You are hereVƯỢT SÓNG 2

VƯỢT SÓNG 2


By admin - Posted on 22 October 2008

 

 

 

Bị bắt lại

Đoạn, họ bắt Giô-na quăng xuống biển ...”

Giô-na 1:15


 

Ơ … ơ … Chết, chết! Rơi, rơi, rồi!

Tôi choàng tỉnh giấc. Vợ tôi đỡ tôi lên. Tôi ngã xuống đất từ chiếc ghế dài. Không phải từ chiếc Galaxy thần tiên … Vậy là hỏng hết rồi. Chỉ là giấc mơ. Một giấc mơ tuyệt vời...

Vợ tôi mang đến cho tôi một ly sữa nóng và một cái bánh ngọt. Tôi đã trở lại với thực tế. Với tiếng pháo, bom ầm ì trong đêm vắng. Với những tin tức chiến sự nóng bỏng. Việt cộng đã chiếm sân bay Biên hòa. Đang tiến quân vào Sàigòn. Người Mỹ được lịnh rời Việt-nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Thua rồi! Cộng sản đã thắng. Họ sẽ đến và... khiếp quá! Chạy thôi!

Vâng, tôi đã chạy, đã bỏ trốn, đã bay lên, cao lắm, xa lắm, nhưng tôi đã ngã xuống. Và bây giờ tôi tỉnh dậy. Tôi phải làm gì đây? Không thể đầu hàng! Không bao giờ! Tôi ực hết tách trà nóng. Tỉnh rồi. Tôi biết phải làm gì. Khẩn trương lên! Mới sáu giờ sáng. Mặc. Tôi quay số khách sạn Caravelle. Xin lỗi, khách đã trả phòng. Chết rồi! Tìm họ ở đâu?

Tôi chạy vụt qua Tòa Đại Sứ Mỹ. Tôi trình thẻ nhân viên. Anh lính Mỹ gác cổng lắc đầu. Tôi cố giải thích, năn nỉ. Không được! Chỉ dành cho người Mỹ thôi. Chó chết! Đừng giận hoảng. Đừng bỏ cuộc. Tôi tự nhủ: Hãy kiên nhẫn, kiên nhẫn. Ô kìa, họ kia rồi. Hai người Mỹ tối qua. Họ đang làm cái gì đó, hoặc không làm cái gì hết phía bên trong. Tôi gọi, tôi vẫy tay, tôi gào to lên. Một trong hai người đi ra cổng. Mừng quá. Tôi siết chặt tay anh ta. Giúp tôi, xin giúp chúng tôi. Đước rồi, chúng ta sẽ đi bằng trực thăng. Tại đây? Nhanh lên. Vợ con anh đâu? Bảo họ sang đây. Cả nhân viên của anh nữa. Nhanh lên.

Thoát rồi. Tôi chạy nhanh về văn phòng. Náo động. Đông quá. Loạn rồi. Toàn là người lạ. Ăn mặc lịch sự, thắt cà-vạt, mặc com-lê. Ai vậy? Nhìn kỹ. À, quý cụ Ông Bà Mục sư lãnh đạo. Có cả ông Thomas Stebbins, Hội trưởng Hội Truyền giáo CMA ngồi tại bàn tiếp tân ký, ký tên lên các trang giấy đánh máy. Cả chục máy đánh chữ được trưng dụng không cần xin phép. Vớ vẫn, lỗi phải gì! Gấp lắm. Thông cảm nhé! Quen quá mà. Phải, xa lạ gì. Quý Thầy Cô Truyền đạo, quý tử, quý nương của quý cụ chức sắc, niên trưởng. Họ ngồi trước các máy đánh chữ của Hội. Họ múa tay, miệng lẩm nhẩm, mắt liếc dọc, liếc ngang. Gõ, đập, két, reng. Rồi, thưa ông, ký giùm. Tôi trước, sao kỳ vậy? Tôi trước. Còn lâu. Từ từ, xin đừng cãi nhau. Tôi sẽ ký, ký hết.

