You are hereVƯỢT SÓNG

VƯỢT SÓNG


By admin - Posted on 21 October 2008

 

GIỚI THIỆU

 

Năm 2002, tôi nhận được bản thảo VƯỢT SÓNG của tác giả Vũ văn Sinh, một con cái Chúa cũng là một người bạn thân.   

Đây là một quyển tự truyện ghi lại những chuyện bên lề trong biến cố lịch sử của Đất Nước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tôi có đọc một số ghi chép bên lề cũng như trên đường biến cố, nhưng VƯỢT SÓNG là truyện đầu tiên của một người tin Chúa đề cập đến vấn đề có tính chất nhạy cảm nầy. 

Dù là tự truyện nhưng cũng có hậu, người chưa tin Chúa có thể tìm thấy tình yêu thương của Chúa cho chính mình. Đặc biệt rất cần cho người nghiên cứu lịch sử Hội Thánh Việt nam. 

Giọng văn như đứt khoản do cách dùng câu ngắn, làm cho người đọc cảm nhận sự hối hả của ngày lịch sử sang trang. 

Tôi giới thiệu vì tôi cảm nhận VƯỢT SÓNG hấp dẫn và ích lợi.

 

Mục sư TRẦN THÁI SƠN
North Carolina (Oct. 2008)
 

 


 

Tựa

 

Như kẻ chiến bại hoảng loạn,

 

Tia nắng mùa hạ 1975 đã đốt cháy tất cả.
Tiền bạc, của cải, danh vọng và cả niềm tin.
Như người lữ hành bôn ba trong đồng vắng hoang vu, 
Như thuyền nhân lênh đênh giữa biển cả mênh mông, giữa phong ba bão táp,
Như tên tội đồ bị ném vào lò lửa hực, vào hầm sư tử đói 
vượt sóng - sóng gió cuộc đời, sóng gió tâm linh ...
Tôi đã chạy trốn và bị bắt lại.    

 

 

 

CHẠY TRỐN 

 

"Nhưng Giô-na chổi dậy đặng chạy trốn qua Ta-rê-si, để lánh khỏi mặt Đức Giê-hô-va..." (Giô-na 1:3) 

 

Chiều ngày 28-4-1975 

Trời mưa lắc rắc và bầu trời u ám lạ thường. 

Tại số 6, Mạc Đỉnh Chi, Quận I Sàigòn, trụ sở của Hội Hoàn Cầu Khải Tượng, tôi và rất đông nhân viên của Hội đứng ngồi không yên. 

Bối rối, sợ hãi vì chưa có cách nào, hi vọng gì để rời khỏi Việt-nam trước khi quân đội Cộng sản miền Bắc chiếm lấy Sàigòn. Chỉ trong vòng hai tháng, sau Ban-mê-thuột là Quảng Trị, Huế, Đà-nẵng, rồi Phan-rang, Phan-thiết, lần lượt rơi vào tay họ mà không có sự kháng cự mãnh liệt nào. Người ta cứ bỏ chạy, rủ nhau mà chạy. Tranh nhau lên máy bay, ghe tàu, xe cộ, đủ loại. Chen lấn, xô đẩy, dẫm đạp lên nhau để chạy về phía Nam. Tướng lãnh chạy trước, sĩ quan theo sau, và rồi binh lính, dân thường cũng chạy. Tất cả cùng chạy, bỏ lại của cải, nhà cửa, ruộng vườn. Chánh quyền Miền Nam gọi đó là di tản chiến thuật. Đài phát thanh Bắc Việt gọi là rút lui, tháo chạy. Tôi lại có cái nhìn ví von và bi quan hơn. Sau ba mươi năm nội chiến kinh hãi, người dân hai Miền Nam Bắc đang tham dự cuộc đua marathon lịch sử. Chạy và rượt đuổi, đích đến là Sàigòn. Sàigòn sẽ bị chiếm lấy trong nay mai. Ai cũng có thể hình dung và sợ hãi điều kinh khủng nầy. Những người làm việc cho Mỹ chắc chắn đang bối rối hơn hết. 

Ông Giám đốc Don Scott hứa với nhân viên là ông đi Bangkok để đưa sang một chiếc tàu có thể chở toàn bộ gia đình của hơn một trăm nhân viên ra khỏi Việt-nam. Ông cử tôi làm quyền Giám đốc và có trách nhiệm lo cho anh em ra đi. 

