You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp d)

LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp d)


By admin - Posted on 02 April 2009

LỊCH SỬ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT-NAM

(Chương V - tiếp d)

CHÍNH SÁCH HỘI THÁNH BẢN XỨ CỦA HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM: được khuyến khích bởi các thủ lãnh giáo sĩ đã giúp trong sự soạn thảo kế hoạch cho một Hội thánh mới tổ chức, các thủ lãnh bản xứ trong đoàn thể lập pháp và Ban Trị sự quyết định phát khởi một chương trình bản xứ ngay từ ban đầu.

Như một quan sát viên đã nhận xét năm 1927, chính các giáo sĩ đang cố gắng lợi dụng do những kinh nghiệm của các giáo sĩ thâm niên hơn ở các công trường khác miền Viễn Đông và 'quyết định rằng Hội thánh Đông Dương sẽ không trở nên quen thói nhờ vả Ủy Ban Truyền giáo Hải Ngoại để được ủng hộ tài chánh hoặc nhờ cậy các giáo sĩ ngoại quốc để kiểm soát hành chính'. Ngay từ năm 1928, chương trình đã được nhiều sự chú ý và khâm phục đến nỗi A. C. Snead, Bí thư Hải ngoại vụ của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đã lựa công trường Đông Dương ra như một 'gương chứng sáng lạn' của phong trào Hội thánh bản xứ. Các thủ lãnh Hội thánh bản xứ về phần họ cũng xác tín rằng 'tự lập' là con đường độc đáo dẫn ?ến sự độc lập và tự trị hoàn toàn, là nền tảng lành mạnh nhất cho Hội thánh tăng trưởng và truyền giảng trong một xứ mà những cảm xúc hải ngoại thật mạnh sau sự chinh phục của người Pháp. Sự xác tín này thật sự đã đâm rễ sâu trong tin tưởng rằng các nguyên tắc bản xứ đặt trên căn bản 'Kinh Thánh' hầu cho người nào cố gắng tuân thủ Lời Chúa, những người theo Tin Lành tại Việt-nam bao giờ cũng xưng mình làm theo Kinh Thánh và trung thành áp dụng trong công việc Hội thánh. Một nhân tố khác thường bị quan sát viên Tây phương bỏ qua là thiệt sự rằng người Việt-nam thường rất tôn kính Ông Thầy (giáo sư cả về tôn giáo lẫn văn hóa) phải được tôn sùng hơn cha ruột. Kết quả là người ta coi bổn phận tự nhiên nha^'t là đóng góp tài chánh hoặc hiện vật để cấp dưỡng họ. Người Việt Tin Lành hạng trung bình, vô luận nghèo khó đến đâu, vẫn sẵn lòng chấp nhận dự phần vào gánh nặng của Hội thánh để cấp dưỡng ông Thầy thuộc linh của họ. Vấn đề chính của các thủ lãnh Hội thánh là làm sao trù hoạch một chương trình dễ hiểu về tài chánh và tìm được cách thuận hiệp nhất để thực hiện chương trình ấy.

NHỮNG CHỈ THỊ VÀ TUYÊN CÁO VỀ NHỮNG NGUYÊN LÝ HỘI THÁNH BẢN XỨ:

Chẳng có chính sách lập thành hệ thống như đã soạn thảo từng chi tiết hoặc bởi Hội Đồng Tổng Liên Hội hoặc bởi Ban Trị sự Tổng Liên Hội để tiếp xúc với phong trào 'tam tự' bản xứ như trên đã trình bày, có thể truy đến các năm đầu của Hội thánh địa phương thứ nhất trong xứ. Ngay cả trong hiến chương năm 1928 cũng chẳng có sự trưng dẫn đặc biệt đến một chính sách bản xứ như toàn bộ. Tuy nhiên, một nhà biên khảo cẩn thận có thể nhận thấy rằng 'các trước giả của hiến chương đã bảo hòa với những nguyên tắc bản xứ đến nỗi dầu họ không đặt ra một công thức nào cho chúng, nhưng tinh thần tự rị, tự lập thật là lý luận hợp lý đằng sau những điều luật, có lẽ trừ vài ngoại lệ'. Hiến chương (của cả 1928 lẫn 1932) đòi buộc mỗi người muốn làm tín đồ 'phải vui lòng đóng góp tài chính ủng hộ Hội thánh. 'Hai trong số bốn mục đích đã phát biểu của Hội thánh Tin Lành Việt-nam đề cập đến trách nhiệm của người tín đồ để giảng Tin Lành và làm chứng cho những người Việt-nam khắp xứ Đông Dương' tùy theo khả năng và cơ hội của họ. Còn về sự 'tự trị', 33 trang trong số 40 trang Hiến chương bàn về các thể thức tổ chức và quản trị Hội thánh ở mọi tầng lớp.

