You are hereForums / Trang Chính / Lịch Sử HT/VN / LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp-h)

LICH SỬ HT/VN (Chương V - tiếp-h)


By admin - Posted on 02 April 2009

 

LỊCH SỬ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT-NAM

(Chương V - tiếp-h)

SỰ TỰ TRUYỀN BÁ: Nguyên tắc thứ ba của chính sách Hội thánh bản xứ chịu thiệt thòi vì cớ sự thiếu một chiến lược kết hợp về phần Ban Trị sự Tổng Liên Hội. Công tác tiền phong khai khẩn trong thời kỳ này phần lớn giao lại quyền chỉ đạo của Hội Truyền giáo, 'nơi không có đồng tiền bản xứ liên hệ đến'. Tại Bắc kỳ, cố gắng giảng Tin Lành đã bị hạn chế nhiều trong vùng phụ cận là Hà-nội và Hải phòng, trong khi cấm đạo Tin Lành, lại được tăng gấp đôi trong thập niên 1940 khi các giáo sĩ đến công trường. Hội Truyền giáo thêm cho Bộ tham mưu ở Bắc kỳ và bắc bộ Trung kỳ 4 cặp trong cuối thập niên 1920 đến 34 cặp năm 1941, 4 trong số đó chuyên về công việc giữa vòng các bộ lạc Thổ, Mèo, Mán, Nùng và Khaleu. Tại miền trung Trung kỳ và tới một mức độ kém hơn nam phần Trung kỳ, Hội thánh quốc gia đảm nhận phần lớn trách nhiệm thiết lập các Hội thánh mới và mở các khu vực mới cho sự truyền bá đức tin Tin Lành. Thậm chí Hội thánh quốc gia cũng khuếch trương các hoạt động cho Hội thánh kiều bào ở Vientiane, Pnom-Penh và Kampot.

Trong cấp địa hạt, chương trình khuếch trương được trù hoạch và thi hành bởi các chủ nhiệm cương quyết ở Bắc kỳ và Nam kỳ trong khi Trung hạt với một vài ngoại lệ, đã phải nhờ cậy đến sáng kiến và sự ủng hộ của Hội truyền giáo. Tại Bắc kỳ, Mục sư Dương Nhữ Tiếp đã lìa bỏ chức vụ Hội trưởng năm 1931 và tiếp tục những công tác mở đường rất kết quả tại Nam kỳ. Mục sư Lê văn Thái vừa phục vụ như Chủ nhiệm, vừa là mục sư chủ tọa Hội thánh Hà-nội từ 1931-1934, đã phát triển với sự giúp đỡ của một giáo sĩ, bà H. H. Dixon, một đường hướng mới để tự truyền bá. Những căn phố được thuê, nhà tín đồ được mở cửa cho sự giảng Tin Lành trong các trung tâm chiến lược của khu vực thủ đô Hà-nội. Mục sư Thái và bà Dixon sắp đặt để nhóm 7 cuộc họp hằng tuần sử dụng nhà thờ chính và 8 giảng đường và 2 phòng đọc sách vùng phụ cận thành phố. Cố nhiên, những cố gắng của họ ủng hộ bởi những Ban Chứng đạo đã được huấn luyện thuần thục chẳng những chỉ giúp trong các buổi nhóm mà còn để nhiều thì giờ theo dõi người hỏi đạo trong các khu vực tương đối của họ. Ít nhất có 3 tín đồ thế tục được thúc giục bởi sự sốt sắng truyền giảng đã đảm nhiệm công tác trong ba phân khu của thành phố. Tất cả những người mới tin đều được mời đi nhà thờ chính nhóm họp thờ phượng Chúa sáng Chúa nhật, cũng đẩ họp trong các hội nhánh tương đối nơi họ nhận sự giáo huấn và giúp đem người khác trở lại đức tin. Chương trình khuếch trương này cứ tiếp tục cho đến khi chiến tranh Đông Dương thứ nhất kết liễu (1954) và kết quả là thành lập được các Hội thánh Gia-lâm, Bạch mai, Hà đông và Ô Cầu Giấy.

