You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp c)

LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp c)


By admin - Posted on 02 April 2009

LỊCH SỬ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT-NAM

(Chương V - tiếp c)

QUAN HỆ GIỮA HỘI THÁNH VỚI NHÀ NƯỚC: Một trong những mối quan tâm của Ban Lãnh đạo mới Hội thánh Tin Lành Việt-nam là sự quan hệ với chính phủ Hoàng triều tại Trung kỳ và nhà nước Pháp ở cả Trung và Nam kỳ. Nhưng sự hạn chế trên hoạt động của giáo sĩ Hội Truyền giáo và sự cấm giảng Tin Lành bởi người Việt-nam áp đặt vào thập niên 1920 bởi một số quan lại trong các tỉnh tương đối của họ, đã trở nên một chính sách chính thức của chính phủ Hoàng triều năm 1928. Hội Đồng Cơ Mật điều hành như một Nội các Hoàng gia dưới Hoàng đế Bảo Đại đã ra ngày 26.1.1925, một thông tri, chiếu chỉ cho mọi quan lại soạn thảo địa vị chính thức về Hội thánh Tin Lành và Cao Đài.

Theo điều khoản thứ 13 của Hòa ước năm 1884, chỉ Giáo hội Công Giáo Lamã có quyền truyền giảng trong xứ chúng ta. Các giám mục, linh mục và giáo sư thuộc Giáo hội Công Giáo Lamã là những người duy nhất có phép giảng đạo của họ. Chúng ta nghe rằng mới đây có nhiều người giảng một tôn giáo mới (Tin Lành giáo) cũng như Cao Đài giáo tại Nam kỳ và Nam Trung kỳ. Nếu những tôn giáo này ngày càng được thêm giáo hữu, chắc chắn sẽ có người lợi dụng cơ hội này gây rối trong xứ sở chúng ta, và có nhiều người sẽ bị lường gạt như trường hợp năm rồi có cụ Võ Trứ và Trần Cao Vân. Hai người này mượn cớ truyền bá tôn giáo của họ, thế nhưng thật ra đã xúi giục dân chúng làm loạn. Dân chúng đã phải chịu bao nỗi khốn khổ lớn lao vì cớ họ. Rõ ràng từ nay trở đi, tôn giáo mới (Tin Lành giáo) và Cao Đài giáo phải bị cấm tỏ tường, không được truyền giảng hoặc mưu hành tại Trung kỳ. Nếu người nào bất tuân bản chỉ dụ này hãy hình phạt người ấy theo luật pháp. Quan Khâm sứ cũng đã thỏa thuận về vấn đề này, Hội Đồng Cơ Mật gửi tờ này để quan lại thông tri và hành động thích đáng.
Huế, ngày 4 tháng chạp, năm thứ ba Bảo Đại
Triện của Hội Đồng Cơ mật.

Một lần nữa, Hoà ước Giáp Thân lại được giải thích như một tài liệu chính thức dành cho giáo hội Công Giáo Lamã độc quyền truyền giảng Cơ-Đốc giáo tại Việt-nam. Cuộc đảo chính bất thành, cầm đầu bởi Cựu hoàng Duy Tân và Trần Cao Vân, người đã lẫn trốn trong một ngôi chùa sau sự thử nghiệm vô hiệu để lật đổ ách thống trị của người Pháp, được móc nối với phong trào tôn giáo phổ thông trong xứ. Hội Đồng Cơ mật đã bày tỏ rõ ràng là không muốn có sự rắc rối nào gây nên, hoặc bởi phong trào chính trị hoặc bởi phong trào tôn giáo trong xứ vì nhân dân đã phải chịu đau đớn nhiều vì cớ họ.

