You are hereForums / Hỏi & Đáp / Tìm Hiểu Tin Lành / CHỨNG ĐẠO: Nguyên Tắc 1

CHỨNG ĐẠO: Nguyên Tắc 1


By admin - Posted on 27 August 2009

NGUYÊN TẮC CHỨNG ĐẠO
***************

TỔNG QUÁT:
Chứng đạo viên cần biết: 5 Nguyên tắc Chứng đạo:

1.   Phải biết KHEN.
2.   Phải dùng KINH THÁNH
3.   Chỉ nói về CHÚA JÊSUS CHRIST
4.   Theo Chiến lược TỪ GẦN ĐẾN XA, TỪ THÂN ĐẾN SƠ.
5.   Áp dụng Phương Pháp MỜI BẠN ĐẾN.

NGUYÊN TẮC CHỨNG ĐẠO Thứ I.
*********************************************

PHẢI BIẾT KHEN.

    * Làm chứng đạo là giới thiệu về ơn cứu rỗi của Chúa Jêsus Christ cho người chưa tin Chúa. Điều quan trọng là làm sao để họ bằng lòng nghe điều chúng ta trình bày. Muốn người ta bằng lòng nghe với tinh thần vui và sẵn lòng thì cách tốt nhất bao giờ cũng là tìm cách KHEN đối tượng. Lời khen sẽ chiếm được cảm tình của người nghe.
    * Thông thường người tin Chúa vì lòng kính Chúa và biết mình có Chân lý, nên có định kiến là ngoài Tin Lành của Chúa Jêsus, thì tất cả đều sai lạc. Từ ý tưởng đó khiến người tin Chúa dễ bắt đầu việc Chứng đạo bằng những lời công kích người nghe. Do lời công kích đó, người nghe dù biết điều họ có, điều họ làm, là sai, họ cũng sẽ tìm đủ cách để chống lại. Đôi khi từ đó xảy ra xung đột không đáng có, khiến việc làm chứng về Chúa Jêsus Christ bị thất bại. Sự thất bại sẽ làm Chứng đạo viên nản lòng, từ đó không muốn đi chứng đạo nữa.

Để tránh thất bại và có thể hoàn thành Đại mạng lịnh của Chúa Jêsus Christ, Chứng Đạo Viên (CĐV) cần học cách KHEN trước khi vào mục đích làm chứng đạo.

NGUYÊN TẮC KHEN:

   1. Phải KHEN ĐÚNG, nghĩa là điều mình khen phải là đáng khen và không trái với Kinh Thánh dạy.
   2. Khen cách thành thật, không làm cho người khen hiểu lầm là 'nịnh nọt'.
   3. Có thể điều được khen là ngôi nhà, ngoại cảnh chung quanh, nghề nghiệp, cũng có thể là tôn giáo người chưa tin Chúa đang theo hoặc đang nêu ra.

ĐIỀU ĐÁNG KHEN CỦA CÁC TÔN GIÁO:
ĐẠO THỜ ÔNG BÀ: THỜ CÚNG TỔ TIÊN:

Phạm Quỳnh, một học giả lớn và đã từng làm quan nhất phẩm triều đình trong hoàng cung, đã gọi sự thờ cúng tổ tiên là 'một quốc giáo chân chính', theo những niềm tin phổ thông của người Việt-nam. Người chết can thiệp mỗi lúc vào cuộc đời của người sống, linh hồn (của người chết) hướng dẫn, chỉ bảo, che chở họ, theo dõi họ, nói cho đúng, bằng cặp mắt vô hình đã xem thấu qua những bí mật của sự sống và sự chết, và đó là phương tiện duy nhất mà nhân loại có thể có một khải tượng vắn tắt về tương lai và số mệnh của mình. Tóm lại, những linh hồn sống trong ký ức họ, mối quan tâm họ, trong giấc mơ của họ về cuộc đời còn mãnh liệt hơn cả cuộc sống của họ trên thế gian nầy.

