You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp e)

LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp e)


By admin - Posted on 02 April 2009

LL5CH SỬ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT-NAM

(Chương V - tiếp e)

SỰ THỰC THI CHÍNH SÁCH HỘI THÁNH BẢN XỨ:

Giữa các năm 1928-1930, thời kỳ chịu bắt bớ, qua cố gắng của các giáo sĩ Hội Truyền giáo và các thủ lãnh của Hội thánh quốc gia, chính sách bản xứ hóa trong hình thức đơn giản nhất là khởi sự truyền bí quyết cho toàn thể giáo hữu Tin Lành mọi cấp. Những Hội thánh đã trở nên độc lập và dùng làm nguồn cảm hứng cho Hội thánh trẻ còn đang nhận trợ cấp nhiều hay ít.

Như có thể trông đợi, sự nhấn mạnh chính đặt trên sự tự lập nhờ hi sinh, sự truyền bá và tới một mức kém hơn nhờ hi sinh sự tự trị. Thúc đẩy bởi một cố gắng kết hợp quyền lãnh đạo của Hội Truyền giáo và Tổng Liên Hội, danh từ 'tự trị' và 'tự lập' đã trở thành chữ thường dùng nơi cửa miệng giữa vòng người Tin Lành cho đến hôm nay. Mặt khác, tự truyền bá ít khi bàn đến giữa vòng các thuộc viên Hội thánh dầu nhiều người trong họ thật đã thực thi như một hoạt động tự nhiên.

Trong khi các giáo sĩ và các thủ lãnh giáo hội coi sự tự truyền bá như một mục tiêu tối hậu của Hội thánh độc lập, một khi có thể tự duy trì với chính nguồn kinh tế riêng của mình, người tín đồ Tin Lành trung bình hiểu chính sách Hội thánh bản xứ trong danh từ 'bổn phận và đặc ân của con cái Đức Chúa Trời', hơn là những quan điểm được phát biểu khéo léo. Khá nhiều người đã đi xa hơn đến độ chuyển hệ thống quay ngược lại và coi sự tự lập như là phương pháp duy nhất để làm trọn nền tự trị, và trong văn kiện chính trị bằng tiếng Việt, là có nghĩa tương đương với độc lập khỏi sự thống trị ngoại bang hoặc sự can thiệp từ bên ngoài. Họ sẵn sàng tiếp nhận sứ điệp Tin Lành từ các giáo sĩ ngoại quốc và đồng thời họ cũng quyết định xây dựng một Hội thánh độc lập sẵn sàng cộng tác mà không bị kiểm soát bởi Hội truyền giáo ngoại bang. Thật thế, thái độ này đã phản ánh mối cảm xúc chung của người Tin Lành Việt-nam trải qua nhiều năm.

TỰ LẬP: Trên thực tế, sự tự lập khởi sự ngay từ cấp thấp nhất tức là Hội thánh địa phương. Lợi dụng một phần từ khí chất cổ truyền của dân tộc Việt-nam là cấp dưỡng bậc 'thầy', các thủ lãnh Hội thánh địa phương, nhất là các đại biểu tín đồ không thấy khó khăn trong sự tìm người ủng hộ chính sách Hội thánh bản xứ. Vưa khi được chỉ bảo về hệ thống, người Tin Lành Việt-nam trung bình khởi sự đóng góp như là một dấu hiệu tỏ lòng biết ơn đối với Cứu Chúa họ mới tìm gặp. Người khác chỉ tỏ ước ao dâng tiền hầu truyền bá Tin Lành.

Không giống như sự thực hành chung trong thời kỳ sớm hơn khi 'của dâng lạc hiến' được khuyến khích, sự nhấn mạnh đặc biệt được lần lần chuyển qua 'dâng phần mười'. Như các thủ lãnh Hội thánh hiểu rằng 'của lễ lạc hiến được dâng nhiều hay ít cũng ở trên cơ sở bất thường, và thường khi do sự cảm thúc nhất thời, và không thể thành một nguồn lợi tức ổn định của Hội thánh. Trong khi tiếp tục khuyến khích hình thức đóng góp này, họ chủ rương rằng sự tự lập phải được xây dựng trên một nền tảng vững chắc hơn.

