You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp g)

LICH SỬ HT/VN (Chương IV - tiếp g)


By admin - Posted on 02 April 2009

LỊCH SỬ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT-NAM

(Chương V tiếp-g)

TỰ TRỊ: Tự trị đã trở nên liên hợp với tự lập không thể phân rẽ được, ít ra cũng trong tâm trí tín hữu Tin Lành Việt-nam từ năm 1927.

Từ khi tổ chức Hội đồng Tổng Liên Hội và Ban Trị sự Tổng Liên Hội năm 1927, các giáo sĩ Hội Truyền giáo thận trọng rút tay khỏi những việc nội bộ của các Hội thánh tự lập, mà họ thích gọi là Hội thánh độc lập. Những Hội thánh độc lập được quản trị phần chính bởi các mục sư truyền đạo quốc gia, trong nhiều trường hợp, có sự giúp đỡ chút ít của các tín đồ thế tục. Các chấp sự thường được lựa chọn bởi Hội đồng thường niên của Hội thánh để giám thị việc giảng Tin Lành, những buổi nhóm cầu nguyện trong các đơn vị Hội thánh (một đơn vị có thể là một ấp, một tổng hoặc một quận trong thành phố) và khuyến khích những người mới tin đi nhóm thờ phượng. Tỉ dụ tại Nam kỳ, Hội thánh gồm 12 đơn vị đại diện 12 làng hoặc ấp, mỗi nơi đều có các chấp sự và thủ quĩ. Sự quản trị Hội thánh trong trường hợp này được điều khiển bởi các mục sư và Ban Trị sự qua 12 Ban Trị sự cỡ nhỏ này. Tuy nhiên, hầu hết các Hội thánh ưa thích một hình thức quản trị đơn giản hơn, nó thật ra hầu như hoàn toàn giao vào tay mục sư và 1 hoặc 2 chức viên thường là thư ký và thủ quĩ.

Những tổ chức Hội thánh, như các lớp học Kinh Thánh. Đoàn thể thanh niên, và các lớp dạy Kinh Thánh cho thiếu nhi, và các Ban Chứng đạo không bắt buộc vào hồi đầu thời kỳ này. Trong thập niên 1930 khi mỗi Hội thánh có Trường Chúa nhật riêng, sự điều hành và khai triển tùy thuộc phần lớn vào tài lãnh đạo cùng sáng kiến của từng Hội thánh. Ban Chứng đạo được huấn luyện kỹ nhất trong giữa thập niên 1930 là ở Hà-nội, tại đó 64 thanh niên dấn thân trong việc cá nhân chứng đạo đã giúp các buổi giảng Tin Lành ít nhất 4 tối mỗi tuần. Ban Chứng đạo Sàigòn dưới sự dẫn đạo của Mục sư Lê văn Quế, báo cáo năm 1935 có tăng thêm hoạt động kết quả là hàng trăm người đến hỏi đạo và 52 người chịu báp-têm trong năm. Mãi cho đến cuối thập niên 1930, các đoàn thanh niên mới tổ chức ở Đà-nẵng, Hà-nội, Cần thơ và Sàigòn, dầu Hội đồng Tổng Liên Hội không gắng sức tổ chức đoàn thể thanh niên trong mỗi Hội thánh cho đến năm 1942. Sự giảng Tin Lành cho thiếu nhi được giao lại cho sự chăm sóc của quí bà mục sư, truyền đạo. Nói chung, trong thời gian này tổ chức thật lỏng lẻo. Chỉ trong các trung tâm truyền giáo, nơi quí bà giáo sĩ có thể giúp đỡ hữu hiệu trong sự điều khiển các lớp học này mà người ta có thể thấy những chương trình giáo dục Cơ-Đốc có hệ thống và hấp dẫn cho thiếu nhi.