TỰ LẬP: Một trong các hành động đầu tiên của Ban Trị sự chung, triệu tập sau kỳ họp Hội đồng Tổng Liên Hội tại Mỹ tho năm 1928, đặc biệt nhắm vào chương trình tự lập cho các 'Hội thánh còn nhận trợ cấp của Hội Truyền giáo'. Ban Trị sự đã định rằng 'giai tầng của sự tự lập phải bắt đầu thực hiện, các Hội thánh đã được trợ cấp không đạt được giai tầng buộc phải bù đắp số thiếu hụt, còn Hội Truyền giáo chỉ trả tùy theo giai tầng'. Đây thật sự là chỉ thị đầu tiên của ngành hành pháp có thể coi là chính sách Hội thánh. Giai tầng của sự tự lập là thuận ứng của 'hệ thống thang' cấp dưỡng danh tiếng của R. A. Jaffray, trước hết được soạn thảo và áp dụng tại Hoa Nam và được quảng cáo nhiều tại Việt-nam năm 1929. Trong khi 'hệ thống thang' chia Hội thánh địa phương ra làm 7 phạm trù: các Hội thánh 10 người, 15 người, 25 người, 40 người, 50 người, 80 người và các Hội thánh trên 80 người, nhưng Hội thánh Tin Lành Việt-nam không công nhận các nhóm Cơ-Đốc dưới 20 người là Hội thánh địa phương. Bởi vậy hệ thống mới gồm có 5 bước hướng về tự lập tương đương với số tín đồ của Hội thánh:

a)      Hội thánh gồm 20-25 thuộc viên sẽ đóng góp 25% cho lương truyền đạo và trả mọi phí khoản ngẫu nhiên.
b)      Hội thánh gồm 40 thuộc viên, 50% lương truyền đạo và các phí khoản ngẫu nhiên
c)      Hội thánh gồm 60 thuộc viên, 75% lương truyền đạo và các phí khoản ngẫu nhiên
d)      Hội thánh gồm 80 thuộc viên, cả lương truyền đạo và phí khoản ngẫu nhiên
e)      Hội thánh gồm trên 80 thuộc viên, cấp dưỡng đầy đủ truyền đạo và các phí khoản ngẫu nhiên và tiền thuê mướn.

Một Hội thánh được thừa nhận là đủ tư cách hội viên trong Hội đồng Tổng Liên Hội chỉ khi nào đạt đến giai đoạn chót của hệ thống, vì chẳng có Hội thánh nào được gọi là tự lập mà còn nhận tiền trợ cấp từ Hội Truyền giáo hoặc Hội thánh độc lập đỡ đầu việc mở một giáo sở mới phải trả lương truyền đạo và trả tiền để thuê nhà nguyện. Như một luật lệ, nhà giảng hoặc nhà nguyện Tin Lành thường là căn nhà trệt ở thành phố tọa lạc theo chiến lược ở trung tâm đông hay thưa dân cư. Không nói đến nhà ở của ông truyền đạo vì thường người ta hiểu rằng trong những giai đoạn đầu tiên của sự mở mang Hội thánh, truyền đạo và gia đình ông nên tìm cách ở phía sau nhà nguyện cho đến chừng Hội thánh có thể xây cất hoặc thuê nhà cho gia đình ông. Một nghị quyết được thông qua năm 1930 bởi Hội đồng Tổng Liên Hội dạy rằng các Hội thánh tự lập phải 'xây dựng một tư thất riêng cho mục sư họ với phòng khách đầy đủ tiện nghi'.

