You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp a)

LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp a)


By admin - Posted on 26 March 2009

Chương V - tiếp a

HIẾN CHƯƠNG NĂM 1928:

Trong số những hiến chương đề nghị đã từng được đệ trình, thảo luận, chấp nhận bởi các Hội đồng Tổng Liên Hội của Hội thánh Tin Lành Việt-nam trong 60 năm lịch sử, thì bản hiến chương của năm 1928 là dài nhất[1], với những điều khoản tỉ mỉ từng chi tiết cho hầu hết mỗi vấn đề có thể xảy ra trong bất kỳ Hội thánh Tin Lành ở đâu.

Dầu Hội đồng Tổng Liên Hội năm 1927 đã chỉ định một Ban các mục sư Việt-nam để làm việc chặt chẽ với ủy ban giáo sĩ, Bản thảo phần chính được soạn thảo với ủy ban giáo sĩ. Ban này gồm có: J. D. Olsen, E. F. Irwin, Wm. Cadman, D. I. Jeffrey, I. R. Stebbins, tự họ cũng chia làm 2 phe: một bên nhấn mạnh rằng tất cả điều Hội thánh trẻ này cần là 'bản dịch hiến chương của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp USA', còn những người khác biện luận rằng bản hiến chương ấy 'không đầy đủ' và quá đơn sơ đối với Hội thánh Tin Lành Việt-nam. Cuộc tranh luận trở nên sôi nổi và càng phức tạp hơn bởi thật sự là 'mỗi người đã đến từ một giáo phái khác'. Dầu cuối cùng quan điểm trước được bỏ qua, những người ủng hộ thật đã cảnh cáo rằng một hiến chương chi tiết và nghiêm khắc phải được thủ lãnh Việt-nam dùng 'như họ sử dụng Kinh Thánh' và họ sẽ 'coi mọi sự trong đó như những luật lệ vững bền, cứng rắn'. Ban Trị Sự Tổng Liên Hội có đóng góp vài ý và thay đổi nhỏ trước khi đệ trình bản thảo lên Hội đồng Tổng Liên Hội năm 1928 duyệt xét.

Một sự tranh luận có ý nghĩa khai triển quanh sự lựa chọn một tên xứng hiệp cho Hội thánh. Mục sư Lê văn Long nhấn mạnh sự dùng tên Hội Tin Lành Việt-nam thay cho Hội Tin Lành Đông Pháp, và được ông Cadman ủng hộ. Nhưng bởi đa số giáo sĩ và hội viên quốc gia của hai Ban Trị Sự xem chừng quan tâm đến phản ứng của chính quyền hơn là cảm xúc của nhân dân Việt-nam, đã quyết định dùng tên thứ hai, như đã nói trên, sau này được đổi lúc chính quyền Pháp bị lật đổ. Vì hiến chương năm 1928 qui định sự tổ chức, chính sách, thể thức cho phần lớn Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt-nam, sự phân tích ngắn ngủi tài liệu này có thể giúp ích cho sự hiểu biết cơ hành của Hội.

Hiến chương năm 1928 gồm có 37 khoản, 156 tiết, hầu hết gồm lại từ hai đến 10 phân chi. Những 'Điều khoản của đức tin' được phát biểu trong 16 tiết bao hàm các lẽ đạo chính của Tin Lành và có nhiều câu Kinh Thánh trưng dẫn ủng hộ. Nhấn mạnh đặc biệt đến sự tái sinh, thánh hóa, Chúa chữa bịnh, Đấng Christ tái lâm, những điều khoản chủ yếu của đức tin Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp. Lẽ đạo thứ tư chẳng những được bàn luận trong những tiết thần học mà cũng được liệt kê dưới một phần khác như là một trong các mục đích của Hội thánh Tin Lành Việt-nam. Mục đích của Hội thánh sẽ là… khiến sự tái lâm của Chúa mau đến (Math. 24:14), bởi các thuộc viên giúp sức trong việc truyền bá Tin Lành khắp thế gian, tùy theo khả năng và cơ hội, trong sự vâng phục nhiệm mạng của Đấng Christ ban truyền trong Math. 28:19-20 và Mác 16:15-16. Bốn lẽ đạo này được coi là quan trọng cho sự tồn tại của Hội thánh Tin Lành Việt-nam đến nỗi chúng được tiêu biểu là thập tự giá, chim bồ câu, cái bình và mão miện, được khắc trong con dấu chính thức của Hội thánh Tin Lành Việt-nam trong mọi cấp bậc bởi mọi ngành cho đến ngày nay.