Người ta thường chủ trương con người có ba phần, giống như cây cối, người có sinh hồn, chia xẻ với các thú vật khác đặc ân có giác hồn. Nhưng trên hết mọi sự, người được phú bẩm cho một linh hồn, chữ linh bao giờ cũng bày tỏ một chân tánh thiêng liêng và siêu việt nhờ đó người có thể sống sót sau khi đã bị giải thể. Tuy nhiên, linh hồn đi lang thang từ nơi nầy qua nơi khác, sau khi qua đời cho đến chừng tìm được một chỗ do những người dòng dõi đang sống cung cấp. Bởi vậy, nghĩa vụ thánh của người sống, nhất là con trưởng nam hoặc người nam bà con thân nhất của người chết, phải cúng tế thỏa đáng và tỏ lòng tôn kính người. Trong truờng hợp không có dòng dõi là người nam để cúng tế lâu dài, người con gái, cháu gái hoặc người bà con cũng được phép tiếp tục những nghi thức định kỳ. Một gia đình Việt-nam thường để riêng một phần lớn đất hương hỏa để giao cho con trưởng nam hay người nào đảm trách sự thờ cúng đề dùng làm nguồn lợi chi phí những việc cần thiết. Mỗi năm, vào ngày giỗ chạp, một vị tổ tiên nhận sự thờ cúng tế lễ tại bàn thờ gia tiên trước sự hiện diện của cả gia đình. Vì người Việt-nam coi là một chuyện dĩ nhiên rằng cuộc sống sau khi chết thì cũng tương tự như cuộc sống ở dương gian, của cúng tế gồm có đồ ăn ngon, rượu, hoa quả, trầu cau, nhà cửa, xe cộ, quần áo, tiền bạc, tôi tớ, vợ hầu, tất cả đều là hàng mã (làm bằng giấy). Những lời cầu nguyện, những lời khấn vái dài được kêu xin với tổ tiên quá vãng trong khi khói hương nghi ngút đầy dẫy bầu không khí quanh bàn thờ và tất cả mọi người tham dự đều quì lạy trước chỗ hương án. Tổ tiên cùng gồm với những người khác trong những nghi thức và các ngày lễ cổ truyền nhằm ngày Tết Nguyên Đán, Tết Hàn thực (mồng 3 tháng 3), ngày Thanh minh (ngày kỷ niệm trong tháng 3), Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5), Tết Trung thu (ngày rằm tháng 8), ngày Thượng nguyên (rằm tháng 7), Tết Trùng Cửu (ngày 9 tháng 9), Tết cơm mới (ngày cơm mới trong tháng 9), Tết Hạ nguyên (rằm tháng 10). Ngày áp Tết Nguyên Đán là cơ hội đặc biệt khi tổ tiên được hoan nghinh lại nhà và họ được khoản đãi với những của cúng tế hào hoa trong ba ngày trước khi họ lại từ giã để trở về nơi ở siêu việt. Thêm vào những nghi thức trong ngày giỗ, người dòng dõi sống cũng nhớ đến tổ tiên trong các trường hợp đặc biệt, trong bất cứ biến động quan trọng nào trong gia đình, người gia trưởng đứng trước bàn thờ trịnh trọng loan báo cho các tổ tiên, cũng nài xin ơn phước và sự bảo vệ cho phép hôn phối hoặc người bịnh hoạn, khi thi cử, hoặc du hành xa, mọi công việc quan trọng của một thành viên trong gia đình.

Có người quả quyết rằng sự thờ cúng tổ tiên là hình thức cổ nhất của tôn giáo dân tộc Việt-nam, và nói đã có lâu đời trước khi du nhập các tập quán tôn giáo và văn hóa Trung hoa. Mặt khác, nhiều học giả xét đến những quan điểm và những quy lệ cơ bản của thờ cúng là do sự dạy dỗ của Khổng tử, đặc biệt là Kinh Lễ. Thật ra, ngay cả sự thờ cúng tổ tiên cũng đã được thực thi trong hình thức sơ khai trước khi người Trung hoa đến, còn những quan điểm và nghi thức được tinh luyện và trau chuốt qua ảnh hưởng của Khổng giáo. (Trích: LSHTTL/Việt-nam của Mục sư Lê Hoàng Phu)

Điều nên khen: ....................................................................