Song le, như Mục sư Thái nhận thấy điều cần thiết hơn cho Bắc hạt mà ông là chủ nhiệm, ông từ chức Mục sư Hội thánh Hà-nội, và lên Bắc giang để lập một Hội thánh mới và khởis ự một chiến dịch Tin Lành mạnh mẽ hơn trong tỉnh. Trong ba tháng có 72 người trở lại đạo được ghi nhận ở Bắc giang kể cả một nhà báo từ Hà-nội lên. Nhờ lòng hảo tâm của gia đình một văn sĩ nổi tiếng, ông mua được miếng đất ở trung tâm thành phố và xây cất một đền thờ cho hội chúng mới. Sau khi thiết lập cơ sở này, Mục sư Thái đi ra giảng Tin Lành cho 4 tỉnh khác nhau trong bốn tuần lễ kế tiếp, rồi trở về Hội thánh nhà tuần lễ thứ 5 để đền bù thời gian vắng mặt bằng cách làm việc 7 ngày, điều đòi buộc phải mấy tuần mới làm xong. Ông tiếp tục chương trình cấp tốc và khó nhọc này gần 2 năm cho đến chừng mỗi thị trấn lớn ở Bắc kỳ và miền Bắc Trung kỳ đều được thăm viếng.

Nhờ một cố gắng kết hợp giữa các giáo sĩ và các mục sư bản xứ, 30 Hội thánh và giảng đường được mở cửa ở Bắc kỳ vào cuối năm 1934, đối với 34 ở Trung kỳ và 47 ở Nam kỳ. Số các mục sư và truyền đạo từ 2 năm 1929 lên đến 40 năm 1933, hầu hết những người này đến từ Quảng nam của Trung hạt. Năm 1938, Bắc hạt với 57 Hội thánh và hội nhánh thậm chí đứng trên cả Trung hạt về số các Hội thánh chính (28 đối 19). Kết quả này là dấu chỉ sự cố gắng đáng khen bởi các thủ lãnh địa hạt đã tranh đấu bành trướng với các giáo hội với những lực lượng mạnh hơn. Bắc kỳ đạt đến điểm cao nhất về sự khuếch trương năm 1940 với 58 hội chính, trong khi Trung kỳ và Nam kỳ tương đối ghi được 56 và 75. Với sự chiếm đóng miền Bắc Đông Dương bởi quân đội Nhật, Bắc hạt chịu khốn khổ nhiều vì sự khủng hoảng quân sự và kinh tế này bắt buộc các chức viên địa hạt đóng cửa 22 nhà thờ và hội nhánh chỉ nội trong năm 1941, trong khi cả Trung hạt chỉ đóng cửa 1 và Nam hạt thu xếp mở thêm được 10 chỗ mới.

Nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiện tượng này gây nhiều hỗn loạn trong các đoàn thể Tin Lành tại Đông Dương. Người ta phải khâm phục lòng can đảm và sự hiến thân cho chức vụ lãnh đạo của cả Hội Truyền giáo và Hội thánh Tin Lành Việt-nam. Những giáo sĩ đắc lực và học thức nhất của công trường đã được bổ nhiệm ra Bắc kỳ nơi bộ biên tập Thánh Kinh Báo, đã xuất bản hơn 90% các sách về Tin Lành lưu hành ở khắp Đông Dương, một sự đóng góp đầy ý nghĩa cho sự truyền bá sứ điệp Tin Lành.

Các mục sư truyền đạo bản xứ gồm lại những người như các Mục sư Lê văn Thái, Dương Nhữ Tiếp, Huỳnh Kim Luyện, Lê Nguyên Anh, Quoc Foc Wo, Trần văn Đệ, Ông văn Trung, nhiều người đã từng là lợi khí để thiết lập nhiều Hội thánh vững mạnh tại Trung kỳ và Nam kỳ trước khi thuyên chuyển ra Bắc kỳ. Tuy nhiên, mặc dầu các cố gắng đến cùng và lòng sốt sắng truyền bá theo tinh thần các sứ đồ, Bắc hạt vẫn còn trải qua nhiều năm là phân khu yếu kém nhất của Hội thánh Tin Lành Việt-nam.