Vì các tỉnh Bắc kỳ còn có danh là ở dưới thẩm quyền của Hội Đồng Cơ Mật, tờ thông tri - nghị định danh tiếng này cũng gửi đến quan Tổng đốc và quan Tuần vũ (các quan đầu tỉnh) tại Bắc kỳ. Quan Công sứ tại Bắc kỳ, khi hay tin về chiếu chỉ này, bèn viết cho Mục sư Cadman, đại biểu Hội Truyền giáo tại Hà-nội, vào tháng 3.1928 như sau:

"Tôi được thông báo về những cố gắng khuyên người theo đạo dưới quyền điều khiển của ông, bởi Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp trong vài tỉnh Bắc kỳ, nhất là tỉnh Nam Định. Sáng kiến này được coi là trái với ước khoản tỏ tường của Hòa ước 1874 và 1884 đã ký giữa chính phủ Pháp và Hoàng đế An-nam, tôi thấy tự mình bắt buộc phải lưu ý ông áp dụng biện pháp cần thiết ít nhất trong kỳ hạn sớm nhất chấm dứt sự cổ động tôn giáo này".

Trong các tỉnh miền Bắc, truyền đạo Việt-nam không gặp nhiều chống đối, phần vì Hội Đồng Cơ Mật của hoàng đế thật sự đã lìa bỏ quyền hành của mình tại Bắc kỳ, phần vì các giáo sĩ làm việc tại Bắc kỳ trong giai đoạn này vẫn còn rất hạn chế và hầu hết tập trung tại Hà-nội và Hải phòng, nơi không bị áp đặt một hạn chế nào.

Một cuộc thử bắt Mục sư Lê văn Thái, mục sư Hà-nội tại làng Gia Thượng, tỉnh Bắc ninh, thất bại có lẽ vì chính vị xã trưởng trong làng đó đã nhận được lệnh chấm dứt những cuộc hội họp giảng Tin Lành trong khu vực, là người mới tin đạo. Ông chỉ sai mấy lính lệ đến ngăn trở sự nhóm họp buổi tối trong làng và đem Mục sư Thái đến một điếm canh. Sau một hồi biện luận ngắn với Mục sư, ông ra lệnh trục xuất Mục sư khỏi làng ngay tối hôm đó. Tuy nhiên, Mục sư cứ trở lại trong các tuần lễ sau đó để nhóm họp. Hương chức trong làng phản ứng nửa vời bằng cách cấm dân làng dự các buổi nhóm. Thật ra đó chỉ càng kích thích tánh tò mò và kéo một số đông hơn đến nhà giảng. Tuy nhiên, một chiều Chúa nhật, khi các tín hữu đang thờ phượng, nhà giảng bị lính và các hương dũng võ trang bao vây dưới sự chỉ huy của một sĩ quan Pháp, một trưởng đồn binh. Ông Thái và ông Cadman đến giảng chiều hôm ấy, đi ra chào vị sĩ quan Pháp lúc buổi nhóm kết thúc. Ông ta dường như đã thay đổi ý kiến, chỉ nói ông muốn chắc chắn mỗi người dự nhóm là tín đồ Cơ-Đốc, kế đó, ông ra lệnh cho tất cả những người làng không phải tín đồ, kể cả các hương dũng võ trang giải tán[1].

Dầu vậy, ở suốt Trung kỳ, nghị định không những chỉ lưu chuyển giữa vòng các quan lại, nhưng cũng được công bố và niêm yết trên các nhà thờ và các giảng đường Tin Lành, và ở các chợ. Tỉ dụ, tại Nhatrang, một cáo thị được văn phòng tỉnh trưởng rao báo rằng: 'Theo quyết định của Hoàng triều, tháng thứ nhất, ngày thứ tư, năm thứ ba Hoàng đế Bảo Đại trị vì, nay nhắc lại cho nhân dân nhớ rằng chỉ người Công Giáo Lamã mới có quyền truyền bá tôn giáo họ tại Trung kỳ. Tất cả các tôn giáo khác tuyệt đối cấm chỉ, ngoài trừ những tôn giáo mà dân An-anm đã theo từ xưa tới nay, đó là theo tập quán thường thì không bị cấm. Như thế tất cả những tôn giáo mê tín đều bị cấm, Gia-tô giáo Tin Lành và Cao Đài tuyệt đối cấm chỉ. Người nào bất tuân quyết định này sẽ bị nghiêm trị.'