...........................................................................................

Cần xem thêm: "Đạo Tin Lành có bỏ ông bỏ bà không?" (Người Việt-nam với Đạo Tin Lành)

PHẬT GIÁO:

Tài liệu đọc thêm: (Trích "Tìm Hiểu Phật Giáo" của Mục sư Trần Thái Sơn soạn theo tài liệu của Đại Đức Triều Dương)

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ PHẬT THÍCH CA: (563-483 hoặc 624-544, Năm 544 được Phật giáo xem là năm mở đầu kỷ nguyên Phật giáo)

Cứ theo tinh thần Phật giáo để lại, Phật Thích Ca sinh ngày 8 tháng 4 âm lịch, lúc còn nhỏ là một vị Thái tử tên Tất Đạt Đa hay Sĩ Đạt Ta, con của vua Suddhodana (chúng ta thường quen gọi là Tịnh Phạn Vương tên nầy là do vua năng tắm gội trai giới, ăn uống chay tịnh) và Hoàng hậu Maya, thuộc nước Xá Vệ (Kapilavastu), một nước lớn và mạnh tại Bắc Ấn độ  khoảng 565? - 480 TC. (Năm sinh của Đức Phật không được ghi chép chính xác trong kinh sách, nhưng hầu hết các nhà sử học đều cho là những năm nầy), thuộc dòng họ Shakya, một bộ tộc thuộc về giai cấp chiến sĩ Kshatrya vùng Trung Á di cư về miền Bắc Ấn, gần với khu vực thành Benerès, Ấn Độ, và biên giới phía Namcủa nước Nepal ngày nay.

Vì thuộc dòng họ Shakya nen sau nầy sử sách thường gọi Người là Phật Shakyamuni, tức Thích Ca Mâu Ni. Thích Ca được diễn giải theo tiếng Trung Quốc có nghĩa là 'chân như' (chân nhân tính - capable of true humanity), còn Mâu Ni là tên ghép đi chung với họ.

Trong kinh sách cổ và huyền thoại kể lại giây phút sinh Thái tử Sĩ Đạt Ta như sau: nơn chuyến về thăm cha mẹ ở xứ Davadaha, theo tuc lệ thời đó là người đàn bà mang thai sắp sinh phải về nhà cha mẹ ruột (cũng có sách chép rằng Hoàng hậu Maya rất thích phong cảnh tu nhàn nên bà dùng đoàn tùy tùng đi dạo chơi ra khỏi nước Kapilavastu. Khi đến khu vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), khi đến gần cây Ưu Đàm (caâ Plaksa, có sách gọi là cây Ashoka, hoặc cây sala. Theo nha thực vật học Nguyễn văn Ba tức ông Thái Minh Kiệt, thì chính là cây sung), thì hoàng hậu chuyển bụng.

Bảy ngày sau đó, Hoàng hậu Maya từ trần, thái tử được giáo cho Vương phi Mahaprajapati Gotami, là em ruột của Hoàng hậu, cũng là vợ của vua Tịnh Phạn (các Phật tử gọi bà là Đạo Ái, vì bà rất sùng đạo Phật)

Vua Tịnh phạn cho mời các tu sĩ Bà-la-môn giáo đến để làm lễ đặt tên cho thái tử là Siddharta, phiên âm theo tiếng Hoa là Tất Đạt Đa, hay Sĩ Đạt Ta, nghĩa là 'người đạt tới mọi chân lý và sở hữu những điềm may mắn'. Trong các Tu sĩ hiện diện có người tiên đoán Thái tử có 'ba mươi hai tướng tốt, năm mười chin tuổi, nếu sống đời trần thế thì sẽ là một đấng quân vương vĩ đại. Nếu lìa bỏ ngai vàng, người sẽ trở thành một đấng giác ngộ và dạy con đường giải thóat cho cõi trời và cõi người'.

Lúc trưởng thành, lúc mười bảy tuổi, Thái tử vâng lệnh vua cha kết duyên cùng Công chúa Da Du Đà La (Yasodara), con gái vua Thuận Giác, một nước lân cận, và sanh được một con trai là La Hầu La (Rahula - nghĩa là 'chướng ngại').