Malachi 3:10 với lịnh truyền về phần mười đã trở nên một trong những khúc Kinh Thánh cắt nghĩa nhiều nhất từ tòa giảng, trong Trường Chúa nhật, và trong các lớp dạy Kinh Thánh. Những tín đồ thường làm chứng trong các cuộc nhóm thờ phượng và các Hội đồng về việc dâng phần mười và các phước hạnh theo sau, mà họ quyết chẳng phải chỉ là phước thuộc linh mà còn là phần phước thuộc thể nữa. Một số truyền đạo được mời đi từ nơi này đến nơi kia để báo cáo về chương trình tự dưỡng thành công căn cứ trên sự dâng phần mười tại Hội thánh riêng họ. Một mục sư còn bạo dạn đến độ tuyên bố rằng phần mười chỉ là 'thuế đánh trên dân sự Đức Chúa Trời'. Những phản ứng đối với lối nhấn mạnh quá này thường được ưng thuận chỉ trừ vài ngoại lệ. Tuy nhiên, thái độ chính thức của các thủ lãnh Hội thánh quốc gia rất khiêm tốn, Hội đồng Tổng Liên Hội không thảo luận luật lệ để qui nhập sự dâng phần mười vào trong nghĩa vụ thuộc viên, và thích để lại việc này cho quyết định cá nhân như là vấn đề riêng tư giữa người ấy với Đức Chúa Trời. Một trong những luận cứ đã thuyết phục cho chính nghĩa này dường như là gương chứng nêu lên bởi chính các mục sư truyền đạo đã cẩn thận đem phần mười và những đóng góp của mình giao lại ông tư hóa của Hội thánh và Ban trị sự Địa hạt.

Phần mười trước hết là dâng bằng tiền mặt, nhưng chẳng bao lâu tín đồ khởi sự dâng phần mười hoa lợi, lương thực do gia đình sản xuất, các phẩm vật khác, nhất là tại Hội thánh vùng quê. Thậm chí có người để riêng phần mười đất ruộng của họ và đến mùa gặt đem đủ lúa để nuôi gia đình mục sư trong mấy tháng. Có nhiều người dâng của lễ lạc hiến cộng thêm vào phần mười của họ. Còn một hình thức khác về phần mười và lạc hiến rất thịnh hành giữa vòng tín đồ đến từ vùng quê là lao công và công tác tài khéo, đặc biệt là trong mùa giáng sinh khi đền thờ hoặc giảng đường được trang hoàng rực rỡ cho ngày lễ và trong một chương trình xây cất nhà thờ. Nhiều nhà thờ và tư thất đã được hoàn tất với một giá hạ đặc biệt (đôi khi 50 hoặc 60% giá thật của thị trường) vì thuộc viên Hội thánh đã 'dâng' hàng ngàn ngày lao công với công tác tài khéo thay thế hoặc thêm vào số tiền đóng góp.

Vì Hội thánh Tin Lành Việt-nam chẳng bao giờ bắt buộc phải tuân hành dâng phần mười và chủ trương phần mưới trên một căn bản tự nguyện, chẳng ai cố gắng định số bách phân những thuộc viên dâng phần mười trong Hội thánh địa phương nào. Khá đông tín đồ trong khi dâng phần mười thích dâng cách ẩn danh bằng cách bỏ số tiền vào hộp dâng tiền, đôi khi bỏ trong bì thư không ghi dấu. Có người suy luận rằng, ít nhất là trong thời kỳ này 'của lạc hiến' là hình thức đóng góp phổ thông hơn đối với tín đồ Tin Lành Việt-nam. Một số khá đã dâng chẳng những phần mười nhưng một số bách phân về lợi tức cao hơn nhiều. Một ông hội đồng tại thị trấn Ô-môn, phía Tây Sàigòn đã quyết định bỏ bài chỉ bán rượu mạnh hằng năm đem lại số tiền lời 2 ngàn đồng khi ông chưa trở lại đạo, và dâng một ngàn đồng vào chương trình xây cất đền thờ mà chính ông đứng ra điều khiển. Số tiền dâng của ông lên tới 50% tổng số tiền xây cất. Một tín đồ khác ở lạc thành, gần Đà-nẵng đã dâng ít nhất 60% số tiền cần thiết để xây cất đền thờ và tư thất trong khu vực này.