Vậy đó, tôi cùng gia đình tôi và hầu như toàn bộ nhân viên cùng gia đình họ đang từng giờ từng phút chờ đợi ra đi. 

Không ra đi sao được! Người ta đồn đãi về việc tắm máu. Chỉ nghe không cũng đã chết khiếp rồi. Thế là phải đi thôi! Nhưng đi á? Không! Phải chạy thôi. Chạy! 

Đúng lúc đó, khi mọi người đang ủ rũ, u sầu đi tới đi lui, đứng ngồi không yên, thì kìa Maurice Bauham đến. Cái anh chàng người Mỹ hói đầu, nhỏ thó, đạp xe đạp thẳng vào tận cửa văn phòng.  

Mừng quá, bạn thân mà, lại là người Mỹ nữa, tôi chạy ra lôi tuột anh vào trong. Mọi người xúm lại. Cứu tinh đây rồi. Bạn bè cả vì anh chàng nầy cũng làm việc cho Hội trước đây. Có nhiều lý do để tin cậy và hi vọng. Muarice cũng đã từng là lính Mỹ tại Việt-nam và đang là nhân viên y tế cho Bệnh Viện Cơ-Đốc Phục-lâm ở Sàigòn, vốn là Bệnh Viện 3 Dã chiến của quân đội Mỹ. 

Maurice, anh không đi sao? Tôi hỏi, cả Bệnh Viện đi hết rồi mà? Tôi cần phải đi ngay.

- Sinh, anh cũng đi nữa sao? Maurice nhìn thẳng vào mắt tôi hỏi lại. Tôi thấy trong đôi mắt xanh của anh như có lửa. Không chờ đợi câu trả lời, anh nói tiếp: 

- Nhiều Mục sư, Truyền đạo đã bỏ đi rồi. Họ bỏ nhà Chúa, họ bỏ chiên. Tin Lành, Cơ-Đốc Phục-lâm, Công giáo và cả Phật giáo nữa. Họ đi nhiều lắm rồi.

Maurice nhìn xuống nền nhà và thở dài. Vậy đó, tính anh vốn là vậy, không muốn tranh cãi với ai cả. 

Tôi thấy nhẹ người. Thế là ổn cả. Tôi đứng dậy, lay nhẹ vai Maurice và khẩn khoản:

- Maurice, hãy hiểu dùm chúng tôi. Họ sẽ giết chúng tôi. Anh không hiểu Cộng sản đâu. Chúng tôi phải đi thôi.

Maurice đứng lên, nắm tay tôi và hỏi nhỏ:

- Tôi có thể làm được gì? Tôi e rằng không. 

Trao ngay cho Maurice xấp giấy dầy cộm, tôi thúc ép:

- Đây là danh sách những nhân viên và thân nhân của họ. Xin đưa vào Tòa Đại Sứ Mỹ để được chấp thuận cho ra đi. 

Maurice cầm lấy tập danh sách với hơn nămt răm người đang lâm nguy,c ần có chỗ dung thân. Anh chậm rãi lật từng trang, chí ít cũng gần hai mưoi trang với đầy đủ tên tuổi từng người nam nữ. Anh lẩm bẩm nói một mình nhưng tôi nghe rất rõ:   

- Nhiều, nhiều lắm... nhưng những người ở lại đông hơn. Ai? Còn ai giảng Tin Lành cho họ. Tôi muốn nói những người Cộng sản đó mà.  

Tự dưng tôi nghe đau nhói và thấy hụt hẩng. Tôi muốn nói nhưng không sao mở miệng được. Dẫu vậy, tôi vẫn tự trấn an tôi. Có sao đâu! Việc nầy chẳng có liên hệ gì với tôi. Rao giảng Tin Lành cứu rỗi à? Đâu phải việc của tôi? Đó là việc của quý Mục sư, Truyền Đạo, Giáo sĩ. Họ đã tự nguyện, được bổ nhiệm, được trả lương và … Vậy mà họ cũng bỏ đi cả rồi. 