Muốn cầu lễ Báp-têm để trở nên thuộc viên của Hội thánh Tin Lành Việt-nam, một người không những 'phải ăn năn thật và tin Chúa Jêsus Christ làm Chúa và Cứu Chúa mình' nhưng còn phải 'thường xuyên nhóm với Hội thánh để nghe và học biết về Tin Lành … làm chứng trước mặt người đời' và ngoài các nghĩa vụ khác, 'vui lòng đóng góp phần tài chính cấp dưỡng Hội thánh'. Người ấy phải từ bỏ dùng á-phiện, thuốc điếu, … và từ bỏ cờ bạc và gạt bỏ 'những mê tín dị đoan, xin xăm, coi bói, sử dụng thuật bói khoa để lựa chọn chỗ chôn cất'.

Để tiếp xúc với vấn đề nhạy cảm đã từng đối đầu với Hội thánh Đấng Christ tại Đông Á, cả người Công Giáo Lamã lẫn Tin Lành, liên hệ đến sự thờ cúng tổ tiên, bản Hiến chương ghi rõ rằng một thuộc viên Hội thánh Tin Lành Việt-nam phải 'dẹp bỏ hình tượng và từ bỏ thờ cúng tổ tiên' và 'thôi không hành nghề không xứng đáng với Tin Lành như bán rượu, thuốc hút hoặc những điều thuộc về sự thờ hình tượng (sự thờ cúng tổ tiên được các giáo sĩ coi là một hình thức khác của sự thờ thần tượng), tỉ như 'nhang đèn, tiền mã'. Trong một sự trưng dẫn kỳ lạ, Ủy ban Hiến chương rõ ràng chịu ảnh hưởng của mấy giáo sĩ Mỹ có ý thức về chế độ nô lệ, cố thêm 'tình trạng nô lệ' vào danh sách nghề nghiệp không xứng đáng với Tin Lành. Sự trưng dẫn này ít có ý nghĩa trong xã hội Việt-nam nơi mà chế độ nô lệ thực tiễn không có.

Điều khoản VIII, tiết 1 qui định rằng 'người nào loạn nghịch, chống chính phủ không thể là thuộc viên Hội thánh Tin Lành Đông Pháp (Rôma 13:1-7). Sự giải thích Rôma 13:1-7 và sự áp dụng trong trường hợp này và áp dụng trong trường hợp này là một điều quan tâm đặc biệt nhất là khi người ta xét vấn đề đối chiếu với bối cảnh chính trị tại Việt-nam trong một thời kỳ mà người Việt-nam ái quốc có thể trông mong gia nhập các phong trào cách mạnh để giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của người Pháp. Tuy nhiên, quan điểm phân rẽ Hội thánh và quốc gia riêng ra được bày tỏ bằng những lời rõ ràng trong điều khoản chót của hiến chương 'Hội thánh Tin Lành Đông Pháp khẳng định sự trung thành với chính phủ và không bao giờ chứa chấp một phong trào nào chống với chính phủ. Hội quyết định không bàn về chính trị, hoặc các vấn đề khác ngoài mục đích của tổ chức này'. Mục đích của Hội thánh Tin Lành Việt-nam chỉ đơn giản là 'tập hợp thành một xã hội thuộc linh của người An-nam (Việt-nam) ở khắp cả xứ Đông Pháp thờ phượng Đức Chúa Trời và tin Tin Lành của Chúa Jêsus Christ, như bày tỏ trong Kinh Thánh -để thiết lập các Hội thánh ở khắp Đông Dương hầu cho những Cơ-Đốc nhân An-nam có cơ hội họp chung nhau thờ phượng Đức Chúa Trời Ba Ngôi' để giảng Tin Lành và làm chứng cho mọi người An-nam trong suốt cả xứ Đông Dương và 'làm cho Chúa Jêsus mau tái lâm'.

Trong sự tổ chức, hiến chương phân biệt ba cấp của cơ cấu Hội thánh: 'Hội thánh địa phương, Địa hạt liên hội và Tổng Liên Hội'. Mỗi cấp có một hiến chương riêng với Hội đồng riêng (hoặc Hội đồng thường niên). Các Chủ nhiệm và Ban trị sự riêng. Mỗi Hội thánh địa phương có quyền đầy đủ để điều khiển việc riêng (mời mục sư và phó mục sư, bầu cử chấp sự, ban trị sự và soát sổ viên, xử lý các thuộc viên, gây ngân quỹ và sử dụng ngân quỹ để cấp dưỡng mục sư, các dự án địa phương cũng như các kế hoạch khó chung của Địa hạt và Tổng Liên Hội.