Mục sư Phan Đình Liệu bị bắt tại Quảng nam năm 1925, lại bị bắt lần nữa ở Phan Rí bởi vị chỉ huy đồn binh Pháp của thành phố và điệu đến quan Công sứ (viên chức Pháp cao nhất trong tỉnh) của Phan thiết, tỉnh Bình thuận. Quan Công sứ thả ông Liệu và cho phép ông trở về Nhatrang và đoan chắc với ông rằng: "Người Pháp chẳng bao giờ bắt bớ Tin Lành". Lần khác vào mùa hè năm 1928, ông Liệu bị bắt giam lần này vì đã từ chối không hạ tấm biểu ngữ có tên Hội thánh Tin Lành Việt-nam ở trước cửa nhà giảng Nhatrang. Đi Phan-rang để giảng, ông lại bị dẫn đến trước vị Công sứ Pháp, ông nhắc cho Liệu về đạo luật mới của xứ và khuyên ông dời đi Nam kỳ, tại đó ông sẽ được tự do giảng đạo. Ông Liệu bị bắt lần thứ tư trong một buổi nhóm cầu nguyện tại Nhatrang thành (thị trấn của các quan lại hàng tỉnh Khánh hòa). Sáu thuộc viên Hội thánh bị đánh và bắt giam cùng với ông, nhưng chẳng bao lâu, họ lại được thả, khi ông đảm nhận hết trách nhiệm về cuộc nhóm họp. Sau khi giữ ông Liệu trong ngục thất 2 tháng không xét xử, các quan lại truyền lệnh đày ông đi Quảng nam. Sau một thời gian ngắn ở Quảng nam, Mục sư Liệu trong cuộc hành trình đến Mỹ tho để dự Hội đồng Tổng Liên Hội thường niên. Tuy nhiên, ông không thể đến nơi định đi, vì trên đường ghé qua Nhatrang, ông bị bắt quả tang đang giảng Tin Lành trong nhà thờ. Lần này ông bị xét xử hợp lệ và tuyên án 6 tháng tù khổ sai. Ông Liêu lặng lẽ ngồi tù để làm chứng về đức tin của mình và dịch một tác phẩm thần học từ Hán tự ra tiếng Việt. Có báo cáo là 12 người đồng tù với ông đã tin và 'một Hội thánh nhỏ được tổ chức bên trong lao xá' dưới con mắt bao dung của người cai ngục. Cuối cùng ông Liêu được thả một tháng trước khi mãn tù và bị đày khỏi xứ bảo hộ Trung kỳ. Ông tiếp tục giảng tại Nam kỳ như một truyền đạo lưu động, mãi đến năm 1935 mới bãi bỏ lệnh cấm, ông được phép trở về Trung kỳ.

Tại tỉnh Quảng Ngãi, hai truyền đạo thanh niên, Ông văn Huyên và Đặng Ngọc Cầu, bị bắt tại đảo Lý Sơn và giải về tỉnh quê hương của họ ở Quảng nam. Cả hai đều bị kêu án 3 tháng tù khổ sai vì đã vi phạm chiếu chỉ của hoàng đế. Sau khi ngồi tù một tháng rưỡi, họ được phép trả một số tiền phạt và được thả.

Trong khi các mục sư và người bán sách dạo bị cầm tù, các tín đồ Tin Lành bị hăm dọa bảo phải đốt Kinh Thánh, Mục sư C. E. Travis, đại diện Hội truyền giáo tại Nam phần Trung kỳ báo cáo rằng 'có người giấu, còn có người yếu đuối đã do dự và đốt Kinh Thánh', trong khi người khác 'vui mừng vì là một cớ để trừ bỏ cuốn sách mà họ bất ngờ đã mua'. Tại Trung bộ Trung kỳ, các nhà chức trách vào các nhà mà sung công Kinh Thánh, và các Cơ-Đốc nhân 'được lịnh phải ký vào các bản tuyên ngôn từ bỏ đức tin'. Khá nhiều tín đồ bị bắt chung với các mục sư của họ. Tại Tam kỳ (Tỉnh Quảng nam) dầu tín đồ đã chịu nhiều bắt bớ, một xã trưởng đã chọn theo đức tin mới và về sau đã làm báo cáo thuận lợi về các tín đồ khi họ bị kêu lên hầu quan lại địa phương và như vậy cứu họ khỏi gặp rắc rối hơn nữa.

