You are hereKH001 Sách Khải Huyền

KH001 Sách Khải Huyền


By admin - Posted on 20 June 2008

Đề mục: SÁCH KHẢI HUYỀN
Kinh thánh: Khải huyền 1:1-3
Câu gốc: Khải huyền 1:3
Mục đích: Bắt đầu học sách Khải huyền, phải biết giá trị của sách.

I/. NỘI DUNG SÁCH KHẢI HUYỀN:


1:1a
"Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến."


Câu đầu tiên của sách Khải huyền được bắt đầu với từ ngữ MẶC THỊ. Chúng ta phải tìm hiểu ý nghĩa của từ ngữ nầy và những từ ngữ liên hệ thường được sử dụng:

  • Mặc thị: MẶC = có nghĩa là kín giấu, không nói ra; THỊ = là thấy. Như vậy, Sự Mặc Thị có nghĩa là thấy những điều kín giấu, không nói ra.
  • Mặc Khải: Trong Thần học thường dùng từ nầy. Chữ KHẢI có nghĩa là MỞ RA cho xem; như vậy, Sự Mặc Khải có nghĩa là mở ra cho xem những điều kín giấu.
  • Khải huyền: KHẢI = mở ra; HUYỀN = là huyền bí, mầu nhiệm, cao xa. Như vậy, Khải Huyền là mở ra cho xem những điều mầu nhiệm, cao xa.

Vì thế, có khi Sách Khải Huyền cũng được gọi là Sách Khải thị - nghĩa là mở ra cho xem những điều kín giấu, như 1:1 đã giải thích phần nội dung trước khi vào sách: đặng đem tỏ ra … những điều kíp phải xảy đến.

Chúng ta phải lưu ý là 1:1 cho chúng ta biết nguồn của những điều được bày tỏ trong Sách Khải huyền: Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài.

Điều nầy thật quan trọng, Lời Chúa muốn nói rằng những điều được tỏ ra trong sách Khải huyền không phải là một sản phẩm huyền hoặc của con người - dù con người đó đáng kính trọng như Sứ đồ Giăng, cũng không phải là câu chuyện thần thoại thường có trong các tôn giáo.

Tại sao phải nhấn mạnh Sự Mặc Thị trong sách Khải huyền là từ chính Chúa Jêsus Christ? Vì có một số người khi đọc sách Khải huyền, với những hình ảnh, những dị tượng, họ không giải thích được, nên cho rằng sách Khải huyền là thần thoại.
Thật sự, hầu như tất cả các Nhà Giải Kinh đều nhìn nhận sách Khải huyền là MỘT trong những sách khó giải thích nhất của Kinh thánh. Nhưng "khó giải thích" không có nghĩa là không giải thích được hoặc không học được những điều Chúa muốn dạy. Khó giải thích là do sự hiểu biết hạn chế của chúng ta, hoặc do sự cứng lòng của chúng ta, hoặc do chúng ta không học Lời Chúa cho chính mình, mà chỉ muốn thỏa tánh tò mò.

Ngay trong câu 1, Chúa đã nói trước với chúng ta về NỘI DUNG của sách Khải huyền: tỏ ra "những điều kíp phải xảy đến." Những điều kíp phải xảy đến là những điều:

  • Có liên quan đến Hội thánh của Đức Chúa Trời.
  • Những điều xảy đến sau thời kỳ của các Sứ đồ cho đến ngày Trời Mới Đất Mới.
  • Những điều mà duy sách Khải huyền đề cập đến, ấy là Thời kỳ Trời Mới Đất Mới, mà các sách khác trong Kinh thánh không nói đến.

Nói chung lại, sách Khải huyền là sách bày tỏ những điều mà Chúa muốn cho chúng ta biết về tương lai của thế giới, đặc biệt những điều đó có liên hệ đến Hội thánh của Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên, có nhiều điều đã được các sách khác trong Cựu Ước nói đến, như sách Đa-ni-ên, sách Ê-xê-chi-ên, sách Êsai. Nhưng trong một số giới hạn nào đó. Thí dụ như:

  • Đaniên 9:26, và không có chi hết, nhóm từ nầy cho chúng ta biết điều mà Tiên tri Đaniên không được mặc khải. Điều kín giấu đó là thời kỳ Ân điển của Chúa dành cho Hội thánh không thuộc người Y-sơ-ra-ên, điều mà thánh Phaolô đã nói trong thư Êphêsô 3:4-6, lẽ mầu nhiệm trong các đời khác, chưa từng phát lộ cho con cái loài người.
  • Sách Ê-xê-chi-ên nói đến các Sanh vật quanh ngai của Đức Chúa Trời, nói đến kết cuộc của chiến tranh mà Khải huyền gọi là trận Ha-ma-ghê-đôn.
  • Sách Ê-sai nói đến cảnh trạng thời kỳ Một Ngàn Năm Bình An cách chi tiết, trong khi sách Khải huyền thì cho biết nguyên nhân có thời kỳ nầy.