Một ngày kia, lúc được 23 tuổi, Thái tử dạo chơi bốn cửa thành, chính mắt nhìn thấy cảnh: Sinh - Lão- Bịnh - Tử, lòng Thái tử bắt đầu ngao ngán trước cảnh phù du. Năm 29 tuổi, trong một đêm khuya, Thái tử cùng tên hầu cận là Xa-Nặc phi ngựa về hướng rừng sâu, lên đường tầm đạo. Đến bìa rừng, Thái tử giao ngựa và gươm báu cho Xa-Nặc đem về, còn mình thì vào rừng sâu tu khổ hạnh.

Sau 12 năm tu khổ hạnh theo Bà-la-môn giáo, lúc 35 tuổi Thái tử thấy mình gầy yếu, kiệt sức, mà chẳng kết quả gì, Người bèn từ giả các nhà sư khổ hạnh, tự đi tìm Chân lý. Người đến sông Di Liên Thuyền (Nairanjana) tắm mát, có một thôn nữ tên Sujata dâng cho người một sô cơm trộn sữa bò tươi, người thọ thực. Bấy giờ người thấy cần phải ăn uống đầy đủ để thân thể tráng kiện mới có thể tầm ra lẽ đạo, người gọi đó là Trung Đạo không ép xác thái quá cũng không dễ dãi quá. Thái tử đến ngồi dưới cây Pipala lớn cách sông ba dặm phát nguyện: "Nếu không giác ngộ (bodhi), không rời khỏi cây nầy". Vì vậy cây Pipala còn có tên  là Bodhi Tree (Bồ Đề). sau 48 ngày đêm, từ nửa đêm ngày thứ 49, nhằm ngày 8 tháng chạp, người được quả giác ngộ (Phật = Buddha: bậc giác ngộ, người đã ra khỏi vòng luân hồi sinh tử), người là vị Phật thứ tám của cõi trần gian mà Phật giáo quen gọi là cõi Ta Bà (theo lời Phật dạy thì hàng tỉ năm trước, trên trái đất nầy đã có bảy vì Phật xuống trần gian trong thể xác phàm tục, cũng lìa bỏ vợ con gia đình ra đi tìm đạo, ngồi nhập định và giác ngộ dưới bảy loại cây khác nhau rồi đi giảng đạo.

Vị Phật thứ chín sẽ là Phật Di-Lặc, một vị Bồ-tát còn đang ở trên cung Đâu Suất sẽ giáng trần chấn hưng Phật pháp khi đến thời điểm

Phật Thích ca thu nhận môn đồ đủ hạng, có cả vua, quan, giàu sang quí phái, cùng đinh Thủ-đà-la và hạng không giai cấp là Ba-ly-a đều ngang nhau. Phật Thích ca hành đạo tại thế trên năm mươi năm, Khi 80 tuổi, Người vào một làng nhỏ tên Kushinagara, người thấy thể xác moon mỏi dần, không giảng dạy được nữa, các đệ tử trải đệm cho người nằm dưới gốc cây ưu đàm nghiêng mình về phía tay phải, dạy các vị Tỳ Kheo (hay Tỳ Khưu - Bhishu, nghĩa là người cầu xin được học hỏi, nghĩa đen là người đi khất thực) phải nương cậy vào chính pháp và chuyện trì giới luật. (có sách Phật giáo nói người vào làng thọ thực bữa cơm có thịt, bị trúng độc và chết). Đệ tử xây tháp, lấy xương làm Ngọc Xá Lợi.

Sau đó hàng đệ tử họp lại để ghi chép lời Phật dạy, xếp thành kinh điển. Đây là cuộc kết tập lần thứ nhất. Đệ tử lớn nhất là Ma Ha Ca Diếp, lãnh được ý chỉ của Phật nên kế tục làm Tổ thứ hai tại Ấn độ. Người có hai đệ tử xuất sắc nhất là Xá-Lợi Phất (Sariputra) và Mục Kiền Liên (Maudgalyana) đề đã chết trước Phật Thích Ca.