Thông cáo - chiếu chỉ của Hội đồng Cơ mật ra ngày 26.1.1928, cấm đạo Cao Đài và đạo Tin Lành ở Bắc kỳ và Trung kỳ, đã xui nên sự báo nguy đau đớn trong vòng tín đồ Tin Lành Pháp ở cả Pháp lẫn Đông Dương. Mục sư Th. Calas, Chủ tọa Hội thánh Pháp tại Hà-nội và đại diện các Thánh Kinh Hội tại Đông Dương đã lên tiếng cương quyết phản đối quan Toàn quyền. Mục sư Pháp thấy đó là điều 'bất hạnh' rằng 'ông đã chẳng được thông báo đầy đủ chi tiết đích xác' về sự bắt giam các tín đồ Cơ-Đốc, sự ngăn cản công việc của giáo sĩ, và các biến cố đáng tiếc khác xảy ra, có lẽ là vì thiếu sự liên lạc giữa các Hội thánh ở xa và các mục sư Pháp. Thật thế, không có sự cộng tác giữa hai nhóm, nhân cơ hội quan toàn quyền Pierre Pasquier đến, vì toàn quyền mới, chung cuộc một thư được đệ trình cho ông bởi các thủ lãnh Tin Lành Pháp, tháng 1.1929. Đồng thời Liên bang Tin Lành Pháp lợi dụng khuynh hướng phân rẽ giáo hội với quốc gia trong nền chính trị Pháp, đem vấn đề trình lên Hạ viện và xin cho Đông Dương được hưởng phần nào tự do tín ngưỡng. Như là một sự nhượng bộ đầu tiên, chữ 'Tin Lành' (hoặc đạo Gia-tô, như nhiều người Việt-nam thường gọi Tin Lành) được loại bỏ khỏi bản thông tri, nhưng điều này chỉ có ý nghĩa chút ít, như ông Calas đã nhận xét rất đúng: 'nó chẳng thay đổi tinh thần hoặc cớ tích của tờ thông tri.' Ngày 4.12.1929, một chiếu chỉ được ban ra, nhân danh hoàng đế đối xử với các nhóm Tin Lành trong xứ, do quan nhiếp chính hoàng triều là Tôn Thất Hân và quan Khâm sứ Jabouille đồng ký. Trong có 4 điều khoản chính của chiếu chỉ, 3 liên hệ tới người Tin Lành Pháp và ngoại bang:

  • Điều khoản 1: Các mục sư Tin Lành Pháp không bị hạn chế trong sự thờ phượng và công việc truyền bá Tin Lành.
  • Điều khoản 2: Một thể thức sơ khởi cấp phép được thiết lập cho các Hội Truyền giáo ngoại quốc của mọi tín ngưỡng hoặc hàng giáo phẩm của mọi tín ngưỡng.
  • Điều khoản 3: Những đơn xin phép sẽ được chuyển bởi các đương sự lên Tòa Khâm sứ, để duyệt xét tại cuộc họp của Viện Cơ Mật rồi đệ trình lên hoàng đế hoặc trong thời kỳ vị thành niên của Ngài thì trình lên quan Giám hộ và Lễ nghi để được chấp thuận. Quyết định sẽ được ban hành qua quan Khâm sứ.

Chiếu chỉ dường như cố ý, không phải như một sự đảo ngược những chính sách đã có từ lâu, mà chỉ là một sự tái giải thích bản thỏa ước Hòa ước Pháp-Việt-nam 1884 như các lời vắn tắt sơ bộ đã chỉ rõ: 'Đối với Hòa ước ký ngày 6.6.1884, người ta có thể thấy rằng mục sư Tin Lành Pháp chẳng bao giờ gặp khó khăn trong cuộc thờ phượng hoặc giảng Tin Lành tại Đông Dương. Các giáo sĩ Tin Lành người Mỹ và Gia-nã-đại đã gặp nhiều khó khăn trước và trong Đệ Nhị thế chiến, đã có tự do tương đối khai thác và tiếp tục truyền bá Tin Lành, ít nhất trong 4 tỉnh ở Bắc kỳ, và Trung kỳ thêm vào các nhượng địa Pháp ở Hà-nội, Hải phòng, Đà-nẵng'.