Nói chi xa, ngay trong Hội Hoàn Cầu Khải Tượng, thì có Mục sư Lê Đình Phước và Bà Mục sư Nguyễn Nam Hải. Xa hơn một chút thì gia đình Ông bà Mục sư Phạm văn Năm, Mục sư nguyễn văn Phấn và nhiều vị khác nữa cũng đã bôn tẩu rồi. Trước đó thì toàn bộ Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp, Ngũ Tuần, Trưởng Lão, Menonite, v.v.. cũng bỏ đi. Họ không rao giảng Tin Lành nữa. Tại sao phải là tôi? 

Chỉ cần băng ngang qua đường Mạc Đỉnh Chi là Maurice và tôi đã vào được Tòa Đại Sứ Mỹ. Rất đông người đang sắp hàng chờ đợi. Không sao, cứ chờ, rồi sẽ đến lượt mình thôi. 

- Đây, xong rồi. Người kế. 

Một quan chức Mỹ ký tên, đóng dấu vào tập sanh sách và trả lại. Tôi mừng quá hỏi nhanh:

- Ưu tiên à? Sau cùng. Các anh chỉ là cơ quan phi chính phủ, là chí nguyện thôi. Chúc may mắn.

- Thưa ông, chúng tôi ưu tiên mấy vậy?

Không sao, có dấu rồi. Cứ chờ. 

Chúng tôi về lại trụ sở Hội. Mọi người ào đến giành giựt tập danh sách. Người vui, kẻ buồn. Người bỏ đi, người ở lại bám lấy tôi và chờ đợi. Maurice buồn bã ra về. Tôi ở lại với buồn vui lẫn lộn. Có đi được không? Bao giờ? Bằng cách nào? Phải đi thôi. Đừng lo! Danh sách đã ký rồi. Hơn nữa, đây rồi, giấy phép đi trong giờ thiết quân luật do Tổng Trấn Sàigòn – Gia-định cấp. Lấy cớ mỗi ngày cung cấp hàng chục xe tải lương thực và nhu yếu phẩm cho đồng bào Miền Trung tị nạn chiến tranh dọc theo trục lộ Sàigòn – Biên-hòa, ông Don Scott đã xin cho ông và tôi tấm giấy đặc biệt nầy. Với nó tôi có thể đi lại trong mọi giờ giấc mà không bị ai ngăn trở. Thế là an tâm rồi. Tôi chờ đợi và hi vọng. 

Xế chiều. Mưa lất phất. Đài phát thanh Sàigòn đưa tin Tổng thống Trần văn Hương từ chức và Đại Tướng Dương văn Minh lên thay thế. 

Chợt, ầm ầm! Đùng đùng! Có vài chiếc máy bay quân sự bay vòng vòng. Súng từ dưới bắn lên. Có tiếng nổ lớn. Thôi chết rồi! Máy bay Bắc Việt! Có người hốt hoảng la lên. Không phải, tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh. Người khác cãi lại. Rồi im lặng. Thật nặng nề và sợ hãi. Việc gì đã xảy ra? 

Trong phòng không còn bao nhiêu người nhưng nghe như ngộp thở. Người thì ngồi bó gối ủ rũ; người thì đi tới đi lui đếm từng viên gạch dưới nền nhà. 

Tôi nhìn lên trần nhà. Tìm cứu giúp chăng? Chiếc quạt trần cứ quay tít vùn vụt. 

Tiếng quân nhạc từ chiếc radio vụt tắt. Mọi người nín thở nhìn về đó. Đài phát thanh thông báo lệnh thiết quân luật toàn Thủ đô, không ai được ra khỏi nhà. Vậy là có biến cố lớn. Một số người vội thót lên xe gắn máy chạy vút đi. Một số ở lại, lo lắng, sợ hãi. 

Tôi không đi đâu cả. Vợ và bốn con ở bên cạnh. Chúng tôi chờ đợi và chờ đợi. 

Khoảng tám giờ tối, có hai người Mỹ dân sự lạ mặt gọi mở cổng. Họ bảo có lệnh đưa nhân viên của Hội di tản gấp. Mừng quá! Vậy là thoát rồi. 

Miên chụp ảnh, Ngọc thủ kho, Ngọc tài xế, chèn nhét vợ con và người nhà của họ lên chiếc Van và chiếc du lịch. Họ lái theo sau xe tôi. Trên xe là hai người Mỹ và Viễn photocopy. Một đoàn ba chiếc xe vút nhanh giữa đêm tối trên những con đường im vắng. Thỉnh thoảng có một vài xe quân sự tuần tra lướt qua. Không biết họ có thấy tờ giấy phép dán ở kính chắn gió không? Chẳng mấy chốc chúng tôi đã đến cổng trại không quân Tân Sơn Nhất. 

