. Hội đồng cũng quyết định lạc quyên giữa vòng các Hội thánh địa phương 5.000 đồng để xây cất các nhà ngủ mới và các tiện nghi khác cho Trường Kinh Thánh tại Tourane. Một Ban trị Sự Tổng Liên Hội lâm thời được bầu cử cho một năm, gồm có: Mục sư Hoàng Trọng Thừa, Hội Trưởng, Mục sư Trần Dĩnh, Phó Hội Trưởng, Mục sư Dương Nhữ Tiếp, Thư ký, ông Nguyễn Thành Long, Tư hóa, Mục sư Lê văn Long, Nghị viên. Rất thích thú mà chú ý rằng các đại biểu lấy đó làm quan điểm để tuyển chọn "một đại biểu tín đồ có khả năng và tư cách", hầu lo lắng những vấn đề tài chính của Hội đồng và thậm chí cũng đặt thành qui tắc trong biểu quyết đầu tiên được chấp nhận trong Hội đồng lịch sử này. Bất hạnh thay, luật lệ này bị một Hội đồng khác loại bỏ.

[1] Quyết nghị Hội đồng Tổng Liên Nhatrang, Tổng Liên Hội, 1964, t.31
[2] Phạm văn Sơn, Việt sử Toàn Thư (Saigon, Thư Lâm ấn quán, 1960, t.698 tt)
[3] Hồ Chí Minh, sđd, t.24-26.
[4] Pierre Naville "La guerre du Vietnam", trưng dẫn bởi Phạm văn Sơn, sđd, t.699.
[5] Tổng Liên Hội, Quyết Nghị Hội đồng Tổng Liên Hội (Nhatrang, 1964, t.3)

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by