Lạ thật! Ông nầy quyền hạn lớn quá. Một người Mỹ có thể bảo lãnh tối đa hai mươi người Việt-nam thôi. Vậy mà ông có thể ký, ký tất.

Vị giáo sĩ nầy đã bay qua Việt-nam vào những ngày nguy khiếp nhất của Sàigòn để ký vào các tờ bảo lãnh sao? Ông đã không quản ngại cho sự an toàn của mạng sống mình. Ông liều mình vượt mọi chướng ngại để vào bên trong thành phố Lamã đang bốc lửa. Một anh hùng? Một cứu tinh? Để làm gì? Không hiều nổi. Điên mất. Không tin ở mắt mình nữa. Hay là mơ? Đập trán mấy cái. Tôi biết mình đang tỉnh và biết phải làm gì. Tôi nói với một trong các vị lãnh đạo của Hội Thánh Tin Lành Việt-nam:

  • Thưa Cụ, bây giờ con đi. Con giao toàn bộ trụ sở nầy lại cho Cụ. Ông Don Scott đã chỉ thị như vậy.

Tôi kéo ngăn hộc bàn viết và lấy ra một xâu chìa khóa nặng kịt. Ấn cả chùm chìa khóa vào tay ông và siết mạnh. Ông nhìn tôi không nói gì hết. Mà hình như không phải vậy. Ông không nhìn ai cả. Ông không thấy gì hết. Ông nhíu mày. Ông đang suy nghĩ điều gì đó lung lắm. Có lẽ ông đang tranh chiến. Đi? Ở? Ra đi? Ở lại? Ông là Phierơ. Không! Ông không phải Phierơ. Ông không thể rời bỏ Sàigòn. Ông có nhiều chiên lắm. Ở khắp Miền Nam. Cả Miền Bắc nữa. Nhiều lắm! Kẽng! Chùm chìa khóa rơi xuống nền gạch. Mọi người giật mình, im lặng. Tất cả hướng về phía nhà lãnh đạo, niềm tin và hi vọng của họ trong giờ phút lâm nguy đó.

Cánh tay phải của ông run lên. Rồi cánh tay trái nữa. Rồi cả thân hình của ông run lên. Ông đứng bật dậy. Môi ông lập bập. Tôi vẫn nắm chặt bàn tay phải của ông. Ông định nói điều gì đó. Bàn tay trái của ông từ từ đưa lên, sửa lại cặp kính trắng đang trễ xuống sống mũi.

  • Thôi, về. Ông khẽ nói nhưng rất rõ. Nhấn mạnh chữ “về”.

Không, không được. Không được về. Phải đi thôi.

Mọi người nhốn nháo, hốt hoảng. Họ chạy đến nắm tay, vịn vai, bóp, lắc. Tỉnh không? Sao vậy? Họ ôm cả người ông nữa. Tôi nghe cả tiếng sụt sùi, nấc nghẹn. Hỏng hết, chết rồi! Ông vẫn đứng yên, không hề lay chuyển. Tôi nhìn xuống. Đôi chân ông đã chôn chặt dưới đó rồi. Ông được sinh ra ở đất nước nầy, được kêu gọi và chọn lựa để đem sự cứu rỗi đến cho đồng bào của mình. Làm sao bỏ đi được.

Tôi siết tay ông một lần nữa. Như lời giã biệt, với lòng kính trọng và khâm phục.