Ôi, người là người. Đàn ông, đàn bà, trẻ con, ông già bà lão. Cả một biển người. Phía ngoài và phía trong doanh trại. Lớp đứng lớp ngồi, lớp nằm, lớp chạy tới chạy lui. Hỗn loạn, ồn ào, kêu xin, la lối, chửi rủa, văng tục. Tuyệt nhiên không có tiếng cười. Chúng tôi trình giấy cho quân cảnh Việt-nam và MP Mỹ. Vào đi! Nhanh lên! 

Tôi giúp điền tên vào danh sách từng gia đình. Dễ chừng có đến bốn mươi người. Mỗi người Mỹ có quyền bảo lãnh cho hai mươi người Việt-nam. Vậy là vừa đủ. 

- Vợ con anh đâu? Không đi sao? Một trong hai người Mỹ hỏi khi thấy tôi bắt tay tạm biệt những người được phép ra đi

- Đi chứ! Sáng mai. Còn nhiều nhân viên lắm. Phải chờ họ đến ngày mai. Tôi đi trước thì ai lo cho họ đi?

Tự dưng tôi nổi máu anh hùng. Tôi thấy mình cao thượng quá. 

Ầm, ầm! Lại pháo kích hay bom rồi. Lửa bùng lên vài chỗ, cả trên đường băng nữa. Còi báo động hú lên. Xe cứu thương, cứu hỏa gầm rú phóng nhanh. Tiếng khóc thét lên hòa lẫn với tiếng kêu la inh ỏi. Nguy hiểm quá, coi chừng toi mạng. Về thôi! 

Ra khỏi cổng, tôi gặp một đoàn xe bus trống rỗng của quân đội Mỹ đang đậu tại ngã ba Lăng Cha Cả. Tôi chọn chiếc xe gần nhất và cho tài xế một cọc tiền dầy cộm. Tôi bảo anh lái xe theo tôi về trụ sở của Hội. Tôi cần chiếc xe nầy để sáng mai đưa số nhân viên còn lại vào phi trường. 

Tôi đưa hai người Mỹ đến khách sạn Cavarelle. Chúng tôi lên Nhà Hàng ở tầng chót. Lửa rực cả một góc trời phía phi trường. Đã quá nửa đêm. Mệt mỏi. Buồn ngủ. Tôi chia tay và hẹn sáng mai sẽ đến đón họ sớm. 

Về đến trụ sở chỉ có anh trai tôi chờ mở cổng. Vợ tôi đang dỗ các con nhỏ của chúng tôi ngủ. Cô ấy hát khe khẻ bài thánh ca quen thuộc nhưng tôi quên mất tựa rồi. Bỗng dưng tôi thấy thanh thản lạ lùng. Nhìn kìa những thiên thần bé bỏng đang say sưa giấc nồng. Thật là tuyệt diệu. Những con chim sẻ giữa hóc núi vững an, và ngoài kia là đêm đen, bão tố, là pháo nổ, đạn bay. Mệt quá, tôi ngã người xuống chiếc ghế dài và thiếp đi... Ôi tuyệt quá! Vậy là thoát rồi. Hai người Mỹ lại đến. Họ đưa cả gia đình tôi vào phi trường. Lần nầy dễ quá. Không xét hỏi, không trình giấy tờ gì cả. Vào cổng tự do. 

Lên đi! Nhanh lên! Ngồi xuống hàng ghế nầy! Cài dây nịt bụng lại! Được rồi! 

Chiếc Galaxi khỗng lồ từ từ lăn ra đường bay. Chờ một chút. Rú ga! Rồi lướt nhanh trên đường băng và nhẹ nhàng cất lên. Trời cao lồng lộng, xanh biếc một màu. Màu của hi vọng, của tương lai sáng lạn. 

Ôi, kỳ diệu làm sao! Hoa kỳ, Bắc Mỹ, Hiệp Chủng Quốc kia rồi. Thiên đàng! Ôi, Thiên đàng...

 

 

 

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by