You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp b)

LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp b)


By admin - Posted on 02 April 2009

LỊCH SỬ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT-NAM

Chương V - tiếp b)

TỔ CHỨC MỚI CỦA HỘI THÁNH: Hiến chương 1928 đưa vào một thời kỳ cố gắng hoạt động không ngừng để tổ chức và tái tổ chức cơ cấu của Hội thánh trên mọi cấp:

HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG: Hội thánh Tin Lành Đông Dương công nhận theo điều khoản V, chương 1, tiết 3 và 5 của Hiến chương, sự phân chia Hội thánh địa phương thành hai phạm trù riêng biệt: Hội thánh tự dưỡng (tự lập) và Hội thánh cần bảo trợ (hoặc Hội thánh chưa tự lập như được chính thức gọi như vậy).

Một Hội thánh tự lập vì nó có thể cấp dưỡng cho mục sư và trả tất cả mọi chi phí điều hành, được quyền tự trị bằng cách lựa chọn mục sư và các vị chức viên, xuất ngân quĩ, quyết định chương trình xây cất, mở mang các dự án, tự khuếch trương của mình. Bởi vậy, "Hội thánh tự lập là Hội thánh bản xứ" theo ý nghĩa đầy đủ nhất. Tình trạng độc lập được công nhận bởi Hội Truyền giáo đã tức khắc bỏ quyền bính trên công việc của Hội thánh. Những Hội thánh trong phân loại này cấu thành những thành phần của Hội đồng Tổng Liên Hội và Hội đồng Địa hạt, và là căn bản duy nhất của quyền độc lập khỏi Hội Truyền giáo. Dầu chỉ có 10 trong số 80 Hội thánh được tổ chức tại Việt-nam đạt tới tình trạng đó trong năm 1928, con số này tăng gấp đôi năm 1930, gấp tư năm 1932 và trong Đệ nhị thế chiến, tất cả Hội thánh tại Việt-nam đã trở nên tự lập.

Một Hội thánh chưa tự lập không thể bảo đảm chi phí của mình, hoặc vì còn nhỏ, hoặc vì sự tương đối chưa thành thục của tín hữu, không được quyền tự trị. Hội ấy có thể bầu cử chức viên, nhưng mục sư, trong hầu hết các trường hợp chưa được thụ phong, được chỉ định bởi Ban Trị sự Địa hạt hoặc Ban Trị sự Tổng Liên Hội, và thường hơn, bởi Ban Trị sự chung. Vì lẽ Hội thánh như thế phải hướng về Hội Truyền giáo để được một phần sự trợ cấp tài chánh. Hội ấy cũng phải nhờ cậy sự hướng dẫn của các giáo sĩ, và tiếp nhận sự kiểm soát chung của Hội Truyền giáo lẫn các thủ lãnh Hội thánh quốc gia. Hầu hết các Hội thánh mới mở hoặc bởi Hội Truyền giáo hoặc bởi Hội thánh quốc gia, phải trải qua giai đoạn này trong quá trình đạt đến tình trạng độc lập. Nhờ nhịp độ tăng trưởng, sự dự phần của tín hữu trong vấn đề tài chánh, nhất là tình hình kinh tế khu vực, một Hội thánh có thể trở nên tự lập trong vòng vài tháng, hoặc cứ lần lữa hàng vài năm trong tình trạng cần được cấp dưỡng như trường hợp của mấy Hội thánh ở Bắc kỳ. Về phần tự dưỡng các Hội thánh ở Tam kỳ, vựa lúa của xứ, được ưu đãi hơn về kinh tế, mặc dù có sự khủng hoảng năm 1930 và như thế được bố trí để hội đủ điều kiện hơn các Hội thánh anh em ở Bắc kỳ.

Tuy nhiên, tại các Hội đồng Tổng Liên Hội năm 1930, 1931, hai nghị quyết đã được thừa nhận cho phép đại biểu Hội thánh chưa tự lập bỏ phiếu (nếu đó là một truyền đạo được bổ chức) và cả vừa bỏ phiếu vừa ứng cử (ngoại trừ chức vụ chủ tịch [Hội trưởng] và Phó Hội trưởng), nếu đó là một mục sư được tấn phong, dầu Hội thánh mà người ấy đại diện chỉ có thể trả chưa đầy phân nửa của tổng số chi phí. Khi Hội thánh Tin Lành phát triển và số Hội thánh độc lập gia tăng, số bách phân các Hội thánh chưa tự lập giảm xuống từ 75% năm 1928 tới 49% năm 1930, 31% năm 1934, và tới 0% năm 1945.