Trong thập niên 1930 một đặc trưng mới được thêm vào năng lực của Hội thánh tự lập, dầu nó không bao hàm trong hiến cương cho đến năm 1932. Một Hội thánh tự lập phải sở hữu cho nhóm của mình hoặc bởi xây cất lên hoặc mua đứt. Nhà thờ đầu tiên được xây cất hoàn toàn bởi ngân quỹ của người bản xứ đã hoàn tất năm 1919 tại Mỹ tho. Theo Giáo sĩ George Ferry, giáo sĩ tại Mỹ tho trong thời gian đó, những thủ lãnh tín đồ tự họ có sáng kiến quyên góp và thảo chương trình xây cất. Thật thế sáng kiến này đã phát khởi một khuynh hướng lành mạnh trong các đoàn người Việt Tin Lành trong thập niên 1930, căn cứ trên quan điểm rằng Đức Chúa Trời nên được thờ phượng trong đền thờ, chẳng phải là một phòng nhóm, giảng đường hoặc một căn phố, và đền thờ này phải được người bản xứ họa kiểu và xây cất bằng tài nguyên riêng của họ. Hội đồng Tổng Liên Hội 1932, đứng trước những hiệu quả ngã lòng của nền kinh tế khủng hoảng, ra nghị quyết ‘nhắc nhở các vị Chủ nhiệm về bổn phận của họ phải tìm đường lối giúp các Hội thánh tự trị và tự lập khỏi chịu mọi sự thiếu thốn, và quan hệ hơn hết, cảnh cáo các mục sư và các vị chức viên trong Hội thánh địa phương như nhau, phải hết lòng cậy ơn Chúa để nín chịu mọi sự, làm trọn những nghĩa vụ tương đối để hoàn thành cam kết của họ trước mặt Chúa. Các nghị quyết mơ hồ và dài dòng này thật ra chẳng hiến một giải pháp nào cho vấn đề mà chỉ có hiệu lực của một lời khuyên và tiếng gọi làm nghĩa vụ và hi sinh.

TỰ TRỊ: Hội thánh Tin Lành coi những điều khoản của Hiến chương 1928, cho sự tự trị là đầy đủ cho đến trước năm 1942 cũng chẳng thêm gì. Theo nguyên tắc, quyền tự trị được chia xẻ bởi tất cả những thuộc viên đã chịu lễ báp-têm trong các Hội thánh địa phương và cũng chia xẻ bởi các đại biểu của họ tại các Hội đồng Địa hạt và Tổng Liên Hội.

Trong khi tại các công trường truyền giáo của Hội Liên Hiệp, những Hội thánh được quyền tự trị ngay khi họ chưa thể đóng góp 50% vào sự cấp dưỡng mục sư và chi phí Hội thánh. Hội thánh Tin Lành Việt-nam thừa nhận một chính sách để gia tốc chương trình Hội thánh bản xứ bằng cách lấy sự tự lập làm một điều kiện tiên quyết cho tự trị. Thậm chí Hội đồng Tổng Liên Hội còn hành động để chối những quyền lợi và đặc ân của Hội thánh địa phương nào đã đặt đến nền tự tri trong một thời gian nào đó, lại khởi sự lung lay và thất bại trong việc hội đủ điều kiện cho sự tự lập. Như vậy tự trị được ước định bởi sự tự lập và được dùng làm một khuyến khích để kích thích các Hội thánh trẻ hoàn thành chương trình Hội thánh bản xứ.

TỰ TRUYỀN BÁ: Hội thánh Tin Lành Việt-nam không thử soạn thảo một chính sách về tự truyền bá. Hội chỉ nhấn mạnh nghĩa vụ của cá nhân tín đồ là làm chứng cho đức tin tùy theo khả năng và dịp tiện. Những Hội thánh địa phương được huấn thị phải tổ chức 'những Hội đồng (cuộc giảng bố đạo) để loan báo Tin Lành cho người chưa tin.' Trên các bình diện Địa hạt và Tổng Liên Hội, các chủ nhiệm và Hội trưởng được quyền tự do rộng rãi trong việc trù hoạch khuếch trương Hội thánh. Sự thiếu quan tâm đáng sợ này trong một chính sách bao quát dường như phản ánh sự giả thiết về phần hầu hết các thủ lãnh Hội thánh trong thời kỳ này rằng sự truyển giảng chỉ đơn giản là vấn đề thưc hành của cá nhân tín đồ và của các thủ lãnh riêng từng Hội thánh. Hội đồng Tổng Liên Hội chỉ ra hai quyết định cho chức năng chủ yếu này của Hội thánh. Năm 1928, Hội đồng dạy rằng mỗi Địa hạt phải để riêng một số truyền đạo mệnh danh là 'người giảng Tin Lành' để đi từ nơi này tới nơi khác truyền giảng Tin Lành dưới sự kiểm soát của Ban Trị sự Địa hạt, và sẽ được Hội đồng Địa hạt cấp dưỡng. Bốn năm sau, Hội đồng Tổng Liên Hội thông qua một nghị quyết cốt để thâu góp những số lạc quyên thường xuyên từ các Hội thánh địa phương cho công trình truyền giáo giữa người Thượng và công tác tàu Tin Lành (một loại truyền giảng Tin Lành) tại Nam kỳ.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by