Một số Hội thánh hương thôn, nơi tiền hiếm hoi, thích xây cất các nhà nguyện ít tốn kém bằng kéo cột tre và lọp tranh hoặc lá dừa vì như thế phần lớn tín hữu có thể tự mình đóng góp công lao. Có vài thuộc viên khởi sự chuyển nhượng đất ruộng cho các Hội thánh địa phương bằng chứng thư để dùng làm nguồn lợi tức của Hội thánh, có vài mục sư và truyền đạo không nhận được huấn thị nào về vấn đề ngần ngại không dám chấp nhận sáng kiến này như là một lối tiến gần đến chương trình tự lập. Hội đồng Địa hạt Trung kỳ đã thảo luận vấn đề này trong hội nghị năm 1933 và cuối cùng trình lên Hội đồng Tổng Liên Hội. Trong một quyết định hơi thiển cận, Hội đồng Tổng Liên Hội triệu tập năm đó tại Ô-môn đã biểu quyết 'cho phép Hội thánh địa phương thâu nhận đất lớn đủ để xây cất nhà thờ và tư thất, cũng khuyên những người có nhã ý chuyển nhượng đất cho Hội thánh địa phương nên bán đất ấy và giao số tiền cho Hội thánh'. Tỉ dụ, ở Tam kỳ Quảng nam, một thửa ruộng do một thuộc viên dâng đã trở thành một nguồn lợi tức lớn và giúp duy trì địa vị tự lập của Hội thánh,  trong khi các Hội thánh khác trong khu vực bị hãm ép quá đỗi vì cớ chiến tranh.

Số Hội thánh tự lập tăng lên trong mười năm sau sự tổ chức Hội thánh quốc gia. Số ấy từ 8 năm 1927 lên đến 19 năm 1930, 48 năm 1933 và 63 năm 1935. Hiệu quả của nền kinh tế khủng hoảng được cảm xúc cách nhức nhối trong các Hội thánh trong các Hội thánh giữa năm 1935 và 1937, và vài Hội thánh đã mất địa vị tự lập. Nhưng với một sự gia tăng hi sinh dâng hiến về phần giáo dân, số Hội thánh tự lập đã đạt tới điểm 72 năm 1938 và 84 năm 1940, và duy trì mức độ này cho đến khi Nhật phóng ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, tháng 12 năm 1941.

Tổng số tiền dâng do Hội thánh địa phương (con số từ các Hội thánh nhận một phần trợ cấp và ở dưới quyền giám thị của Hội Truyền giáo ít báo cáo trong thời kỳ này) không bao giờ tăng lên cân xứng với số Hội thánh tự lập. Với chỉ 7 Hội thánh tự lập, sự đóng góp lên đến 33.135.00 đồng năm 1927 (tương đương với 7.217.00 Mỹ kim). Tuy nhiên, 3 năm sau, tổng số lợi tức của Hội thánh chỉ lên tới 20.025.00 (hay 8.343.72 Mỹ kim) theo hối đoái năm 1930) với 19 Hội thánh tự lập. Hội Truyền giáo báo cáo một sự gia tăng đáng kể trong lợi tức Hội thánh quốc gia giữa các năm 1932, 1937 8.210.83 Mỹ kim năm 1932, 11.365.47 năm 1934, một con số tròn hơn số tương đương 10.000 Mỹ kim được ghi lại năm 1933, 9.164.34 năm 1936 và 12.669.00 năm 1937. Tuy nhiên, khi một người chú ý đến hối suất không nhất định của đồng Mỹ kim trong thời kỳ này, thì có bức tranh thiết thực hơn xuất thiện từ một cuộc nghiên cứu kỹ cùng những con số đó theo giá đồng bạc Đông dương. Lợi tức của Hội thánh Tin Lành Việt-nam đã đạt tới 27.886.85 đồng từ 43 Hội thánh tự lập năm 1932, hạ xuống 17.048.20 đồng từ 56 Hội thánh năm 1934, và tới số thấp ngoại lệ trong năm 1935 với 15.606.98 đồng do 63 Hội thánh đóng góp. Sau khi ghi nhận số lợi tức ốm yếu khác do cùng số Hội thánh tự lập đã dâng 18.563.91 đồng năm 1936, lợi tức Hội thánh thực hiện được sự phục hồi năm 1937 với số thu nhập 28.839.22 từ 61 Hội thánh.