Chiếu chỉ ngày 26.1.1928 thật ra đặc biệt nhắm vào quốc dân đã theo và đang truyền bá 'tôn giáo mới' là Đạo Tin Lành và Cao Đài. Và các mục sư Tin Lành cùng những tín hữu mới là những người trúng đích nhất (vào lúc này, người Cao Đài vẫn còn tập trung công tác ở Nam kỳ, chỉ mới bắt đầu sơ qua ở Nam phần Trung kỳ, còn để yên miền Trung, Bắc Trung kỳ và Bắc kỳ). Tuy vậy, chiếu chỉ mới ra ngày 4.12.1929 được chào đón như là biên giới trong lịch sử các Hội Truyền giáo tại Trung kỳ, chỉ dành một điều khoản mơ hồ, mập mờ đối với số phận của họ'.

Điều khoản 4: Sự hợp thức hóa các doanh sở hiện có sẽ thực hiện cũng theo cùng một thể thức.

Ngay trong điều khoản này, các người Tin Lành quốc gia không được nói đến. Danh từ 'những doanh sở hiện có' xem xét theo thượng văn theo sau ba khoản về mục sư Tin Lành Pháp và các Hội Truyền giáo hải ngoại, có thể coi như mấy nhà chức trách Việt-nam về sau chỉ ra, nói đến các doanh sở của Hội truyền giáo Pháp và hải ngoại. Tuy nhiên, ngôn ngữ và tinh thần của chiếu chỉ này dường như chỉ rằng chính phủ hoàng gia thận trọng trong việc cho quốc dân hưởng chút tự do tín ngưỡng nào đó bằng cách cho phép 'các Hội Truyền giáo hải ngoại của mọi tín điều' hoạt động trong xứ, nhưng đồng thời cũng dành cho Viện Cơ Mật quyền giải thích và áp dụng điều khoản 4 như thấy là thích hợp trong trường hợp cá nhân, liên can đến Hội thánh Tin Lành Việt-nam và hàng giáo phẩm Việt-nam.

Điều đã được coi là chính thức ổn định, chung cuộc đạo Tin Lành vẫn tiếp tục gây rối cho các quan lại, và đến một mức độ rộng hơn cho Hội thánh Tin Lành Việt-nam, cho đến khoảng thập niên 1940. Vì ít nhất trong khoảng năm 1930, chiếu chỉ được giải thích như: 'đòi hỏi mỗi giáo sĩ và mục sư bản xứ phải có một giấy phép riêng để làm việc tại giáo sở đặc biệt của mình, 'giấy phép không dễ gì mà nhận được'. Hội trưởng Hội Truyền giáo báo cáo 'nhất là cho người Việt-nam' Ông Hội trưởng nói thêm: 'Hơn nữa khi một mục sư thay đổi từ nơi này qua nơikhác, thì cần có một giấy phép mới trước khi có thể khởi sự tại nhiệm sở mới'. Ví dụ, tại Quảng ngãi, giấy phép được cấp cho một vị truyền đạo trong không đầy một năm, phải lìa khỏi tỉnh để trở về học Trường Kinh Thánh Đà-nẵng, người thay thế, một mục sư hợp lệ bị từ chối không cấp giấy phép giảng. Quan Tỉnh trưởng bị kinh hãi bởi các hoạt động của Cộng sản tại khu vực đã từ chối không chịu giới thiệu vị mục sư với Viện Cơ Mật. Ông bằng lòng cho phép nhóm họp tại nhà thờ chỉ khi nào có một giáo sĩ ngoại quốc hiện diện. Vì không có giáo sĩ ở luôn tại Quảng ngãi, và giáo sĩ ở Đà-nẵng thật ra phải gánh vác các công việc của nhiều tỉnh không thể nào đi 35 dặm để tới giáo sở này mỗi Chúa nhật. Sự cho phép của viên chức này cũng hầu như là một lệnh đóng cửa nhà thờ hầu như quanh năm. Khi nào không có mặt giáo sĩ trong thành phố, cảnh sát lại đứng trụ tại cửa nhà thờ để biết chắc không có buổi nhóm nào. Tình trạng này không được thay đổi cho đến gót một năm sau khi một sĩ quan cao cấp của đạo binh Lê dương, chính ông là người Tin Lành chết và vị mục sư Việt-nam được gọi đến để làm lễ an táng, vì không có thể tìm được mục sư Tin Lành nào khác, ông Tỉnh trưởng cuối cùng bằng lòng giới thiệu mục sư lên Cơ Mật Viện và ông được cấp giấy phép.