Người ta nghe những lời phàn nàn về thái độ 'cứng rắn và ngạo mạn' của người Bắc kỳ, về phần một vài giáo sĩ. Nhưng người ta có thể nhớ lại giáo hội Công Giáo Lamã, làm việc dưới nhiều điều kiện trái nghịch đã thành công trong việc thiết lập một giáo hội thịnh vượng ở Bắc kỳ từ thế kỷ thứ 17[1]. Một lý do nổi bật về sự thiếu sót không hưởng ứng có thể thấy trong cấu trúc hương thôn của làng xã Việt-nam, miền Trung châu sông Hồng (và cho đền miền Bắc Trung kỳ)[2]. P. Gourou nhận xét rất đúng trong tác phẩm của ông là Les Pays Tropicaux (Các Xứ Miền Nhiệt Đới): 'Một người nam tồn tại như một thuộc viên của làng xã vì không thể tưởng tượng được một người nên sống một mình xung quanh chỉ có gia đình riêng của người'. Trong khi truyền thống Tin Lành nhấn mạnh rằng người ta phải gia nhập đức tin Cơ-Đốc cách cá nhân - trái ngược với sự tin đạo hàng loạt thường thực hành bởi giáo hội Công Giáo Lamã - người tin đạo cá nhân trong phần lãnh thổ này của Việt-nam thấy mình rất khó rời bỏ cấu trúc uy quyền  của làng xã với cả một 'hỗn hợp những đặc trưng xã hội tôn giáo và chính trị.'

Khi người ta so sánh số thống kê do 3 địa hạt cung cấp trong thời kỳ này, người ta được ấn tượng bởi 'số người tin Chúa' tại Bắc hạt, là hạt trẻ hơn hai địa hạt anh em kia, đã khởi sự bắt kịp họ vào giữa thập niên 1930. Tuy nhiên, trong số 1.000 người tin Chúa năm 1934, chỉ 164 người chịu lễ báp-têm năm 1935, trong khi Nam hạt làm lễ báp-têm cho 722 người trong số 1069 người và Trung hạt 346 trong số 578 người. Tỉ lệ này không thay đổi mấy trong các năm kế tiếp. Năm 1939, Nam hạt ghi nhận 628 người chịu lễ báp-têm và 1479 người tin Chúa. Trung hạt có 309 người chịu lễ báp-têm và 1934 người tin Chúa, trong khi Bắc hạt báo cáo chỉ có 99 người chịu lễ báp-têm mà số người tin Chúa lên đến 1248. Điều này dường như chỉ rằng sự truyền bá đức tin tại miền Bắc đã nhận được sự hưởng ứng nhiều như tại trung kỳ và Nam kỳ, nhưng chỉ có một phân số nhỏ đã theo học lớp Phước Âm Yếu Chỉ để chịu báp-têm, và có lẽ số người còn trung thành với đức tin sau khi chịu lễ báp-têm lại càng ít hơn nữa. Thật sự này biện minh rõ cho số tín đồ nhờ chịu lễ báp-têm mà Bắc hạt báo cáo hàng năm khởi sự từ 131 năm 1928 tăng sách chậm chạp lên 190 năm 1930, 320 năm 1932, 550 năm 1934, 663 năm 1936, 785 năm 1938 và 988 năm 1941.

Một nhân tố khác có thể xét đến là tình hình kinh tế của Bắc kỳ tại đó lợi tức trung bình thấp nhất trong ba kỳ tại Việt-nam và điều kiện sinh sống kém đến nỗi hàng ngàn người phải lìa bỏ làng xã quá đông đúc của họ (mật độ trung bình là 1258 người/một dặm vuông trong miền trung châu, và 3.800 tại tỉnh Nam định) để đi tha phương cầu thực, thậm chí ở dưới những điều kiện thiếu vệ sinh tại các đồn điền cao su ở Nam kỳ. Chỉ có vài ngoại lệ, giáo dân của Hội thánh miền Bắc, vì cớ sự nghèo khó ti tiện, không thể đóng góp đầy đủ cho nền tự lập của Hội thánh họ, và đối với chương trình khuếch trương do các vị thủ lãnh địa hạt thực hiện thì lại càng khó hơn nhiều. Điều này được phản ánh trong số các Hội thánh tự lập trong Bắc hạt giữa các năm 1928 và 1941, một Hội thánh duy nhất, tức là tại thủ đô Hà-nội, đã tự lập trước năm 1935, chỉ có 2 trong số 32 Hội thánh đạt đến tự lập năm 1935, và 5 trong số 58 Hội thánh năm 1940.