Từ Ca-Diếp truyền đến tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma thì Đạo Phật truyền sang Trung hoa, từ đó vào Việt-nam.

Điều có thể khen:

   1. Thái tử Sĩ-Đạt-Ta thấy đời người 'Sinh-Lão-Bệnh-Tử' (tứ khổ) giống như một người bị nhốt trong 4 bức tường - Người Trung quốc gọi chữ Nhân ở trong chữ Khẩu là chữ 'Tù' - Rôma 7:24
   2. Thái tử Sĩ-Đạt-Ta đi tìm Chân lý - Giăng 14:6, Phật tử là con Phật phải giống Phật đi tìm Chân lý, bây giờ Chúa Jêsus Christ là Chân lý đến tìm chúng ta - Luca 19:10
   3. Phật = buddha = bậc giác ngộ
   4. Vấn đề 'Ăn Chay'

Về giới luật, tín đồ Phật giáo chủ yếu phải kiêng 5 thứ (Ngũ Giới): Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.

Trong số đó, giới luật 'không sát sinh' là không được giết người, còn giết các động vật thì luật cấm không khắt khe lắm. Phật giáo ban đầu không cấm tín đồ ăn thịt.

Tục tín đồ, nhất là các tăng ni phải ăn chay, không được ăn thịt động vật là do vua Lương Vũ đế (502-549) của Trung quốc đặt ra vào thời kỳ đạo Phật thịnh hành ở nước nầy. (Trích: Lịch sử Văn Minh Thế Giới, Vũ Dương Minh,NXB Giáo Dục, 2008. t.93)

VẤN ĐỀ ĂN CHAY VÀ CỬ SÁT SANH TRONG PHẬT GIÁO

Một người mới đầu Phật được nhà chùa ban cho tờ giấy qui y gồm có các điều gọi là: Tam Qui Ngũ Giới.

  • Tam qui là: qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng.
  • Ngũ giới là: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và ăn chay.

Nhà Phật dạy rằng chúng sanh bốn loại là: thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh, đều có sự sống như nhau và có cả tiền kiếp cũng như hậu kiếp. Nhìn một người giàu sang quyền quí, hay cùng đinh lao khổ, nô tì, hoặc sự sống lao khổ của loài vật như bò, trâu, ngựa … thì biết được hành động của người đó lành hay dữ, sẽ biết được kiếp sau của họ. Nhà Phật có câu:

Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị
Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.

Nghĩa là:

Muốn biết kiếp trước của người, hãy nhìn kiếp sống nầy.
Muốn biết kiếp sau của người, nhìn xem hành động của họ.

Vậy muốn khỏi vào địa ngục phải cử sát sanh, ăn chay, niệm Phật. Thiền sư Qui Sơn Linh Hữu có soạn ra một số giới luật để trừng giới cho hàng tu hành. Trong đó quan trọng nhất là phải ăn chay và cử sát sanh. Bởi vì ăn cá thịt thì ham muốn đủ thứ, dục vọng tăng tràn, tội lỗi sẽ chồng chất đầy dẫy. Ăn chay là phương cách để dẫn đường cho sự giải thoát.

Nhưng xét cho kỹ thì Phật Thích ca không buộc ăn chay mà lại cho phép hàng đi tu được ăn 'tam tinh nhục'. "Tam Tinh Nhục" là:

  • bất văn kỳ thanh (không nghe tiếng con vật kêu la khi bị giết);
  • bất kiến kỳ sát (mắt không nhìn thấy con vật bị giết);
  • tự thân bất sát (không phải chính mình giết)

Tóm lại, cá thịt ở đâu mang đến thì người tu có quyền ăn. Ngày xưa, Phật Thích ca có lúc ăn chay, có khi cũng ăn cá thịt. Ngày nay chi phái Phật giáo nguyên thủy (Theravada) cho ăn cá thịt, họ lý luận rằng tam tinh nhục ngày xưa Phật đã cho phép.