Tại cấp Địa hạt, những Hội thánh ở Nam kỳ là các hội đầu tiên (1927) tổ chức một Hội đồng. Họp tại Mỹ tho, chừng 300 đại biểu, gồm cả những nam nữ đại biểu tín đồ, họp lại để cầu nguyện và nghiên cứu Kinh Thánh. Những Ban Trị sự Địa hạt được bầu lên bởi các Hội đồng miền Nam theo một ý nghĩa tích cực trong nghị lực thúc đẩy sự tự lập và tự khuếch trương hơn là các đối nhiệm của họ Bắc kỳ và Trung kỳ. Trước kia, Bắc kỳ và Trung kỳ hiệp lại là một Địa hạt khởi đầu thực thi bản hiến chương năm 1928, lại được tổ chức thành các địa hạt riêng rẽ năm 1931 như kết quả 'sự tăng trưởng mau lẹ' của các Hội thánh trong 2 kỳ này. Sau khi đã chấp nhận hiến chương địa hạt theo sau Hội đồng Tổng Liên Hội năm 1932, mỗi địa hạt sắp đặt một chương trình riêng, chi tiền cho Hội đồng riêng và quản trị mọi vấn đề thuộc bổ nhiệm các mục sư và theo đuổi những chương trình bành trướng. Tuy nhiên, trong trường hợp sau, các thủ lãnh địa hạt thường tham khảo ý kiến các giáo sĩ đối nhiệm, đặc biệt tại miền Đông Bắc kỳ, và ở Bắc, Nam bộ Trung kỳ, nơi Hội Truyền giáo còn giữ vai trò quan trọng trong công tác tiền phong. Nhân viên các Ban Trị sự Địa hạt, kể cả chủ nhiệm địa hạt ít có thì giờ thực hiện phần nhiệm vụ suốt cả năm. Chỉ trừ vài đại biểu tín đồ được bầu cử hồi đầu thế kỷ này còn tất cả nhân viên là mục sư coi sóc một Hội thánh độc lập, một trách nhiệm đòi hỏi toàn thể thời giờ và nghị lực. Mãi đến cuối thập niên 1930, các chủ nhiệm địa hạt mới được thoát khỏi chức vụ chăn bầy nhờ đó có thể hoàn toàn chú ý phục vụ quyền lợi của địa hạt. Chính vị Hội trưởng Tổng Liên Hội cũng phải phục vụ như một mục sư và người giảng Tin Lành cho đến năm 1941, khi Mục sư Lê Đình Tươi bị áp đảo dưới gánh nặng gấp đôi của chức vụ Hội trưởng, và Mục sư Hội thánh Tin Lành Sàigòn.

Trong thời kỳ 1933-1936, Ban Trị sự Tổng Liên Hội gặp phải hai cơn khủng hoảng trầm trọng, hai vị mục sư bị dứt phép thông công đã trở ngược lại chống đối Hội thánh và dẫn hàng trăm tín đồ ở Trường an, Cẩm long và Đà-nẵng đi theo Hội Cơ-Đốc Phục Lâm An Tức Nhật (Sa-bát). Sự chia rẽ này cùng tiếng dội của nó để lại Hội thánh Trường an thành một Hội thánh vô tổ chức trong nhiều năm. Như kết quả của sự căng thẳng giữa hai giáo phái Tin Lành, một số khá đông tín hữu nhất định bỏ tất cả mọi hình thức của đức tin Cơ-Đốc giáo. Tuy nhiên, nhiều người trong số tín hữu đã bỏ ba Hội thánh lại trở về ràn chiên của Hội thánh Tin Lành Việt-nam năm 1936.

Các Hội đồng Tổng Liên Hội năm 1932-1935 nhuận chánh Bản Hiến Chương năm 1928 như tài liệu mới được biết, không khác với hiến chương trước về nội dung. Tuy nhiên, hiến chương đã được sắp đặt và viết lại cách dễ hiểu hơn bởi các thủ lãnh Việt-nam. Như sự thay đổi liên hệ nhiều đến chức vụ mục sư, các thể thức bầu cử, như tư cách của Hội trưởng và Phó Hội trưởng, quyền hành và các thể thức của Ban Trị sự chung. Hội đồng chung (Tổng Liên Hội) năm 1932 biểu quyết rằng khi nào Ban Trị sự chung bỏ phiếu, các đại biểu của Hội thánh và Hội truyền giáo bao giờ cũng phải bỏ phiếu trên căn bản bình đẳng, tức là cả hai bên phải có cùng một số phiếu, vô luận số thuộc viên tương đối có thể lên tới bao nhiêu. Điều này rõ ràng phản ánh mối quan tâm của các thủ lãnh Việt-nam rằng họ không bị thua phiếu vì bên giáo sĩ số đông hơn, mặc dù chỉ những vấn đề liên can đến cả Hội Truyền giáo và Hội thánh Tin Lành Việt-nam mới được Ban Trị sự chung bàn đến. Bởi một quyết định kỳ lạ, Hội đồng Tổng Liên Hội năm 1934 đã chối bỏ một biểu quyết của Hội đồng Trung hạt 'cho phép phụ nữ được phục vụ như đại biểu tại các Hội đồng'. Sự phân biệt này không bị loại bỏ cho đến chừng kết thúc chiến tranh giành độc lập. Mối quan tâm chính của Hội đồng Tổng Liên Hội trong sự duyệt lại hiến chương có vẻ như là vấn đề qui nhập Hội thánh quốc gia dưới luật pháp của xứ. Vì Ban Trị sự Tổng Liên Hội không thể đạt được một sự thừa nhận chính thức từ Quan Toàn quyền tiếp theo cuộc hội kiến với Quan Toàn quyền Pierre Pasquier năm 1929, Hội đồng Tổng Liên Hội biểu quyết năm 1933 giao cho Ban trị sự Tổng Liên Hội phải 'khai thác luật lệ của xứ' và trong trường hợp sự qui nhập không thể hoàn tất cho Hội thánh quốc gia toàn bộ, thì sửa soạn 'qui nhập các Hội thánh từng địa hạt riêng rẽ vào trong xứ nào việc đó có thể thực hiện được'. Như đã nói ở trên, mặc dầu có sự cố gắng về phần Ban Trị sự Tổng Liên Hội, chính phủ chung của Đông Dương không ban một phúc đáp xác quyết cho đến tháng 1.1942. Như một luật lệ và thực hành của Hội thánh Tin Lành Việt-nam chỉ ra sự tự trị phần chính tùy thuộc quyền lãnh đạo của mục sư. Hội thánh chú ý hơn hết về sự huấn luyện họ, vừa khi Hội đồng Tổng Liên Hội tổ chức, hai vị mục sư bản xứ được chỉ định làm giáo sư trọn thời gian tại trường Kinh Thánh Đà-nẵng. Vào cuối thập niên 1930, tỉ lệ người bản xứ đối với các giáo sĩ trong Ban Giáo sư Trường Kinh Thánh là 2 đối 1. Vị giáo sư trác tuyệt nhất trong thời kỳ này là Mục sư Ông văn Huyên, đã trở nên Giám đốc Trường Kinh Thánh khi các giáo sĩ bị người Nhật quản thúc năm 1942.