Thật trong giai đoạn đầu của việc truyền bá đạo Tin Lành tại Việt-nam, các mục sư truyền đạo phải được gửi từ Quảng nam ra Bắc và vào Nam. Nhưng rất sớm, vào giữa thập niên 1920 các Hội thánh miền Nam đã có thể gửi tín đồ mới tuyển đi học tại Đà-nẵng để được huấn luyện, đảm trách nhiệm vụ lãnh đạo trong địa hạt mình. Trái lại, Bắc hạt cứ tiếp tục ỷ lại vào Trung hạt cách nặng nề để có hầu hết các nhân viên mở mang và duy trì các Hội thánh cho đến khi chiến tranh giành độc lập kết thúc năm 1954. trong khi những người từ Quảng nam này là xuất chúng, khá nhiều người thấy những điều kiện hà khắc ở miền Bắc, cả phần thuộc linh lẫn thuộc thể, hơn là họ có thể chịu đựng được một thời gian lâu dài nên nhất định từ bỏ chức vụ hoặc xin thuyên chuyển về địa hạt nguyên quán.

So sánh với hai địa hạt anh em, Bắc kỳ ghi nhận tỉ lệ cao nhất về số mục sư bị thiệt hại, gồm có từ bỏ nhiệm sở, tàn phế và nạn nhân của bịnh gây tử vong. Trong số các mục sư bản xứ hầu việc Chúa tại Bắc hạt giữa các năm 1927 và 1941, 18,3% đã xin thuyên chuyển về địa hạt khác, 26,6% từ bỏ chức vụ vì bịnh hoạn hoặc vì duyên cớ khác, 13,3% chết đang khi thi hành chức vụ. Điều này thêm lên đến 58,2% của tổng số bộ tham mưu và dường như cung cấp thêm một lời giải thích về sự giảm sút thình lình giữa thập niên 1930 nhất là năm 1941.

Tuy nhiên, đứng trước sự cạn tắt nhân viên này, bộ tham mưu địa hạt dường như đã khuếch trương thái quá trong việc tiếp tục mở thêm các nhà thờ, kết quả là không được điều kiện đầy đủ. Tỉ dụ, năm 1940, 58 Hội thánh chính và hội nhánh tại Bắc hạt mà chỉ có 30 vị mục sư chăm sóc, so sánh với 38 Hội mà có 40 mục sư hành chức năm 1934. Sự khuếch trương thái quá này có thể coi là một trong những nhân tố góp phần vào sự tăng trưởng chậm chạp về số tín đồ và số Hội tự lập của địa hạt này. Tại Trung kỳ, cố gắng khuếch trương tập trung trong thời kỳ này vào việc các tỉnh Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng bình và Thừa thiên ở miền Bắc và Trung Trung kỳ, và từ Bình định đến Bình thuận ở miền Nam. Về phía Hội truyền giáo, R. M. Jackson, I. R. Stebbins, W. A. Pruett, C. E. Travis, đã để nhiều thì giờ chuẩn bị dọn đường và với sự giúp đỡ của các mục sư bản xứ, đã thành công trong việc mở hàng chục Hội thánh dọc đường cái quan số 1, là xa lộ chính của xứ nối liền Hà-nội với Sàigòn. Công việc giảng đạo được đảm trách bởi các truyền đạo Việt-nam như Hoàng Trọng Thừa, Phan Đình Liệu, Dương Nhữ Tiếp và các học viên năm thứ hai tại trường Kinh Thánh trong thời gian tập sự.