Tôi, vợ tôi cùng bốn con nhỏ, với vài nhân viên của Hội vào Tòa Đại Sứ Mỹ lúc 7 giờ sáng ngày 29-4. Không thấy một người Việt-nam nào khác. Vài chiếc trực thăng loại lớn đáp xuống nóc Tòa nhà cao tầng. Nhiều lính Mỹ đeo mặt nạ chống hơi độc ôm súng từ phía trong toà nhà chạy ra các cổng và các lô-cốt. Cổng chỉ mở một cánh. Một số người trình giấy và lách vào với lĩnh kĩnh xách tay, vali lớn nhỏ. Mỹ có. Việt có. Rồi nhiều người xô lấn tràn vào mà không trình giấy tờ gì cả. Loạn. Vô số kể. Dân thường và quân đội, cảnh sát. Chật cả sân cỏ, các lối đi. Họ cứ tràn vào như nước vỡ bờ. Những người lính Mỹ không cản nổi. Họ xúm lại đóng kín các cánh cửa nặng kịt. Không thấy gì bên ngoài. Bên trong náo loạn, gào thét, kêu la í ới. Còn người nhà kẹt lại. Vợ chồng, con cái, anh em. Mấy người lính Mỹ cưa mấy thân cây cổ thụ trong khuôn viên và dùng cả thân, cành, chận các cánh cửa sắt. Không ai ra vào được nữa. Họ nói máy bay trực thăng sẽ đáp xuống các sân cỏ. Chúng tôi sẽ được đưa ra các hạm đội ở ngoài khơi. Vậy là thoát rồi. Sướng nhé!

Và kìa! Một, hai, ba. Những chiếc trực thăng khổng lồ gầm rú trên đầu. Chiếc nầy tiếp theo chiếc kia đáp xuống rồi cất lên. Cứ thế. Liên tục. Khẩn trương. Nhưng không phải trên sân cỏ, mà trên nóc nhà cao tầng. Người ta dồn lại cửa vào bên trong tòa nhà. Chen lấn. Xô đẩy. Van nài. Xin lỗi, chỉ công dân Hoa kỳ thôi. Chí ít là vợ con hợp pháp của họ. May quá, David kia rồi – anh bạn thân người Anh làm nhân viên cứu hỏa Đại Sứ quán Mỹ.

  • Giúp tôi chứ!?

  • Rất tiếc, tôi không làm gì được.

Trong nỗi tuyệt vọng tôi gặp lại ông Thomas Stebbins. Gương mặt hồng hào thường vui cười của ông không còn nữa, giờ nó sạm lại, trán nhăn nheo, có vẻ bồn chồn, bối rối lắm.

  • Sao rồi? Họ đâu rồi? Không vào được sao?

  • Không. Họ không vào được. Họ kẹt lại bên ngoài. Họ ở lại. Không. Họ bị bắt lại.

Thế vẫn hay. Ở bên trong nầy cũng chẳng khá hơn chút nào. Đến 10 giờ thì tình trạng lộn xộn trở nên cực điểm. . Từ phía hông Tòa Đại Sứ Mỹ, các cảnh sát đục tường và chui qua. Họ có vũ khí trên tay. Mặt đằm đằm sát khí. Họ gào thét. Chen lấn với những người Mỹ đang xếp hàng chờ vào bên trong tòa nhà. Những người lính Mỹ ra tay. Họ chỉa những khẩu súng dài có gắn lưỡi lê vào người các binh sĩ Việt-nam. Thế là trật tự được lập lại. Phe ta xìu xuống, lấm la lấm lét. Áo trắng, quần trắng, quân phục rằn ri...

Tình trạng căng thẳng không lâu. Một chiếc trực thăng đáp là là trên mặt đất. Người ngưòi ùa đến. Chen lấn. Xô đẩy. Chửi rủa ầm ĩ. Người thì đu thang dây leo lên. Người thì phóng lên, níu kéo. Người tuột tay lăn lóc, bò càn. Người thì hụt hẩng, chới với, lại chửi thề, văng tục. Lại ngóng lên trời chờ đợi.

Lâu sau, chừng mười hoặc mười lăm phút mới có một chiếc trực thăng khác đáp là là trên sân cỏ. Rồi cũng như lần trước: xô đẩy, chen lấn, chửi thề, la ó. Rồi lại vút lên. Xa dần.