Nếu bảo rằng ăn chay để mau thành Phật, mau vô Niết bàn thì thật sai lầm:

1.      Muốn mau thành Phật, thích vô Niết bàn là phạm tội tham lam vọng tâm sẽ không bao giờ đạt được theo ý muốn.

2.      Phật Thích ca từng tu ép xác ăn chay, sau kiệt sức mới thấy được sự sai lầm của việc ăn chay, người bèn uống sữa bò tươi và ăn các chất khác để bồi bổ, nhờ đó thân thể tráng kiện để giác ngộ.

Phật còn thuyết nhiều điều nữa cũng không ngoài mục đích dạy người tự độ. Cái thân của Phật là vô nghĩa, vô thường, phẩm chất Như Lai của Phật cũng không đủ quyền năng tế độ ai. Đã có lần Phật Thích ca gọi đồ chúng và dạy: Hỡi các Tỳ Kheo, hãy nhìn theo tay ta để thấy trăng. Nhưng đừng tưởng ngón tay ta là trăng. Trăng là Chân lý phải đạt, ngón tay là phương tiện để đạt. Nương theo phương tiện để đi tới Chân lý, nếu không có phương tiện hoặc nương vào phương tiện sai thì không đạt đến Chân lý. (Tìm Hiểu Phật Giáo - SĐD, t.22-24)

Ăn chay để được cứu rỗi là sai. Ăn chay vì lý do sức khỏe, vì ngăn ngừa một số bịnh thì là điều tốt.

NHO GIÁO:

Còn gọi là KHỔNG GIÁO, tức là đạo của Đức Khổng tử.

"Trọng tâm của Khổng giáo không phải là vũ trụ học, cũng không phải là quan niệm về thần linh, mà là giáo lý về con người"  (LSHTTL/Việt-nam - SĐD, t.19).

KHỔNG TỬ: (551-479 TC.)

Khổng Tử tên là Khâu, hiệu là Trọng Ni, người nước Lỗ (ở tỉnh Sơn Đông - Trung quốc) ngày nay. Ông là một nhà tư tưởng (triết gia) lớn và là nhà giáo dục lớn đầu tiên của Trung quốc cổ đại (nên được gọi là Vạn Thế Sư Biểu).Khổng tử có làm ở nước Lỗ trong mấy năm, nhưng phần lớn thời gian của đời sống là đi nhiều nước tại Trung quốc thời Xuân thu (722-481 TC) để trình bày chủ trương chính trị của mình và mở trường dạy học… Đồng thời ông còn chỉnh lý các sách: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu (gọi là Ngũ Kinh)…

Về mặt triết học, Khổng Tử ít quan tâm đến vấn đề nguồn gốc của vũ trụ, do đó ông đã thể hiện một thái độ không rõ rệt về trời, đất, quỷ, thần. Một mặt, ông cho rằng trời chỉ là giới tự nhiên, trong đó bốn mùa thay đổi, trăm vật sinh trưởng; nhưng mặt khác, ông lại cho rằng trời là một lực lượng có thể chi phối số phận và hoạt động của con người, do đó con người phải sợ mệnh trời.

Đối với quỷ thần, một mặt Khổng Tử tỏ thái độ hoài nghi khi nói rằng: "Chưa biết được việc làm người, làm sao biết việc quỷ thần; chưa biết được việc sống, làm sao biết được việc chết." Tuy nhiên, mặt khác, ông lại rất coi trọng việc cúng tế tang ma và ông cho rằng "tế thần xem như có thần".

Nội dung quan điểm đạo đức của Khổng Tử bao gồm rất nhiều mặt như: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng… nhưng trong đó quan trọng hơn cả là "nhân" (lòng thương người)

Về sau, ngoài Mạnh tử (371-289 TC.), đời Hán Vũ đế năm 136 TC, có Đổng Trọng Thư (179-104 TC.) phát huy học thuyết Nho gia nêu ra Tam cương ngũ thường (nam giới), Từ Đức Tam Tòng (nữ giới) và Lục kỉ (mối quan hệ với người ngang hàng với cha, ngang với mẹ, ngang anh em, họ hàng, thầy giáo và bạn bè) - Trích LSVMTG - SĐD, t.129, 135.