Kiểu mẫu truyền bá trong các tỉnh này, như thật có tại mấy phân khu Bắc kỳ chỉ là sự thực hành chung trong nhiều công trường truyền giáo vào thời kỳ này. Một cặp giáo sĩ trước hết được định cư tại một trung tâm chiến lược (trong trường hợp này, Vinh, Huế, Nhatrang, Qui nhơn) và một chuỗi buổi nhóm được duy trì tại Trung tâm bởi một truyền đạo của địa hạt. Điều này dường như bất biến đạt đến kết quả là thành lập một nồng cốt cho Hội thánh. Kế đó, mục sư hoặc truyền đạo sẽ được mời đến để xây dựng và chăn giữ hội chúng, trong khi giáo sĩ cùng với một nhóm truyền đạo trẻ tuổi và các học viên tập sự Trường Kinh Thánh, có khi được tăng cường thêm mấy người bán sách dạo, đi quanh các thành và các làng lân cận giảng dạy, làm chứng bán sách và phân phối những phần Kinh Thánh và truyền đạo đơn, một nhóm Hội thánh chính và hội nhánh sẽ được tổ chức nơi vị giáo sĩ và vị mục sư niên trưởng có thể giám thị công việc trong suốt cả khu vực.Theo kiểu mẫu này, giáo sĩ vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong việc dự trù kế hoạch và ủng hộ chương trình khuếch trương. Các thủ lãnh địa hạt trong các trường hợp này nhờ cậy Hội Truyền giáo để được tán trợ phần tài chánh nhằm thực hiện công cuộc bành trướng của họ. Chính vì lý do này, họ có khuynh hướng kiềm chế sáng kiến họ, điều có hại cho nguyên tắc tự truyền bá của chính sách Hội thánh bản xứ. Đồng thời các người mới tin có khuynh hướng trông vào giáo sĩ chẳng những để được trực tiếp hoặc gián tiếp lãnh đạo công việc của Hội thánh, mà cũng còn để được một chương trình trợ cấp dài hạn trong vấn đề tài chánh. Với sự ngoại trừ Hội thánh Đàlạt, Nhatrang và Vinh, các Hội thánh thiết lập ở các tình miền Bắc, miền Nam trung kỳ vẫn còn nhỏ và yều đuối cho đến cuối thời kỳ này

Một kiểu mẫu bành trướng khác, hoàn toàn bản xứ trong ý nghĩa đầy đủ nhất của danh từ, được thấy tại Quảng nam, tỉnh nguyên quán của các mục sư, truyền đạo đã hầu việc Chúa suốt cả xứ. Công cuộc tiên phong mở đường, trong hầu hết các trường hợp được thực hiện chẳng phải bởi các mục sư ngoại bang hoặc quốc gia, bèn là bởi các tín đồ thế tục. Sự làm chứng tự nhiên của họ thường kèm theo một sự thay đổi dễ thấy trong tánh đạo đức của họ hoặc ít nhất trong cách sống của họ, mà họ quả quyết là do 'quyền năng của Tin Lành' thường kêu gọi sự chú ý của bè bạn cùng bà con họ đến sứ điệp của Đấng Christ. Nhiều tín đồ thế tục này truyền bá đức tin đang khi họ đi từ làng này qua làng khác phân phát truyền đạo đơn và các phần Kinh Thánh, đồng thời theo đuổi nghề nghiệp riêng của họ (một số Cơ-Đốc nhân này là người buôn hàng lụa, dệt chiếu, ngư phủ, thầy thuốc, giáo viên, thợ hồ, thợ mộc, v.v…) Đức tin Tin Lành truyền bá dọc theo thung lũng sông Cái, nơi Mục sư Thái đã dọn đường năm 1924, cũng là dọc đường cái quan giữa Đà-nẵng và Tam kỳ cùng các con đường hàng tỉnh liên lạc Tam kỳ với phủ Quế sơn, ở phía Bắc và phủ Trà my ở phía Tây. Khi một số người hỏi đạo tập trung quanh một gia đình Cơ-Đốc, người ta sai đi mời mục sư gần đó, xin ông đến và duy trì một chuỗi buổi nhóm tại nhà người tín đồ. Khi nhóm tín đồ lớn lên về nhân số, khởi sự dâng phần mười cùng lạc hiến, một nhà nguyện đơn sơ, có khi sườn tre và lợp tranh, được dựng lên (trong nhiều trường hợp một tư thất được thêm vào phía sau nhà nguyện).

Ông chủ nhiệm địa hạt, sau khi thanh sát, sẽ phái một sinh viên tốt nghiệp hoặc một truyền đạo tập sự đến chăn bầy chiên mới dưới sự giám thị phối hợp của Ban trị sự Địa hạt và giáo sĩ trong vùng. Những sáng kiến về công việc Hội thánh và những nguồn tài chánh trong trường hợp này phần chính đến từ tín đồ thế tục với sự tán trợ nhỏ của Hội Truyền giáo, trừ ra trường hợp có sự khuyên dạy và gây dựng thuộc linh. Khi Hội thánh hội đủ điều kiện để tự lập, Ban Trị sự Địa hạt và Hội Truyền giáo sẽ cùng một lúc khuyên dạy họ về sự ước ao gia nhập Hội đồng Tổng Liên Hội của Hội thánh quốc gia. Vừa khi để lựa chọn một mục sư bằng phiếu kín, rồi sự quản trị và sự truyền bá của Hội thánh được giao lại cho sự chăm sóc của mục sư.