Giữa đám đông ồn ào, hỗn độn đó, tôi bối rối vô cùng. Vợ tôi đang có thai gần ngày sanh. Bốn con nhỏ, đứa lớn nhất chưa tới mười tuổi. Đứa nhỏ nhất còn ẵm trên tay. Làm sao có thể leo lên được những chiếc trực thăng âm ì đó. Chắc chết mất. Người ta sẽ xô ngã, sẽ dẫm đạp lên. Chúng tôi đi tìm sự sống, người khác cũng thế. Không ai nhường ai cả. Đâu có ai muốn chết.

Nhưng kìa, ầm ầm và vút lên. Rồi lại chửi bới, kêu la. Bỗng đứa con gái nhỏ nhất của tôi đang bồng trên tay khóc thét lên. Chắc đói khát gì đây. Chưa hết, mấy anh chị của nó lại mếu máo, bấu víu lấy tôi. “Con khát nước! Con đói quá!” Chúng đem tôi về thực tế. Chúng tôi chỉ là những con chuột giữa dòng nước lũ, sẽ bị nhận chìm. Chết mất. Về thôi! Về nghe em. Về đi các con.” Tôi gọi David đến và nhờ anh giúp ra cửa. Anh bảo: “Vây là tốt!” Phía bên ngoài cũng còn một số người Mỹ đến trễ nên không vào được. Sẽ có một chiếc xe Hoa kỳ màu đen dẫn đường vào phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi có thể lái xe theo phía sau, xuất phát từ cổng chính của Tòa Đại Sứ Mỹ. Vậy là còn hi vọng. Đi thôi. Nhanh lên. Nhưng làm sao ra được? Những cánh cửa sắt đã đóng kín. Không thể mở ra, làm gì đây? Tôi nói với một người lính Thủy quân lục chiến Mỹ. Anh bảo phải trèo qua cánh cổng sắt. Được, để chúng tôi giúp. Ba bốn người lính Mỹ xúm lại. Họ đỡ vợ tôi lên trước, cẩn thận, bà ta có baby. Rồi, đứa lớn nhất, đứa kế, đứa kế, đứa kế nữa. Đứa út. Bọn trẻ khóc rần lên. Sau cùng, tôi đứng lên vai một người lính Mỹ. Cảm ơn, cảm ơn nhiều lắm. Chúc may mắn, tạm biệt. Bám chặt bức tường tôi đu người trèo lên đỉnh tường, tuột xuống phía ngoài. Tay không! Vợ con tôi nhào đến. Ôm chân, nắm tay, khóc nức nở. Người ôi là người. Cả một rừng người chực hờ trước cổng, dọc theo bờ tường, kín cả con đường Mạc Đỉnh Chi. Họ muốn vào. Tôi lại bỏ ra. Nhiều người trố mắt nhìn chúng tôi. Sao vậy? Ngu quá!

Ừ, ngu thật. Tôi đã vào được bên trong. Tôi đã vượt qua lằn ranh sự sống và sự chết; của Thiên đàng và trần gian. Vậy mà tôi bỏ cuộc. Tại sao? Chắc hẳn tôi sẽ phải hối hận cho hành động dại dột nầy.

  • Đồ đạc đâu hết rồi? Vợ tôi kéo tôi về thực tế. Mấy cái vali quần áo. Cái giỏ nhựa đựng nước, đựng sữa.

  • Bỏ lại bên trong. Mất rồi.

Chúng tôi dìu nhau trong nước mắt, lèn lách, xô đẩy mới vào được trụ sở Hội. May quá, anh tôi đang ngồi nơi tay lái chiếc du lịch Toyota 2000, phía sau là chiếc Mazda 1500. Cả hai đều có dán giấy đi trong giờ thiết quân luật trên kính chắn gió. Tôi ngồi vào tay lái. Vợ con tôi đầy đủ. Hạnh, thơ ký, bạn thân của vợ chồng tôi, cũng chui vào xe. Còn ai nữa? Lên đi. Chật cứng. Chiếc xe anh tôi lái cũng đầy ních. Tôi vọt ra trước.