Học thuyết của Khổng Tử đặt nặng Tam Cương, trong đó Quân thần Cang (điển hình: Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung…) được các vua thời phong kiến ủng hộ, nên thường được thịnh hành, và được đưa vào giáo khoa chính của nền Giáo dục Trung quốc, rồi vào Việt-nam đến đầu thế kỷ 20 mới kết thúc (1918). Do sự sùng kính đó, các vua và các quan (xuất thân từ việc thi Tứ Thư [4 sách bình luận do các môn đệ của Khổng Tử soạn gồm: Luận Ngữ, Đại Học, Mạnh Tử, Trung Dung), Ngũ Kinh) tôn Khổng Tử lên để thờ cúng, bởi đó có Nho Giáo.

Nói chung, thuyết chính của Khổng Tử là thuyết Chính Danh Quân Tử - làm một người trọn vẹn theo tiêu chuẩn đạo đức Nho gia. Đặc biệt là rất tin vào Mệnh Trời.

Những lời dạy quen thuộc của Nho giáo:

    * Hoạch tội ư thiên vô sở đảo giả - Phạm tội với Trời, không thể cầu đảo ở đâu được.
    * Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu - Lưới trời lồng lộng, một mảy lông cũng không lọt.
    * Điều gì không muốn người ta làm cho mình, thì đừng làm cho họ - so với Mathiơ 7:12, Chúa Jêsus dạy tích cực (MUỐN) còn Khổng Tử dạy tiêu cực (KHÔNG MUỐN).

LSVMTG nhận xét: … do mặt phục cổ, bảo thủ của nó, Nho gia đã có trách nhiệm rất lớn trong việc làm cho xã hội Trung quốc trì trệ, không nắm bắt kịp trào lưu văn minh thế giới (SĐD, t.137). Chính sự bảo thủ nầy cũng xảy ra tại Việt-nam khi Việt-nam tiếp xúc văn minh Tây phương, kết quả tương tự.

LÃO GIÁO (ĐẠO GIA):

Về tên tuổi và thời đại của Lão Tử thì không được biết rõ. Có ý kiến cho rằng Lão Tử tức là Lão Đam, tên là Lý Nhỉ, người nước Sở, sống thời Xuân Thu, sinh năm 570 TC. Lớn hơn Khổng Tử 20 tuổi. Ông có viết một sách nổi tiếng gồm hai thiên nói về "đạo" và "đức”"với hơn 5,000 chữ, đó là cốt lõi của quyển Đạo Đức Kinh.

Lão Tử và môn đệ về sau nầy là Trang Tử (369-286 TC.) đưa ra triết lý không tưởng…

Vì xã hội Trung quốc thời cổ đại đã tồn tại các hình thức mê tín như cúng tế quỉ thần , phù phép, đồng bóng, bói toán, đặc biệt là tin vào thần tiên. Họ cho rằng ngoài biển có ba hòn núi tên là Bồng Lai, Phương Trương và Doanh Châu, người ta có thể đi thuyền ra đó để tìm thuốc trường sinh bất lão, đồng thời kết hợp với thuật luyện đan (thuốc uống). (LSVMTG - SĐD, t.139-141).

Chính từ Lão giáo sản sinh ra những truyện thần tiên, phù thủy…

Lão Tử dạy về nguồn gốc vũ trụ:

Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Sau khi vạn vật được tạo ra thì phải có quy luật để duy trì sự tồn tại của nó, quy luật ấy gọi là "đức".

Và Lão Tử giải thích về ĐẠO là gì?

Hữu vật hỗn thành tiên thiên địa sinh,
Tịch hề, liêu hề, độc lập bất cải
Chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu
Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết đạo
Cưỡng vi chi danh viết đại.

Dịch:

Có một vật không nhất định mà thành tựu trước khi có trời đất
Yên lặng mênh mông, một mình độc lập
Không thay đổi, tản mác khắp cả không ngừng vào đâu
Có thể lấy làm mẹ của thiên hạ
Ta không biết tên nó, tạm đặt tên là Đạo
Miễn cưỡng mà đánh dấu hiệu là Lớn

Dù Lão Tử không gọi là Trời, nhưng gọi là Đạo (đó là lý do có người đề nghị dịch danh từ Logos trong Giăng 1:1 là Đạo [Bản Nhuận Chánh Ghi-đê-ôn - 1956]).