Năm 1941, các Hội thánh mạnh mẽ mọc lên ở Phong thử, Đại an, Trường an, Thu bồn, Phú lãnh, Thanh quít, Khánh bình và Phúc bình, trong thung lũng của sông Cái và tại Quế sơn, Cẩm long, Tiên phước, Quế phương, Trà my, Tam thanh và Tiên quả ở xung quanh cái trục là Tam kỳ với các nhóm tín đồ hợp lại chừng chục làng quanh các Hội thánh chính. Sự tăng trưởng mau chóng này của phong trào Hội thánh bản xứ hoạt động náo nhiệt ngay từ lúc phát khởi chiến tranh Thái Bình Dương.

Tại Tam kỳ, Hội thánh Tin Lành ghi nhận những sự thắng lợi lớn nhất trong thập niên 1930. Công việc Hội thánh trong Địa hạt thường được tổ chức thành ba nhóm riêng biệt hơi tương đương với ba phần khu địa lý của Nam kỳ, ấy là miền Đông, miền Tây và miền Trung gian ở giữa.

Miền Đông, ít được ưu đãi nhất về kinh tế, sản xuất mùa màng nghèo kém nhất về sự truyền bá đức tin Tin Lành. Hội thánh mạnh mẽ nhất trong khu vực tọa lạc tại Biên hòa, nơi một số thuộc viên làm thợ kim hoàn, giàu có và những sở hữu chủ các vườn cây ăn trái. Hai Hội thánh nhỏ hơn được thiết lập tại Thủ đức và Bến cát, nơi các trại chủ tìm cách ủng hộ Hội thánh phần tài chánh, và tới một mức độ kém hơn, sự truyền bá đạo.

Không có sự tấn tới ở đồn điền cao su, nơi các công nhân hầu hết đến từ Bắc kỳ, được kiểm soát gắt gao bởi các ông chủ Pháp, dầu thỉnh thoảng cũng có vài người trở lại đạo được ghi sổ. Trong thị trấn Tây ninh, nơi 'Đức Hộ Pháp' của Cao Đài tọa lạc, một nhà thờ được hoàn tất năm 1936 bởi 5 nhóm tín hữu, cố nhiên có thể làm điểm chận nhỏ trên giáo dân Cao Đài. Mục sư Lê văn Trầm, cũng không thành công hơn trong công cuộc truyền bá Tin Lành giữa người Chrau, một bộ lạc sống ở vùng phụ cận Xuân Lộc, phía Đông Biên hòa. Công cuộc này được khởi sự năm 1936, gián đoạn hồi đầu thập niên 1940 và không thể tiếp tục lại cho đến khi chiến tranh giành độc lập kết thúc.

Phân khu Trung gian, như đã thấy một phong trào nhân dân quanh Mỹ tho năm 1924-1927 tiếp tục xây dựng những Hội thánh mạnh mẽ tại Tân an, Gò công, An hóa, Ba tri, Bình đại, Lộc thuận, Tân thạch, Quới sơn, Sóc sãi và Cần đước, hầu hết đều là Hội nhánh của Mỹ tho và là kết quả của sự cố gắng tự truyền bá Tin Lành. Những Hội thánh này đua tranh với nhau để hoàn tất địa vị độc lập, vừa khi họ đạt được điều đó, ông Bùi Tự Do, chủ nhiệm, đặt một mục tiêu mới cho họ. Ông nhấn mạnh: 'Chẳng có Hội thánh nào yên nghỉ thỏa mãn với sự phát triển hội chúng riêng của mình, xây cất nhà thờ riêng, chuẩn bị một nhà riêng cho mục sư … Hội thánh phải kết quả và thêm nhiều lên, Hội thánh phải có con cái thuộc linh, những hội nhánh sẽ đến lượt trở thành hội chính và mở thêm các hội nhánh'. Phân khu Trung gian cũng bày tỏ sự cố gắng đáng khen để đạt mục tiêu. Công việc không rắc rối và tốn thì giờ như ở Bắc kỳ và Trung kỳ về việc xin phép chính thức. Một luật lệ mới được đặt ra và áp dụng suốt cả Nam kỳ từ năm 1936 cho phép Hội thánh Tin Lành Việt-nam được thiết lập những hội mới mà không cần phải đợi đến khi có số tín đồ tối thiểu lúc trước đã đòi buộc.