Sự giảm sút kinh khủng của lợi tức Hội thánh giữa năm 1934 và 1936 đã phản ánh sự chèn ép tài chính mà hầu hết mỗi Hội thánh quốc gia và các hội Truyền giáo đều trải qua trong cuộc kinh tế khủng hoảng của thập niên 1930. Tuy nhiên, những Hội thánh Việt-nam thành công trong sự khủng hoàng đã gạt mối tai biến bằng cách kêu gọi sự 'dâng mình' của hàng giáo phẩm và 'sự trung thành làm trọn lời cam kết của họ' về phần người tín đồ. Sự gia tăng các Hội thánh tự lập trong sự cân xứng gián tiếp với lợi tức Hội thánh rõ ràng đánh dấu một sự cắt giảm quyết liệt về lương các mục sư cùng nhu cầu tài chánh cho một Hội thánh để đạt đến địa vị tự lập đã bị giảm sút to lớn. Tuy nhiên, số thống kê tài chính cũng không bao giờ đo lường cách chính xác các sự dâng hiến của Hội thánh, nhất là tại Nam kỳ và tại một số tỉnh Trung kỳ, nơi mà đa số thuộc viên sống ở vùng quê và đóng góp gạo cùng sản phẩm nông trại không có ghi trong bản lược kê kế toán. Trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng đòn nặng nhất giáng trên các mục sư hầu việc Chúa tại các thị trấn miền Bắc Trung kỳ và Bắc kỳ, nơi các thuộc viên Hội thánh tự lập không có những nông dân giữa vòng tín đồ. Những Hội thánh còn nhận trợ cấp dưới quyền kiểm soát của Hội Truyền giáo thấy số trợ cấp bị giảm sút từ 50% đến 70%. Số trợ cấp này là 25 đồng một tháng vào giữa thập niên 1920, bị giảm xuống còn 15 đồng hồi đầu thập niên 1930 và còn 7.50 đồng giữa thập niên 1930. Nói chung, các Hội thánh Tin Lành Việt-nam đã khéo chống đỡ trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng nhờ sự hi sinh và chịu đựng của các mục sư, cố gắng của các tín đồ thế tục trong sự dâng phần mười và chẳng những chỉ dâng tiền mặt mà cũng bằng sản phẩm nông trại và cuối cùng đến một mức tiêu chuẩn tự dưỡng thấp nhất. Những yếu tố này với một số gắng hăng hái để truyền bá đức tin bởi cả mục sư lẫn tín đồ đem đến kết quả là số tín đồ tăng lên đến 80%, thuyết minh rộng rãi cho sự gia tăng đáng kể các Hội thánh địa phương, kể cả những Hội thánh tự lập và chưa tự lập trong thời kỳ khủng hoảng.

Sự phân phối Hội thánh tự lập trong ba kỳ phản ánh chẳng những mức độ hưởng ứng khác nhau của dân chúng mà cũng phản ánh tình trạng kinh tế của mỗi khu vực. Ngay sau sự tổ chức Hội thánh quốc gia, Nam kỳ dẫn đầu trong sự gia tăng các số Hội thánh tự lập trong Hội đồng Tổng Liên Hội. Năm 1928, 6 trong số 10 Hội thánh tự lập ở Việt-nam là tại Nam kỳ. Năm 1930 Địa hạt Nam kỳ ghi được 14 Hội thánh tự lập trong lúc ở Bắc kỳ và Trung kỳ chỉ có 1 và 4 tương đối. Trong khi lợi tức hạ xuống mức thấp nhất trong thời khủng hoảng có các Hội thánh tự lập tại Nam kỳ, trái lại, đạt đến điểm luôn luôn cao ngay trước khi Đệ nhị thế chiến bùng nổ. Như so với 15 Hội Trung kỳ và 2 tại Bắc kỳ, Nam kỳ có thể khoe đạt đến 46 Hội tự lập năm 1935. Mức độ này được duy trì cho đến cuối kỳ khủng hoảng và bị giảm xuống 31 như là hiệu quả của sự sút giảm xuất cảng nông phẩm theo sau sự thất trận của Pháp năm 1940. Những biện pháp mạnh mẽ mau chóng và vào cuối năm 1941, 42 Hội thánh tại Nam kỳ đã đạt được ghi tên trên bảng liệt kê các Hội tự trị, tự lập.

Số tiền dâng của các Hội thánh tự lập trong xứ lên đến 18.563.91 đồng năm 1936, tăng lên 37.968.62 đồng năm 1938 và 58.017 đồng năm 1940, kế giảm xuống 57.085.07 đồng năm 1941. Tuy nhiên, sự gia tăng 200% dường đáng chú ý này trong vòng 4 năm không thể phô trương có Hội thánh tự lập vì cớ một sự lạm phát hung hăng so sự chuẩn bị chiến tranh và càng tệ hại hơn bởi sự chiếm đóng của quan đội Nhật và chiến tranh ngắn hạn giữa Đông Dương thuộc Pháp và Thái lan năm 1941.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 4 guests online.

Hosting by