Anh tôi bám theo sau. Khó khăn lắm mới đến được đường Thống Nhất. Một đoàn xe dài đủ màu đậu hàng hai hàng ba trườc cổng Tòa Đại Sứ Mỹ. Tường kín. Cổng cũng đóng kính. Không thấy gì hết. Uyên náo, ồn ào. Trên trời lại càng ầm ĩ hơn. Những chiếc trực thăng khổng lổ cứ đáp xuống, vút lên trên nóc nhà cao tầng.

Kia rồi, chiếc xe đen. Chiếc xe Hoa kỳ có hàng chữ US Air Force – Không Quân Mỹ. Đèn đỏ trên mui xe nhấp nháy liên tục. Từ phía sau vụt tới, hú còi inh ỏi. Tôi bám sát phía sau hướng thẳng đến Dinh Độc Lập. Hết đường, quẹo trái. Sao vậy? Bối rối. Phi trường tay phải. Mặc. Như cái máy, như một robot, tôi ngoặc sang trái. Chiếc xe lắc lư chao đảo. Thẳng đường Công Lý một chiều. Quẹo phải Lê Lợi, bùng binh Quách thị Trang, Trần Hưng Đạo, Đồng Khánh. Một đoàn xe dài ngoằng lắc lư như tàu lửa đang đổ dốc. Tiếng kèn, tiếng bánh xe nghiến ken két trên đường. Cả tiếng nghiến răng, tiếng hét hãi hùng nữa. Khủng khiếp! Đồng hồ tốc độ cứ vút lên và hạ xuống. Sáu mươi, bảy mươi kílômét giờ giữa một thành phố hỗn mang náo loạn người và xe.

Quẹo trái. Quẹo trái. Đâu rồi. Nguyễn Trãi, Nguyễn Tri Phương. Bến Chương Dương, Bạch Đằng. Ngược Tự Do. Rẽ phải. Hai Bà trưng. Ngã Tư Phú Nhuận. Quẹo trái, Bộ Tổng Tham Mưu. Không được. Rào chắn. Quẹo trái. Trương Quốc Dung. Quẹo mặt. Công Lý. Thẳng luôn. Rú ga. Đây rồi, cổng Phi Long, Không quân Việt-nam. Két...! Két...! Két...! Dừng lại. Đùng! Đùng! Đùng! Đạn xẹt trên mặt đường nhựa. Lính Không Quân bắn ra từ trên tháp gác. Hù dọa? Bắn thật? Làm sao biết được. Bỏ mạng như chơi. Tất cả đều dừng lại. Kẹt cứng. Người là người. Đông vô số kể. Đứng. Ngồi. Chạy tới, chạy lui. Gào thét, la khóc. Mới đây, tối hôm qua tôi vào ra dễ dàng. Bây giờ, tôi kẹt cứng. Chờ. 5 phút, 10 phút, 30 phút. Hơn 12 giờ trưa rồi. Tôi nôn nóng. Nín thở. Lách xe ra khỏi đoàn. Từ từ hướng vào cổng. Tôi đặt niềm tin vào tờ giấy có in hình lá cờ quốc gia màu vàng ba sọc đỏ, họ sẽ thấy và tôn trọng nó. Phe ta cả mà.

Đùng! Đùng! Tóe lửa. Một loạt đạn bắn sát đầu xe. Chết mất. Vợ con tôi rú lên. Bạn bè la hoảng. Sợ quá, tôi quay đầu xe lại. Anh tôi lái theo. Đi đâu? Trở về nơi xuất phát. Cổng đóng kín. Người đông quá. Không đưa xe vào bên trong được. Chúng tôi bỏ xe bên ngoài. Luồn lách. Chen lấn. May quá, vào được rồi.

Chúng tôi vào nhà riêng của ông Tổng Giám Đốc. Cũng may, tôi còn chìa khóa. Tôi lại khóa và chốt cửa bên trong. Xong rồi. Chấm dứt! Tôi đã chạy trốn. Giờ thì quy lại. Không thoát được. Phải, tôi bị bắt lại!

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 3 guests online.

Hosting by