Một điều cần phải lưu tâm nữa, là nội dung sách Khải huyền đề cập thời gian cho đến khi chung kết Trời Đất, nên sách sẽ nói đến một số sự kiện liên hệ các nước, những biến cố thời sự. Đây là phần khó cho những người muốn giải thích sách Khải huyền, không được theo nghĩa đen quá mà bỏ quên nghĩa bóng (ẩn ý); cũng không được thuộc linh hóa (chỉ theo nghĩa bóng) mà bỏ quên nghĩa đen. Vì đen quá thì không thấy được; mà bóng quá thì bị chóa mắt cũng không thấy rõ điều cần thấy.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ đặc biệt, có thể nhìn lại một số sự kiện được mặc thị trong sách Khải huyền đã diễn ra - như các thời kỳ của Hội Thánh; còn một số sự kiện dường như đang đi vào quĩ đạo của sách, dễ cho người học sách Khải huyền bị lầm lẫn rơi vào cực đoan đề quyết theo ý mình nghĩ.

Xin Chúa ban ơn cho chúng ta đang khi học sách Khải huyền, điều gì hiểu được thì cảm tạ Chúa, điều nào chưa hiểu được thì cảm tạ Chúa nói như Phaolô trong I Côrintô 13:12, ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương cách mập mờ: đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau; ngày nay tôi biết chưa hết: đến bấy giờ tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy.

II/. NGƯỜI VIẾT SÁCH KHẢI HUYỀN:


1:1b-2
Trình tự của sự bày tỏ hoặc trình tự của sự mặc thị nầy được Khải 1:1 ghi lại như sau: SỰ MẶC THỊ là của Chúa Jêsus Christ nhận từ Đức Chúa Trời được đem tỏ ra (mặc thị) cho TÔI TỚ NGÀI.

Để tỏ cho Tôi Tớ Ngài, Chúa Jêsus Christ đã sai thiên sứ mang đến cho Giăng.

Anh chị em phải để ý một điều quan trọng trong sự mặc thị nầy mà 1:1 ghi lại:

Chúa Jêsus Christ không mặc thị (bày tỏ) cho thiên sứ, Chúa chỉ SAI thiên sứ truyền báo, đem thông tin cho Giăng. Thiên sứ chỉ là những công cụ, những phương tiện, họ không phải là đối tượng của sự mặc thị.

Và Tôi tớ của Chúa đang được nói đến ở đây là Sứ Đồ Giăng, vị Sứ đồ cuối cùng còn sống. Kinh thánh Tân Ước nói đến ít nhất ba người tên Giăng:

1/. Giăng Báp-tít, anh em bạn dì với Chúa Jêsus, con của Ê-li-sa-bét (Luca 1:). Giăng nầy đã làm Báp-têm cho Chúa Jêsus, đã bị vua Hê-rốt giết (Math.14). Giăng Báp-tít không viết sách nào trong Kinh thánh.

2/. Giăng gọi là Mác được ghi lại trong sách Công vụ 12:12, đây là một thanh niên đã góp phần vào công cuộc truyền giáo với Phaolô (Công vụ 15:37-38), Mác này là người viết sách Tin Lành Mác.

3/. Sứ đồ Giăng, một môn đồ được Chúa Jêsus yêu thương, người đã viết sách Tin Lành Giăng, các thư Giăng (I, II, III) và sách Khải huyền.

Trong Khải 1:1b-2 nầy, sứ đồ Giăng, người viết sách Khải huyền được giới thiệu như sau:

1:1b, Giăng được giới thiệu là Tôi tớ của Chúa Jêsus Christ, tức là người đã được chính Chúa Jêsus Christ kêu gọi và lập làm Sứ đồ của Chúa.

1:2, Giăng là kẻ rao truyền Lời Đức Chúa Trời.

1:2b, là chứng cớ hay nói cách khác, Giăng là người viết những lời chứng về Chúa Jêsus Christ, về mọi điều ông đã thấy và nghe.

Thật ra chúng ta không biết tại sao Chúa lại chọn Giăng để bày tỏ cho ông những điều như đã được ông ghi lại trong sách Khải huyền. Có thể vì Giăng là môn đồ được Chúa Jêsus yêu thương nhất, nhưng rõ ràng kẻ nào được ban cho nhiều thì sẽ bị đòi lại nhiều hơn, Giăng được yêu thương nhiều nên được giao trách nhiệm nhiều hơn.