Bắt đầu thập niên 1930, các mục sư, truyền đạo Việt-nam được bao dung ít hay nhiều, nếu không muốn nói là được công nhận trên căn bản cá nhân bởi các nhà chức trách Pháp Việt. Họ có thể xin giấy phép giảng đạo cho mình hoặc xin phép để mở hội mới và tổ chức buổi nhóm giảng Tin Lành bên trong nhà thờ hoặc giảng đường. Đơn xin sẽ được chấp thuận hay chối bỏ tùy theo tin tức đã thâu lượm được về tánh hạnh hay cách cư xử của người đệ đơn, hoặc tình hình của một Hội thánh địa phương đặc biệt. Tỉ dụ, mãi đến cuối năm 1943, một nhà thờ mới tại Thăng bình, Quảng nam chỉ có thể được mở sau khi Mục sư Nguyễn Xuân Diệm đệ đơn xin phép, và được Tỉnh trưởng Quảng nam giới thiệu, chuyển với ý kiến ưng thuận của Quan Khâm sứ, điều tra và đề nghị bởi Thượng Thư Bộ Lễ và Công Chánh, và được chấp thuận bởi Hoàng đế. Kế đó một hệ thống toàn bộ các quan lại được thông tri bởi Đổng Lý Văn phòng Đức Kim Thượng, từ Thượng Thư Bộ Lễ và Công Chánh đến Tri phủ của địa phương Thăng bình và Tam kỳ. Cuối cùng giấy phép được chuyển đến Xã trưởng của Tam kỳ để được chính thức giao lại cho ông Nguyễn Xuân Diệm. Lạ kỳ là đề nghị cấp giấy phép bởi Thượng thư Bộ Lễ và Công Chánh cũng bao hàm một lệnh cho các nhà chức trách địa phương 'vận dụng một sự kiểm soát mật' trên mục sư và 'rút lại giấy phép trong trường hợp người thụ hưởng vi phạm luật lệ'[2].

Năm 1944, một lá đơn khác được đệ trình Chính phủ bởi cùng một vị mục sư để xin mở hai nhà thờ mới ở vùng Trường thanh và Tiên quả, phủ Tam kỳ, Cũng một thể thức ấy được áp dụng, nhưng lần này quan Công sứ Pháp ở Quảng nam viết cấp giấy phép theo lệnh của chính phụ Hoàng thượng và chuyển đến quan Tổng đốc (Tỉnh trưởng) Quảng nam và Quảng ngãi 'để tường' với một lời phê cẩn thận đề phòng 'vận dụng một sự kiểm soát kín đáo, báo cáo tất cả mọi vi phạm luật lệ'.