CÔNG GIÁO LAMÃ

TÊN GỌI:

    * Theo Kinh Thánh sách Công vụ, thì Đạo của Chúa ban đầu được gọi là Đạo Đấng Christ (Công vụ 11:26), tức là chỉ những người tin theo Chúa Jêsus Christ.
    * Đến năm 311 SC. Khi Hoàng đế Constantine của đế quốc Lamã lúc bấy giờ tin nhận Chúa, ông đã lập Đạo của Chúa Jêsus Christ thành Đạo Nhà Nước (Quốc giáo). Do đó Đạo của Chúa được gọi là Công giáo (Catholic).
    * Đến năm 1517, các phong trào cải chánh giáo hội tại Đức, Thụy Sĩ, Pháp nổi lên, từ đó thế giới gọi tổ chức tôn giáo nầy là Công giáo Lamã (Roman Catholic), tức là giáo hội Công giáo thuộc thành Lamã (Lamã ở đây chỉ về Vatican, thủ đô của Giáo hội nầy)

PHÂN BIỆT CÔNG GIÁO VÀ TIN LÀNH:

ĐIỂM TƯƠNG TỰ GIỮA CÔNG GIÁO VÀ TIN LÀNH
(Không phải giống nhau hoàn toàn, chỉ một phần)

           TIN LÀNH                  

CÔNG GIÁO

Tin Kinh Thánh là lời Đức Chúa Trời (chỉ 66 sách                        theo kinh điển)

Khuyến khích mọi người đọc và học Kinh Thánh

Tin Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời (66 sách) + các ngoại thư (sách không có trong kinh điển) + các Giáo lịnh của Giáo hoàng.

Trước Công đồng Vatican II (1966), chỉ hàng chức sắc gíáo hội mới được đọc, và chỉ giải nghĩa theo chuẩn của Giáo hội (Giáo điều).

Sau Công đồng Vatican II, cho phép giáo dân được đọc nhưng không được giải thích

Tin Giáo lý Đức Chúa Trời Ba Ngôi (Mathiơ 28:19)Tin Giáo lý Đức Chúa Trời ba Ngôi + 1 (Mari)
Tin Chúa Jêsus Christ là Đấng Cứu Thế duy nhất (Công vụ 4:12; I Timôthê 2:5)
Tin Chúa Jêsus Christ là Đấng Cứu Thế + sự trung gian của Mari.
Tin Thiên đàng và Địa ngụcTin Thiên đàng và Địa ngục + Ngục luyện tội


KHÁC NHAU GIỮA CÔNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

 

TIN LÀNHCÔNG GIÁO
Thể chế Cộng hòaThể chế Quân chủ
Báp-têm là sự vâng lời Chúa dạy để sau khi tin Chúa bày tỏ niềm tin đồng chết, đồng chôn, đồng sống với Chúa Jêsus Christ (Rôma 6:3-4)Gọi Bí-tích rửa tội, với mục đích rửa tội.
Được cứu rỗi chỉ bởi ân điển của Chúa, không phải bởi việc làm công đức (Êphêsô 2:8-9)Được cứu bổi tin Chúa Jêsus Christ + việc công đức riêng như đọc kinh, xưng tội với Linh mục, dùng tiền chịu các thánh lễ.
Qua đời được trực tiếp về ở với Chúa (Luca 23:43; Philíp 1:23)

Qua đời phải vào Ngục Luyện tội chờ người còn sống trả tiền để các Linh mục làm lễ cho ra khỏi Ngục nầy.

Ngay cả Giáo hoàng khi qua đời cũng phải được làm lễ rửa tội trước khi chết.

Tin và làm theo Kinh Thánh dạy (Mathiơ 7:24-27; II Timôthê 3:16)Tin và làm theo lời Giáo hội dạy (qua các chức sắc Giáo hội)

 

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by