Một Hội thánh địa phương có tự do hoạch định chương trình tự khuếch trương và thiết lập cơ quan với Hội thánh mà thấy là thích hiệp với sự phát triển của Hội thánh, điều cần buộc duy nhất là Trường Chúa nhật và một số 'Hội đồng' để 'bồi linh' và để t'ruyền giảng Tin Lành cho người chưa tin', không có điều khoản cho sự tổ chức sinh hoạt bạn trẻ và phụ nữ, ban chứng đạo, lớp dạy Kinh Thánh cho thiếu nhi hoặc các giáo dục học đường.

Hội đồng Địa hạt gồm các Hội thánh địa phương ở trong một khu vực đặc biệt của xứ, được tổ chức không những trên cơ sở của lợi ích chung, nhưng cũng theo sự phân chia chính trị của xứ, mỗi 'kỳ' áp dụng luật lệ riêng đối với Hội thánh Tin Lành Đông Dương. Mỗi Hội đồng Địa hạt cũng nhóm phiên họp hoàn toàn mỗi năm một lần, Hội đồng có quyền 'cai trị và dự phần công việc của Hội thánh Tin Lành Đông Dương trong Địa hạt riêng mình và quyết định những vấn đề có liên quan tới lợi ích chung của Hội đồng Địa hạt'. Các chức viên của Hội đồng Địa hạt gồm có một Hội trưởng (sau được gọi là Chủ nhiệm Địa hạt), một phó Hội trưởng, một thư ký, một tư hóa, hai soát sổ viên và các truyền đạo của Địa hạt. Những chức viên này, ngoại trừ các soát sổ viên và truyền đạo, cũng phục vụ như là Ban trị sự Địa hạt, chung với một số phái viên được bầu cử bằng phiếu kín tại Hội đồng Địa hạt.

Hội trưởng, thật ra đảm đương trách nhiệm lớn trong mọi công việc cả Địa hạt, được bầu cho một nhiệm kỳ hai năm. Ông phải cố vấn cho Hội thánh trong sự lựa chọn mục sư và cũng để giúp mục sư hay truyền đạo chưa có nhiệm sở, tìm được một Hội thánh. Vì không có khoản nào nói đến sự vun trồng Hội thánh mới hoặc bởi Hội đồng Địa hạt, hoặc bởi Ban trị sự Địa hạt sự khuếch trương Hội thánh, như một thật sự, được giao lại cho sáng kiến và tài năng ứng biến của Chủ nhiệm. Ông được ủng hộ trong sự cố gắng này do các truyền đạo trong Địa hạt là người di chuyển từ nơi này qua nơi khác dưới quyền phối trí của ông. Tuy nhiên, quyền tối hậu của Hội thánh Tin Lành Đông Dương giao cho toàn thể các giáo hữu và họ lại phó thác cho các đại biểu, mà họ lựa chọn giữa vòng các thuộc viên của Hội thánh địa phương và gửi đi dự Hội đồng chung (hoặc Hội đồng Tổng Liên Hội).

Hiến chương cũng phân biệt rõ, vì những mục đích thực tiễn giữa các Hội thánh tự lập và các Hội thánh chưa tự lập. Trong khi Hội thánh tự lập được cử từ 2 đến 10 đại biểu đến dự Hội đồng Tổng Liên Hội, tùy theo số tín đồ, thì ở Hội thánh chưa tự lập chỉ có thể gửi một đại biểu (chính ông truyền đạo) là người có quyền bỏ phiếu nhưng không có quyền ứng cử vào một chức vụ nào. Ngay ở phạm trù này, còn có sự phân biệt giữa các Hội thánh 'có thể cung cấp phân nửa' những chi phí thông thường với các Hội thánh 'chưa thể cung cấp phân nửa những chi phí'. Quyền và lợi của họ được đại diện bởi một đại biểu mà 'không thể hoặc bỏ phiếu hoặc được ứng cử vào chức vụ'. Những luật lệ này phản ánh phần nào 'hệ thống thang' của thời kỳ từ năm 1911-1927, đặc biệt có ý thúc đẩy những Hội thánh mới thành lập trong cố gắng đạt đến địa vị tự lập. Hội đồng Tổng Liên Hội vận dụng quyền lực để 'lập pháp về tất cả những vấn đề thuộc lợi ích chung cả Hội thánh Tin Lành Đông Dương' để xem xét và xử đoán mọi phân tranh về những giáo lý và hiến chương của Hội thánh, để 'xem xét công việc và những biên bản của Hội đồng Địa hạt và Hội thánh địa phương, cùng khen ngợi, khiển trách… hoặc xử lý và cuối cùng để thiết lập các Hội đồng Địa hạt mới'.