Đây là điều mà chúng ta phải hãnh diện, vì các thiên sứ là các Đấng có sức mạnh, quyền năng, nhưng họ không có phần trong Chương trình của Đức Chúa Trời cứu nhân loại. Trong khi đó, chúng ta là những Cơ-Đốc nhân, lại vốn là loài người yếu đuối, được Chúa Jêsus Christ chết thay, được biết những điều mầu nhiệm, kín giấu của Đức Chúa Trời.

Chúng ta có thể nhắc lại bài học về Chúa Jêsus giáng sanh, dù là máng cỏ đê hèn Chúa vẫn ngự vào, thay vì cung điện nguy nga nhưng người chủ là Hêrốt.

III/. THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI SÁCH KHẢI HUYỀN:


1:3
Trong câu 3 nầy nêu ra 3 thái độ có cần cho một người đối với sách Khải huyền:

  1. ĐỌC, điều thứ nhất là phải Đọc! Lời Chúa khuyến khích chúng ta, dù sách Khải huyền là sách khó hiểu, nhưng đừng vì đó mà bỏ qua, trái lại là phải đọc. Ít nhất là phải Đọc! 
    Thật sự nếu không có sách Khải huyền thì Kinh thánh của chúng ta không có kết luận. Nói cách khác, nếu chúng ta không đọc sách Khải huyền thì chưa hiểu hết Kinh thánh.
  2. NGHE, nghe giảng dạy, nghe giải thích, tức là tìm cách để học hỏi nhiều hơn về sách Khải huyền. Rõ ràng Chúa không phủ nhận sự khó hiểu của sách Khải huyền đối với trí óc hạn chế của chúng ta, nên Chúa muốn chúng ta ngoài tự học, tự đọc, nên cùng nhau đọc, cùng nhau học. Một người không hiểu, nhờ nhiều người góp ý sẽ hiểu.
  3. GIỮ LẤY, từ ngữ này có nghĩa là thực hành, áp dụng cho chính mình, là tuân giữ, làm theo. Bao giờ Kinh thánh cũng nhắc chúng ta nhớ nguyên tắc đọc và học Kinh thánh là phải làm theo:
    - Giô-suê 1:8, "cẩn thận làm theo mọi điều đã chép"
    - Mathiơ 7:24-27, chính Chúa Jêsus Christ khẳng định người nghe Lời Chúa và làm theo là người khôn ngoan, giống như người cất nhà mình trên đá, đứng vững giữa mọi hoàn cảnh.
    - Giacơ 1:22-23, thánh Giacơ nói rằng người nghe mà không làm theo là người lừa dối mình.

Vì thế, điều quan trọng mà anh chị em muốn học sách Khải huyền là gì? Học cho biết hay học để thỏa tánh tò mò trước thời cuộc thế giới? Xin Chúa cho chúng ta học sách Khải huyền để hiểu được và để làm theo, vì Chúa đã rao báo trước trong câu 3 nầy: PHƯỚC đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã chép ra đây.

Trước khi bước vào sách Khải huyền, tôi thiết tha kêu gọi anh chị em chỉ đặt một mục đích duy nhất: xin Chúa cho chúng ta hiểu để làm theo, hầu cho được phước. 

Phụ chú về từ ngữ MẶC THI, (Mặc khải) theo ông AN CHI trên Kiến Thức Ngày Nay (Trích Chuyện Đông Chuyện Tây, NXB Trẻ, Tập 1, t.244)

Mặc khải là một từ Hán Việt mà người ta dùng để dịch danh từ Révélation của tiếng Pháp (tiếng Anh: Revelation) với tính cách cách là một thuật ngữ Tôn giáo. Danh từ Thần học và Triết học của Ban giáo sư Đại chủng viện Bùi Chu do Trí-đức thư-xã (Hà-nội) xuất bản năm 1953 đã ghi như sau:

"Révélation: Mặc khải, Révélation divine: Mặc khải Thiên chúa. Révélation formelle: Mặc khải mô thức. Révélation primitive: Mặc khải sơ khai (…...)".

Đồng nghĩa với mặc khải mặc thị mà người Nhật đọc thành mokuji. Họ dùng từ này để dịch tên sách Apocalypse (là sách cuối cùng trong Kinh Thánh, phần Tân Ước) thành Mokuji roku (Mặc thị lục). Kinh Thánh, bản tiếng Việt của Thánh Kinh Hội tại Việt-nam, in năm 1975 cũng dùng từ này, chẳng hạn "Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ" (Sách Khải huyền, 1:1). Nhưng bản tiếng Việt của Hội Ghi-đê-ôn Quốc tế năm 1985 thì là cùng từ khải thị, chẳng hạn "Sự Khải thị của Jêsus Christ" (Sách Khải thị của Giăng 1:1).