CÁC HỘI ĐỒNG ĐỊA HẠT: Hội đồng Tổng Liên Hội năm 1928 chia xứ làm hai Địa hạt: Địa hạt Bắc Trung bộ gồm lại Bắc kỳ và Trung kỳ, và Địa hạt Nam bộ bao gồm lãnh thổ Nam kỳ và tỉnh Bình thuận, phần cực Nam Trung kỳ. Công việc giữa vòng người Việt-nam kiều ngụ ở Kamphuchia cũng được đặt dưới quyền của Hội đồng Địa hạt Nam bộ.

Trong các Hội đồng Địa hạt nhóm tại Tourane và Mỹ tho năm sau, Mục sư Trần Xuân Phan được bầu làm Hội Trưởng Địa hạt Bắc Trung bộ và Mục sư Bùi Tự Do, Hội Trưởng Địa hạt Nam bộ. Dưới sự lãnh đạo mạnh mẽ của ông Do, cũng là người cầm đầu một toán Tin Lành tiền phong vào thời kỳ sau, các Hội thánh trong Địa hạt Nam phần tăng trưởng nhanh chóng. Các Hội thánh Địa hạt, cho đến năm 1927 phần lớn đã được thiết lập và chăn dắt bởi các vị mục sư đến từ Trung kỳ, năm 1930 trở nên Hội đồng Địa hạt dẫn đầu cả về số tín hữu lẫn mức độ tự lập. Năm 1934, ông Do được thay thế bởi Mục sư Lê văn Quế, người vì bịnh hoạn chỉ tại chức trong một thời gian ngắn ngủi. Năm 1939, Mục sư Kiều Công Thảo được bầu cử làm Chủ nhiệm của Địa hạt Nam bộ và là lợi khí để thành một chương trình tự lập mạnh mẽ và hữu hiệu trong các năm chiến tranh (từ 'Chủ nhiệm' được gọi từ thập niên 1940).

Nhận biết những khó khăn kỹ thuật liên can đến sự lãnh đạo Địa hạt để duy trì công việc Hội thánh trong hai thời kỳ khác nhau, mỗi Địa hạt có hình thức quản trị riêng và hệ thống luật pháp đặc biệt dưới ách thống trị thực dân, các Hội đồng Tổng Liên Hội năm 1931 và 1932 hoạt động để thành lập hai Địa hạt riêng rẻ Bắc kỳ và Trung kỳ. Bắc hạt gồm Bắc kỳ và tỉnh Thanh hóa, các tỉnh ở phía Bắc Trung kỳ, trong khi Trung hạt bao gồm các tỉnh miền duyên hải Trung kỳ từ Nghệ-an đến Ninh thuận (Phan rang) để chừa lại miền Cao nguyên cho một kế hoạch quan trọng mà Hội thánh Việt-nam coi 'như là Hội Truyền giáo cho các bộ lạc', cần đồng công cộng tác chung với Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp.

Mục sư Lê văn Thái của Hội thánh Hà-nội đang phát triển, được cử làm Chủ nhiệm Bắc hạt năm 1932, và trở nên một thủ lãnh mạnh nhất trong vòng 20 năm. Cộng tác với các đại biểu Hội truyền giáo, ông Thái khai triển một chương trình thắng lợi trong việc vun trồng chừng 30 Hội thánh tại miền Trung châu thổ sông Hồng trước Đệ nhị thế chiến. Địa hạt Trung kỳ, đã gửi đa số mục sư của mình đi Nam kỳ và Bắc kỳ trước năm 1927, tiếp tục cung cấp các công nhân cho hai Địa hạt anh em trong các thập niên 1930 và 1940 dầu ở một mức độ kém hơn. Dưới sự lãnh đạo của Mục sư Lê văn Long, Đoàn văn Khánh, Ông văn Trung, Điạ hạt thiết lập được một chuỗi Hội thánh dọc theo miền duyên hải phía Nam Trung bộ, các tỉnh từ Quảng nam đến Khánh hòa (Nhatrang). Tuy nhiên, cố gắng của Địa hạt để bành trướng trong các tỉnh miền Bắc chỉ thâu được ít kết quả đặc biệt tại Hà tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa thiên. Dầu sức mạnh của Địa hạt trong sự tự lập và tự trị đã vượt hẳn Bắc hạt, thì cũng chẳng thể so sánh được với thế lực của Nam hạt khoe mình đã chiếm đến 75% tổng số Hội thánh độc lập năm 1942.