Một tàu Tin Lành điều hành dưới quyền một truyền đạo cương quyết, Mục sư Huỳnh văn Ngà, đã đóng góp công lớn vào các chương trình tự truyền bá của hai phân khu này (được mệnh danh là miền châu thổ sông Cửu Long), giống như phân khu miền Đông, được bao phủ bằng mạng lưới đường sông. Đi từ làng này sang làng khác dọc theo các sông và kênh, mỗi năm đoàn Tin Lành nhóm các cuộc giảng Tin Lành qua các trung tâm dân cư đông đúc, và là lợi khi để thiết lập hàng chục Hội thánh mới trong khu vực. Năm 1933, một tín đồ từ Cần thơ dâng cho Hội đồng Tổng Liên Hội một xe hơi sau này dùng làm xe lưu hành do ông Bùi Tự Do hướng dẫn để làm việc trong các làng xã và chợ ở xa đường sông và ở ngoài cộng đồng phục vụ, bởi các nhà nguyện truyền giảng khác nhau. Tuy nhiên, những hoạt động của đoàn này rất hạn chế và không lâu bền.

Tại Tam kỳ, người ta có thể công nhận mọi kiểu mẫu giảng Tin Lành đã thấy ở Bắc kỳ và Trung kỳ. Trong đợt thứ nhất tại các tỉnh miền Đông nói chung, việc giảng Tin Lành còn được điều khiển bởi các giáo sĩ ở một hai trung tâm chiến lược và tiếp tục trong một số làng và thành thị bởi các truyền đạo bản xứ. Trong phân khu Trung gian, sự khuếch trương được hoàn thành tới một mức độ lớn rộng qua sự làm chứng hồn nhiên của tín đồ thế tục theo kiểu mẫu Hội thánh Quảng nam. Miền Tây, nơi chỉ có ít Hội thánh (tỉ dụ Cần thơ) có thể theo đường hướng của phân khu Trung gian, ưa thích kiểu mẫu bành trướng theo lối ‘giảng bố đạo’, phần chính được thực hiện bởi các truyền đạo cương quyết như Huỳnh văn Ngà, Phan Đình Liệu, Bùi Tự Do, v.v… có sự giúp sức bởi các truyền giảng theo tàu Tin Lành và xe lưu hành.

Sau 10 năm làm việc khó nhọc, Hội thánh Tin Lành duy nhất tại Sàigòn, thành phố lớn nhất của Đông Dương vẫn còn là Hội thánh nhỏ nhất tại Nam kỳ trong thập niên 1920. Một giáo sĩ đổ lỗi cho 'những thói hư của Tây phương' và thêm vào đó 'những tật xấu của Đông Dương' và sản xuất một tình trạng còn tệ hại hơn 'ngẫu tượng giáo' sống sượng. Ông cũng than phiền tình trạng thuộc linh của người tin Chúa ở Sàigòn, 'để chiến đấu cho lẽ thật' như các tín đồ sốt sắng, nhưng đồng thời cũng xu hướng 'cãi lộn với nhau và với người tin Chúa khác đã đến Hội thánh từ lâu'. Sự công bố sứ điệp của Đấng Christ đã thuyết phục nhiều người để chỉ rằng họ ước ao theo Ngài, nhưng hầu hết những người hỏi đạo này 'đến và đi' như các bạn đối nhiệm của họ đã làm ở Bắc hạt.