Danh từ thần học và triết học đã dịch Révélation thành mặc khải và dịch Apocalypse thành Khải huyền thư. Thực ra, nghĩa của apocalypse cũng là révélation vì đó là dạng tiếng Pháp - và cả tiếng Anh - của tiếng Hy Lạp apocalypsis, có nghĩa là… révélation, tức mặc thị, mặc khải, khải thị hoặc khải huyền. Đây đều là những từ đồng nghĩa.

Từ điển của Đào Duy Anh hoặc của Nguyễn văn Khôn không ghi nhận từ mặc khải một phần vì đây không phải là một từ thông dụng, một phần vì đó cũng không phải là từ điển cỡ lớn. Đầy đủ hơn nhiều như Từ hải cũng chỉ ghi nhận có khải thị mà không có mặc khải, mặc thị hoặc khải huyền.

…. (Trích sđd, t. 285)

…... chúng tôi khẳng định và phân tích rằng mặc khải là một thuật ngữ tôn giáo tương ứng với tiếng Pháp révélation và tiếng Anh revelation. Thuật ngữ này có nghĩa là "sự dự báo hoặc sự hiển hiện của điều mầu nhiệm tạo ra bởi quyền năng của Đấng thiêng liêng"…

(Trích sđd t. 331)

ĐỘC GIẢ: KKNN số 141 (xem phần trích ở trên từ t. 244 - TTS), mục CĐCT có giải thích rằng mặc khải là một từ Hán Việt mà người ta dùng để dịch từ Révélation của tiếng Pháp. Xin mạn phép có đôi lời góp ý:

Ta biết rằng Révélation (tiếng Pháp) và Revelation (tiếng Anh có nguồn gốc bởi một từ trong tiếng Latinh là Revelatio. Trong từ Revelatio có chữ Velum nghĩa là "bức màn". Revelatio dịch sang tiếng Hán-Việt là mạc khải, bởi chữ mạc nghĩa là "bức màn" và khải nghĩa "mở ra". Còn chữ mặc trong từ mặc khải thì lại có nghĩa là "sự tối tăm" (mặc nghĩa là"mực") nên hai từ mặc khảimạc khải tuy đồng nghĩa với nhau nhưng cách dùng chữ có khác biệt. Vậy có nên dùng từ mạc khải thay cho từ mặc khải hay không?

AN CHI: Về phần từ nguyên tiếng Latinh, bạn đã phân tích rất đúng. Nhưng khi đối dịch từ thứ tiếng này sang thứ tiếng khác, người ta chỉ căn cứ theo nghĩa (hoặc những nghĩa) thực tế mà mỗi từ có thể có trong thứ tiếng đang xét. Chẳng hạn người ta chỉ dịch bridgegroom của tiếng Anh thành (chàng, chú) rể; không ai dịch thành người giữ ngựa của cô dâu, viện lẽ rằng bridge là cô dâu còn groom là người giữ ngựa (Vả lại, nghĩa từ nguyên của bridgegroom vốn lại là người anh hùng của cô dâu - X. KTNN 113, CĐCT, t.91). Người ta chỉ dịch woman là phụ nữ, đàn bà; chẳng ai dịch thành người (làm) vợ mặc dù xét theo từ nguyên thì wo chính là tha hình (allmorph) cùa hình vị (morpheme) wife có nghĩa là vợ còn man thì có nghĩa là (người) đàn ông.

Ngay cả trong tiếng Latinh, người nói thứ tiếng này cũng chẳng cần biết rằng revelatio có liên quan đến velum là bức màn. Người Lamã ngày xưa chỉ cần biết revelatio có nghĩa là gì, huống chi người Trung Hoa khi dịch Revelation (<revelatio) sang tiếng Hán. Vì vậy mà họ đã dịch nó thành mặc khải. Chữ mặc ở đây chẳng có liên quan gì đến "sự tối tăm" vì nghĩa đen của nó cũng chẳng phải là "mực". Tự hình của nó là chữ hắc và chữ khuyển (hai chữ hợp lại - TTS) còn nghĩa của nó là im lặng, không nói gì. Đây cũng là chữ mặc trong mặc thị mà người Nhật đã mượn và đọc thành mokuji. Từ này cũng đã được họ viết bằng Kanji (Hán tự) là chữ hắc và chữ khuyển hợp lại (nguyên văn là chữ Hán - TTS). Các vị trong Ban giáo sư Đại chủng viện Bùi Chu, nhóm biên soạn quyển Danh từ Thần học và Triết học (Trí đức thư xã, Hà-nội, 1953), đã không nhầm lẫn khi họ dịch Révélationmặc khải. Vả lại, tiếng Hán chỉ có khải mạc đồng nghĩa với khai mạc mà nghĩa đen là mở màn chứ không có "mạc khải". Vậy xin cứ yên tâm dùng từ mặc khải để dịch Révélation như vẫn làm lâu nay.

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 2 guests online.

Hosting by