Ngày 10.2, Emile Grandjean, Khâm sứ tại Trung kỳ, trong một thư viết cho vị Mục sư (Lê văn Long) Ông văn Trung, Chủ nhiệm Địa hạt Trung kỳ, quyết định miễn cho các mục sư, truyền đạo, đã từng được phép 'hành lễ' trong một nơi đặc biệt sẽ khỏi phải xin giấy phép mới khi di chuyển đến một nơi mới, miễn cho các mục sư, truyền đạo khỏi phải 'khổ sai' và 'tuần canh bắt buộc' (một sự miễn trừ có thể đặt họ ngang hàng với các sư sãi Phật giáo và các linh mục Công Giáo Lamã), và cho phép cá nhân các Chủ nhiệm Địa hạt 'lưu thông trong toàn lãnh thổ Trung kỳ và cuối cùng các buổi họp giảng Tin Lành trong các làng người sẽ đi thăm'. Tuy nhiên, quan Khâm sứ nhấn mạnh rằng giấy phép không có thể cấp cho một 'lệnh chung mở các giảng đường thờ phượng' trong các làng, mỗi mục sư, truyền đạo muốn mở một trung tâm mới phải bắt buộc như trước, đệ trình một đơn từ cá nhân. Mãi đến tận ngày Cách Mạng tháng 8.1945 mới chấm dứt thủ tục phức tạp cấp giấy phép để mở các Hội thánh mới hoặc bổ nhiệm một mục sư mới trong Hội thánh địa phương.

Trên bình diên quốc gia, Ban trị sự Hội thánh Tin Lành Việt-nam cố gắng ít nhất 3 lần để được sự công nhận chính thức Hội thánh Tin Lành Việt-nam là một tổ chức tôn giáo có 'tư cách pháp nhân' như giáo hội Công Giáo Lamã, nhưng thảy đều vô hiệu. Năm 1942, Quan Toàn quyền Jean Decoux, làm một cử chỉ thân thiện đối với Hội thánh Tin Lành Việt-nam sau khi quan đội Nhật đã chiếm đóng Đông Dương, tức là gửi một thư cho Hội trưởng Mục sư Lê Đình Tươi để công nhận, không phải Hội thánh như là một đoàn thể tôn giáo với quyền hạn và sự tự do vận động và tuyên truyền nhưng là một Ban Quản lý Tài Sản. Ban Quản lý Tài Sản có Mục sư Lê Đình Tươi, Hội trưởng, và quý ông Kiều Công Thảo, Bùi Tự Do, Lê văn Quế, Lê văn Thái và Lê văn Long. Những mậu dịch của Ban Quản Trị được qui định bởi nghị định của Quan Toàn quyền (1939) ngày 15.1 và 6.12 và sắc lệnh 21.12 ở giữa vòng các sự việc khác, qui định rằng tất cả những sự mua bán, sang nhượng hoặc dùng làm chỗ thờ phượng, học đường, và những việc ý tế, xã hội 'các hội truyền giáo' phải được giấy phép trước từ chính Quan Toàn quyền.

Người ta có thể quan sát Hội thánh Tin Lành Việt-nam chẳng bao giờ được đón nhận những quyền của một đoàn thể tôn giáo như giáo hội Công Giáo Lamã từng được hưởng từ năm 1884 dưới quyền hành chính Pháp và chính phủ Hoàng triều. Mặt khác, Hội thánh Tin Lành Việt-nam mặc dù có những bắt bớ từ năm 1928 đến 1930, chưa từng chịu khổ vì cường độ của sự chống đối và lưu huyết như Giáo hội Công Giáo Lamã đã chịu dưới đời trị vì của triều đại Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trong thế kỷ 19. Những sự bắt bớ tôn giáo, nhất là trong trường hợp của giáo hội Công Giáo Lamã tại Việt-nam, và ở một mức độ kém hơn, Hội thánh Tin Lành hầu như bất biến tăng cường đức tin của tín đồ và giúp họ hiệp một trong đau khổ vì một chính nghĩa chung và cao thượng. Một cách gián tiếp, điều đó đã cho Hội thánh sự quảng cáo rộng rãi hơn, nếu không phải một phong thái bề ngoài hấp dẫn đặc biệt thường hay liên kết với một thiểu số bị áp chế và điều này cuối cùng đã góp phần vào sự truyền bá đức tin của họ.

[1] Lê văn Thái, Giai đoạn đặc biệt của Hội thánh Tin Lành Việt-nam (Đà-lạt, Nhà in Tin Lành, 1950, t.3 tt)
[2] Đế quốc Đại Nam, Bộ Lễ và Chông Chánh, đề nghị cho ông Nguyễn Xuân Diệm mở một nhà giảng phụ tại phủ Thăng bình, Quảng nam, ngày 17.5.1943).

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by