Một giáo sĩ đã ngây thơ thừa nhận rằng: "Đối với tôi dường như sự thất bại của chúng tôi tại các thành phố lớn là chúng ta thử đến gần các dân thị tứ bằng những phương pháp nông thôn". Tuy nhiên, năm 1920, một vị trí thị tứ tậu được ở gần công viên chợ thành phố, và là ga chót của đường xe lửa và đường xe đò đi lục tỉnh. Nhà thờ mới là một giảng đường lớn tọa lạc ở tầng lầu của một khách sạn hồi trước, nơi các cuộc nhóm buổi tối được duy trì suốt 4 năm. Tầng trệt được dùng làm phòng sách nơi những người đến hỏi đạo có thể đến ban ngày. Ông Dương Nhữ Tiếp, một truyền đạo danh tiếng ở Bắc kỳ, là diễn giả chính trên một năm, và sau đó cũng có các truyền đạo đủ khả năng kế tiếp công việc… Các ban cá nhân chứng đạo được tổ chức bởi các thương gia trẻ tuổi và các công nhân tại văn phòng để thăm viếng từng nhà, phát truyền đạo đơn và cá nhân truyền đạo trong mỗi chiều Chúa nhật. Các buổi nhóm cầu nguyện được tổ chức 3 đêm mỗi tuần tại nhà các tín đồ, ở các nơi chiến lược và những nơi này trở nên trung tâm truyền giảng cho các phân khu thành phố. Tuy nhiên, nhiều người mới tin chẳng bao giờ gia nhập Hội thánh Sàigòn, vì họ đã lên đô thị để buôn hàng chuyến và trở về nguyên quán để truyền bá đức tin mới của họ. Như một kết quả, vài Hội thánh được thiết lập ở các khu vực xa xôi, nơi tọa lạc cách Sàigòn 150 dặm về phía Nam. Tuy nhiên, mãi đến cuối thập niên 1930, người tín đồ Sàigòn không có chỗ thờ phượng thường xuyên và trong mấy năm đã nhóm trong nhà thờ Tin Lành Huê kiều tại Chợ lớn. Năm 1941, Hội thánh Sàigòn với Mục sư Lê Đình Tươi đã trở nên Hội thánh dẫn đầu trong xứ, và một đền thờ lớn nhất tại Việt-nam được hoàn tất.

Tuy nhiên, sự tự truyền bá không bị hạn chế cho chỉ người Việt-nam thôi. Năm 1930, Hội đồng Tổng Liên Hội quyết định phát khởi một công tác mới. Theo gương vị Hội trưởng đầu tiên đã khởi sự giới thiệu đức tin với một bộ lạc ở Khe sanh gần Đà-nẵng, Hội đồng định ủng hộ 2 truyền giáo Việt-nam trong cố gắng giảng Tin Lành giữa vòng người Thượng. Ông bà Trịnh An Mẹo đã đến hoạt động giữa bộ lạc Hrê tại Đàlạt và Di-linh, trong khi vợ chồng ông Ngô văn Lái khởi sự một trung tâm truyền giáo tại Khe sanh ở tỉnh Quảng trị giữa vòng người Khalơ thuộc bộ lạc Bru. Ông bà Mẹo được Nam hạt ủng hộ, còn ông bà Lái có Trung hạt ủng hộ. Mấy truyền giáo Việt-nam đã nhập đoàn với các giáo sĩ Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp hoặc làm việc riêng rẽ tại Sơn-la, Hòa bình, Chapa ở Bắc kỳ, Đàlạt, Banmêthuột, Pleiku, Chợ Tuần (Thừa thiên) An điềm (Quảng nam), Phan lý Chàm (Bình thuận) Trung kỳ. Năm 1942, cặp truyền giáo Việt-nam tiếp tục một chương trình khuếch trương cấp tốc giữa vòng 14 bộ lạc ấy là: Chrau, Sitêng, Kơho (Hrê và Lạch), Chàm, Rađê, Gialai, Pacô, Katu, Thái, Mường, Mán, Thổ, Nùng và Mèo ở rải rác trong 13 tỉnh.

[1] Đào Duy Anh ước định rằng năm 1682, 600.000 người Công Giáo Lamã được thấy ở đàng trong (miền Nam Việt-nam dưới quyền cai trị của chúa Nguyễn) và 200.000 ở đàng ngoài (miền Bắc Việt-nam dưới quyền cai trị của chúa Trịnh). Dầu những con số này dường như hơi phóng đại, nhưng cũng chỉ tỏ sức mạnh tương đối của Công Giáo Lamã ở miền Bắc trong các năm đầu của sự truyền bá đạo trong xứ.
[2] P. Gourou, LEs Pays Tropicaux (Paris, Presses Universitaires de France, 1947, Vũ Quốc Thúc trưng dẫn, t.33)

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by