Các tác giả hiến chương đã cố gắng áp dụng nguyên tắc 'phân quyền bằng cách xác định chi tiết tỉ mỉ' đoàn lập pháp và đoàn hành pháp của Hội thánh quốc gia với những cơ cấu và phần hành tương đối. Vì đoàn lập pháp chỉ gặp mỗi năm một lần và như một luật lệ, chỉ để hai hay ba ngày trong mỗi năm ngày Hội đồng hợp pháp để nghiên cứu Kinh Thánh và bồi linh, rất ít thì giờ còn lại để đắn đo cân nhắc và quyết định về nhiều vấn đề quan trọng đệ trình lên.

Một thật sự đáng chú ý là các chức viên của Hội đồng Tổng Liên Hội chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký - cũng cấu thành căn bản của Ban trị sự Tổng Liên Hội. Các thuộc viên khác của đoàn hành pháp cao nhất này đại diện cho các Hội đồng Địa hạt, hai người từ mỗi Địa hạt, một là chủ nhiệm của Địa hạt, còn vị kia được bầu bởi Hội đồng Tổng Liên Hội. Ban Chấp hành của Hội đồng Tổng Liên Hội chính thức được gọi, chẳng những có bổn phận 'thực thi những luật lệ và các nghị quyết do Hội đồng Tổng Liên Hội thông qua' nhưng cũng 'cẩn thận điều tra về những nơi mà Tin Lành chưa rao giảng' và 'tìm phương pháp tốt nhất để gửi Tin Lành đến các nơi đó trong thì giờ và cách thức thuận lợi'. Ban Trị Sự cũng được quyền 'khuyên và đòi hỏi các Hội thánh địa phương đóng góp tiền bạc để chuẩn bị cho chi phí chung' của việc điều hành. Chỉ Ban Trị Sự này có quyền tấn phong mục sư và 'hành động như là Ban Quản trị mọi tài sản của Hội thánh Tin Lành tại Việt-nam'. Hiến chương năm 1928 không có điều khoản nào cho sự vận động quyền tư pháp. Điều này thực tiễn được đảm bảo bởi Ban Chấp Hành của Hội đồng Tổng Liên Hội ít nhất cũng mải đến năm 1955.

Điều khoản 1, chương VI, của hiến chương có xác định sự liên hệ giữa Hội thánh Tin Lành Đông Dương và Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp như sau:

a). Hội Tin Lành Đông Dương công nhận Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp là mẫu hội. Hội thánh Tin Lành quyết định bởi ân điển của Đức Chúa Trời, bao giờ cũng với tất cả tấm lòng và tâm trí, theo Tin Lành và những lẽ thật thuộc linh như Hội Truyền giáo dạy.

b). Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp công nhận Hội thánh Tin Lành Đông Dương là một Hội thánh tự trị, tự lập, có sự tổ chức riêng rẽ khỏi tổ chức của Hội Truyền giáo, và có quyền tự trị, không cần phải lệ thuộc vào mẫu hội.

c). Dầu hai Hội xã cơ hữu là riêng biệt và phân minh như thế hầu Hội xã này không lệ thuộc vào Hội kia, tuy nhiên cả hai đều công nhận là một trong Chúa Jêsus Christ. Lại nữa, hai Hội xã chỉ có một mục đích là khiến nhân dân Đông Dương biết Chúa Jêsus Christ. Bởi vậy, hai Hội xã sẽ cậy quyền Chúa để giúp nhau trong mọi vấn đề thuộc sự rao giảng Tin Lành khắp cả xứ Đông Dương. Tuy nhiên về mặt quản trị của Hội thánh Tin Lành Đông Dương, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp sẽ hành động với tư cách cố vấn mà thôi.