Năm 1927, sáu năm sau khi Trường thành lập, Trường Kinh Thánh Đà-nẵng trở nên Trường lớn nhất trong số các trường của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp mở. Với một đoàn thể học viên 93 người năm 1928, 87 người năm 1929, 94 người năm 1930, 99 người năm 1931, nhà trường đã đào tạo một dòng công nhân liên tục cho Hội thánh bản xứ mà sự tăng trưởng rõ ràng cân xứng với số lượng và phẩm chất của các học viên nhà trường. Nạn kinh tế khủng hoảng lan rộng đã làm chậm lại sự ghi tên nhập học ở Trường, y như sự bành trướng của Hội thánh giữa các năm 1932 và 1937. Chỉ có 42 học viên năm 1932 và 47 năm 1933, nhà trường thấy sự ghi tên tụt xuống mức thấp nhất năm 1934 khi chỉ có 20 (11 nam và 9 nữ) người ghi tên nhập học. Mãi cho đến 1938 nhà trường mới lấy lại được cân sức trước kia và năm sau số học viên là 112 người. Giữa các năm 1940 và 1943, một số ghi tên trung bình là 92 miễn là có đủ mục sư truyền đạo cho sự tăng trưởng mau lẹ của Địa hạt Nam bộ và duy trì một sự phát triển khiêm nhượng tại các Địa hạt Bắc và Trung bộ. Cuối năm 1931, trong số 300 người nam và nữ ghi tên nhập học tại Trường Kinh Thánh Đà-nẵng, có 230 người dấn thân vào công việc ở khắp cả 5 xứ Đông Dương. 71 trong số 78 nam tốt nghiệp ra phục vụ như mục sư, truyền đạo. Tuy nhiên, tỉ lệ này dường như giảm xuống khá nhiều giữa các năm 1936 và 1941, vì trong số 450 nam nữ học viên theo học tại trường Kinh Thánh từ lúc ban đầu chỉ có 268 người tích cực tham gia vào công việc hầu việc Chúa năm 1941.

Theo nguyên tắc 'tối đa người bản xứ và tối thiểu giáo sĩ', công trường tại Việt-nam có tỉ lệ cao nhất của mục sư bản xứ đối với giáo sĩ ngoại quốc, tức là 2 đối 1 năm 1926, 8 đối 1 năm 1937, và 12 đối 1 năm 1941. Các giáo sĩ Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp cũng khuyến khích sự tấn phong các mục sư truyền đạo 'thiêng liêng và dâng hiến' việc ấy đem đến kết quả là có số mục sư được công nhận đầy đủ cao hơn tất cả các công trường Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp ở khắp thế giới trước Đệ nhị thế chiến. Sự tin tưởng ở nơi quyền lãnh đạo quốc gia càng nâng cao phong trào Hội thánh bản xứ tại Việt-nam rất nhiều.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 4 guests online.

Hosting by