HỘI ĐỒNG TỔNG LIÊN HỘI VÀ QUYỀN LÃNH ĐẠO CỦA HỘI THÁNH QUỐC GIA: Trên bình diện quốc gia, Hội đồng Tổng Liên Hội triệu tập hằng năm lần lần trong tay quyền cai trị Hội thánh và đòi quyền độc lập từ Hội Truyền giáo. Như một đoàn thể lập pháp, Tổng Liên Hội qui định cơ hành đúng đắn của Hội đồng Địa hạt, làm trung gian hòa giải những cuộc tranh chấp quyền lợi, ước định đường hướng cho Ban Trị sự cai quản các Hội thánh độc lập, đặt luật lệ để gây quỹ từ các Hội thánh địa phương để ủng hộ Ban Trị sự trong chương trình khuếch trương. Tuy nhiên, công việc quan trọng nhất là đề xuất một chuỗi tu chính án cho Hiến chương Hội thánh và kiểm điểm sửa chữa những lỗi lầm của Hội đồng Địa hạt bằng cách phủ quyết những biện pháp các Địa hạt áp dụng mà chứng tỏ là không hợp Hiến chương. Một lời ghi chú có ý nghĩa là Hội đồng Tổng Liên Hội triệu tập tại Hội an, trong tháng 5.1932, kêu gọi sự chú ý của các Hội thánh địa phương làm công tác an sinh xã hội là điều tối cần thiết trong xứ nhất là trong thời kỳ xảy ra những thiên tai.

Các năm 1933, 1934, 1935, thấy Hội đồng Tổng Liên Hội thông qua một chuỗi 11 tu chính án cho Hiến chương, hầu hết là đối xử với chức vụ mục sư liên hệ với Hội thánh địa phương và các Hội đồng Địa hạt và Hội đồng Tổng Liên Hội. Có hai tu chính án tái xác định sự hạn chế đại biểu tín đồ của các Hội thánh địa phương tại các Hội đồng Tổng Liên Hội và Địa hạt, cùng hạn chế số đại biểu của mỗi Hội thánh tới 2 (mà một người là mục sư hay truyền đạo chủ tọa) không kể đến cỡ của thành phần giáo dân. Như thế, một mẫu mực mới được đặt cho sự đại diện của các Hội thánh địa phương tại các đoàn lập pháp và hành pháp của Hội thánh Tin Lành Việt-nam cho đến khi Đệ nhị thế chiến kết liễu, số thủ lãnh đại biểu tín đồ tích cực hoạt động trong sự hướng dẫn (điều hành các việc Hội thánh trên bình diện Tổng Liên Hội và Địa hạt bị hạn chế đến mức tối thiểu). Qua 20 năm, Ban Trị sự của các Hội đồng Tổng Liên Hội, Địa hạt, trừ một hoặc hai ngoại lệ, gồm toàn (chuyên độc) các mục sư, còn đại biểu tín đồ được giao cho một vai trò nhỏ trong hầu hết việc thảo chính sách Hội thánh.

Như đã chỉ tỏ trước, quyền chủ tịch của Hội thánh Tin Lành Việt-nam chính thức được gọi là chức vụ Hội Trưởng của Hội đồng Tổng Liên Hội hoặc chức vụ chủ tịch của Ban Chấp Hành của Hội đồng Tổng Liên Hội được ban cho phần lớn quyền hành và trách nhiệm trong sự quản trị Hội thánh. Chức vụ quan trọng này kế tiếp nhau được chiếm giữ bởi các Mục sư Hoàng Trọng Thừa, một người quê quán ở kinh đô Huế (1927), Mục sư Dương Nhữ Tiếp, người Bắc Việt (1928-1931), Mục sư Trần Xuân Phan, người Trung kỳ (năm 1931-1932) và Mục sư Lê Đình Tươi, người Nam kỳ (1933-1942). Như một giáo sư và mục sư, ông Thừa được coi là thủ lãnh Hội thánh được kính trọng lắm, nhưng ông có khả năng hành chính rất hạn chế, ông được thay thế bởi ông Tiếp, môt truyền đạo hùng biện và một thủ lãnh cương quyền mà thời kỳ ông giữ chức chẳng may ngắn ngủi vì bịnh nặng. Ông Phan chứng tỏ là một người quản trị kém, thời gian hành chức đã bị phiền hà vì có những bất hòa và chia rẽ trong Hội thánh và ông được kế tiếp bởi ông Tươi, là người nổi tiếng là đã có những bước tiến nhanh của Hội thánh Tin Lành, nhờ ở tài lãnh đạo đắc lực và mạnh mẽ trong thập niên 1930.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by