Tất cả những vấn đề mà Hội thánh Tin Lành Đông Dương từng gặp phải trong 50 năm trong sự liên hệ với Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp phần lớn có thể truy đến sự giải thích và áp dụng các ước khoản trên về phần các thủ lãnh Hội thánh quốc gia, cũng như đại diện Hội Truyền giáo. Từ mơ hồ nhất đôi khi cả hai bên đều giải thích khác nhau dường như là 'tư cách cố vấn' của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp. Vì lẽ những Hội thánh chưa tự lập vẫn còn đặt dưới quyền giám thị của Hội Truyền giáo, một ban trị sự chung gồm có 5 nhân viên Ban Chấp Hành Tổng Liên Hội và 5 nhân viên Ban Chấp Hành Hội Truyền giáo được thiết lập để 'kiểm soát' và 'sắp đặt' cơ hành của các hội ấy. Hơn nữa, Ban Trị Sự Tổng Liên Hội được quyền giám thị các kế hoạch quan hệ của Hội thánh và Hội Truyền giáo, nhất là Trường Kinh Thánh Tourane và Nhà In Tin Lành ở Hà-nội. Trách nhiệm chính của sự cai quản nhà in Tin Lành tại Hà-nội, là nơi chẳng những chỉ phục vụ Hội thánh Tin Lành Việt-nam nhưng cả Thánh Thơ Công Hội, Hội anh em Thụy sĩ tại Nam Lào, các Hội thánh Tin Lành Kamphuchia và Lào, và trong vài trường hợp, cả các Hội thánh Pháp tại Đông Dương, tiếp tục do Hội Truyền giáo cho đến Đệ nhị thế chiến bùng nổ. Về Trường Kinh Thánh Tourane, phục vụ chuyên độc Hội thánh Tin Lành Việt-nam thì có một tiết hơi lạ của hiến chương câu ước rằng: "Trường sẽ tiếp tục ở dưới quyền bính của mẫu hội, nhưng Hội thánh Tin Lành Đông Dương sẽ công nhận trường này như chính là Trường Kinh Thánh của Hội thánh Tin Lành và sẽ không lập Trường Kinh Thánh nào khác trừ phi Hội Truyền giáo cho phép. Ban Trị Sự chung sẽ thảo luận mọi vấn đề của Trường Kinh Thánh liên quan đến Hội thánh Tin Lành". Sự sắp đặt này rõ ràng mâu thuẫn với các nguyên lý của Hội thánh bản xứ, dường như được ra lệnh bởi những lẽ tất yếu của thời cuộc, và thật ra phản ánh một chính sách lâu bền của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp coi Trường Kinh Thánh là một cơ quan hệ trọng cuối cùng phải chuyển qua cho sự lãnh đạo quốc gia trong một công trường truyền giáo. Ý Hội đồng Tổng Liên Hội 1928 sẵn lòng cầm lại không thiết lập một Trường Kinh Thánh khác "trừ phi Hội Truyền giáo cho phép" dường như chỉ rằng mặc dầu sự tăng trưởng hơi nhanh trong vòng hơn 10 năm, Hội thánh quốc gia còn cảm thấy họ chưa được trang bị để gắng sức thực hiện chương trình huấn luyện lãnh đạo chỉ huy quan trọng nhất của cơ cấu Hội thánh một cách độc lập được. Mặt khác, đối với Hội Truyền giáo được coi là một trong những người biện hộ đứng hàng đầu của phong trào Hội thánh địa phương mà phải ghi ước khoản dự phòng này trong hiến chương (thay vì lấy đó làm một sự thỏa thuận giữa Ban Trị sự của Hội thánh và Hội Truyền giáo trên căn bản chuyển tiếp) rõ ràng có nghĩa là một sự ngờ vực căn bản, ít nhất cũng về phần mấy đại biểu của Hội Truyền giáo trong sự tự trị của Hội thánh non trẻ này.

Bởi chấp nhận hiến chương này Hội thánh Tin Lành trở nên đoàn thể tôn giáo đầu tiên tại Việt-nam áp dụng những nguyên tắc dân chủ và thể thức nghị viện trong cơ hành của hội. Tuy còn phải học qua nhiều kinh nghiệm buồn chán nhưng hiến chương này chứng tỏ là một sự hướng dẫn cần thiết cho sự lãnh đạo trên 20 năm, cho đến chừng Hội thánh Tin Lành Việt-nam đạt đến vóc giạc mới của Hội vậy.

[1] Với 62 trang đánh máy hàng 1, Hiến chương này dài gấp 3 Hiến chương Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp, năm 1926, gấp đôi bản Hiến Chương Hội thánh Tin Lành Việt-nam năm 1956.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by