You are hereForums / Hỏi & Đáp / Nan Đề Trong Hội Thánh / TTFS: Ý KIẾN PHÁT TRIỂN HỘI THÁNH 3

TTFS: Ý KIẾN PHÁT TRIỂN HỘI THÁNH 3


By admin - Posted on 12 December 2009

Đề thi TTFS

Tại sao Tin Lành tại VN không phát triển như tại Singapore hay Nam Hàn?

-          Phân tích nguyên nhân và kiến nghị giải pháp.

Bài viết của: Ms Nguyễn Quốc Ấn. PCT Liên Hữu Tin Lành Báp-tít Việt Nam

                                                          Tin Lành tại Singapore  

Thủ đô: Singapore

Diện tích: 618 Km2

Dân số: 4,163,700 người

Đơn vị tiền tệ: Dollar Sing

Múi giờ: SST (Giờ cơ bản của Singapore), +1 giờ so với Việt Nam.

Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Hoa, Mã Lai, Ấn Độ và Tiếng Anh
Ngôn ngữ:Ngôn ngữ chính thống: Tiếng Anh, tiếng Madarin cơ sở (tiếng Trung), Malay, Tamil
Ngôn ngữ địa phương: Tiếng Anh Singapore là loại tiếng Anh với ngữ pháp và từ vựng tổ hợp từ các tiếng đia phưong, TQ, Malay và Ấn Độ. Tiếng Anh Singapore được sử dụng phổ biến ở đường phố mặc dù ngôn ngữ chính thống là Tiếng Anh.

Thành phần sắc tộc: 77% là người Singapore gốc Trung Quốc, 13% là người Singapore gốc Malay, 8% là người Singapore gốc Ấn, 2% là người Singapore gốc Âu và Ả rập.

Tin Lành đến Singapore từ năm 1819, gần như cùng lúc quốc gia Singapore được thành lập. Ngay khi Raffles, người sáng lập Singapore hiện đại đến, thì ông ta đã góp đất xây nhà thờ.

Đến nay Singapore có 14.6% dân số là Tin Lành, trong đó khoảng 4.8% là Công Giáo. Hội Thánh Singapore phát triển nhanh, từ 1980 đến 1989 tăng gấp đôi (từ 10% lên 20%). Gần đây tỉ lệ tuy giảm (do dân số Singapore nhập cư nhiều) nhưng tốc độ tăng vẫn cao, dù rằng nhanh nhất có vẻ lại là ở Charismatic church. Có nhiều du học sinh khi đến đây đã tin lời Chúa, họat động của Thanh niên Tin Lành ở Singapore khá tốt.

Nhận định về HT ở Singapore thì Singapore được xem như trụ sở của Hội truyền giáo và công việc từ thiện ở châu Á Thái Bình Dương, với nhiều trường đào tạo mục sư và nhà thờ giúp đỡ công việc truyền giáo[1].


Tin Lành tại Hàn Quốc

Nhà thờ Tin Lành tại Hàn Quốc

Cuối năm 2007, dân số của Hàn Quốc là 48 triệu 450 nghìn người, của CHDCND Triều Tiên là 23 triệu 200 nghìn người, tổng dân số của Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên gộp lại là 71 triệu 650 nghìn người.

Vào tháng 11 năm 1947, Hội đồng Liên hợp quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành tổng bầu cử tại Hàn Quốc dưới sự hỗ trợ của một Ủy ban Liên hợp quốc.

Tuy nhiên, Liên bang Xô viết đã khước từ việc tuân theo giải pháp này và từ chối những ảnh hưởng của Ủy ban liên hợp quốc đối với nửa phía Nam của bán đảo.

Hội đồng Liên hợp quốc sau đó đã đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử tại các địa phương với sự giúp đỡ của Ủy ban Liên hợp quốc. Những cuộc bầu cử đầu tiên được tiến hành vào mùng 10 tháng 5 năm 1948, tại những tỉnh nằm ở phía Nam vĩ tuyến 38. Vĩ tuyến này đã trở thành đường chia cắt bán đảo Triều Tiên thành hai miền nam và bắc Triều Tiên.

Điều này dẫn tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt ở miền bắc và miền nam, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc và Cộng hoà Triều Tiên (Hàn Quốc) ở phía nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên.

Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới Chiến tranh Triều Tiên, khi ngày 25 tháng 6 năm 1950 Quân đội Nhân dân (Bắc) Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, buộc tội miền nam đã vượt qua trước, và tấn công -- Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Hoa KỳLiên hiệp quốc hậu thuẫn Nam Hàn, còn đứng đằng sau Bắc Hàn là Liên XôTrung Quốc. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953, khi lực lượng Liên hiệp quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Quân tình nguyện Nhân dân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên. Vùng phi quân sự Triều Tiên phân chia hai nước, và bán đảo Triều Tiên bị chia cắt cho đến ngày hôm nay.

51% dân số Hàn Quốc có tín ngưỡng tôn giáo. Trong số này 49% theo đạo Phật, 49% theo Kitô giáo (trong đó có 38% theo Tin lành và 10% theo Công giáo), 1% là tín đồ đạo Khổng, 1% còn lại theo các tôn giáo khác.

Nhiều người dân Hàn Quốc không đặt nặng vấn đề tôn giáo, họ tổ chức ngày lễ của nhiều tôn giáo khác nhau. Việc pha trộn tôn giáo này vấp phải sự phản đối kịch liệt của hơn 90.000 tín đồ Nhân chứng Giê-hô-va. Những nghi lễ cổ truyền vẫn còn được duy trì. Các giá trị của đạo Khổng hiện nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống thường ngày của người dân xứ Hàn[2].

TIN LÀNH TẠI VIỆT NAM

DẪN NHẬP

    Qua đợt  kiểm tra dân số tháng 7.2008, VN có khoảng 86,5 triệu dân, nước đông dân thứ 13 trên thế giới. Tuổi thọ trung bình của dân VN khá cao – 71,3. Mỗi năm VN tăng hơn 1 triệu người. Nếu chúng ta tạm chấp nhận con số 2 triệu tín hữu hiện nay (không kể Công giáo Lamã), thì tỉ lệ Cơ Đốc Nhân tại Việt Nam là 2,3%. Tài liệu của Ban Tôn Giáo Chính Phủ năm 2008 thể hiện rằng Tin Lành có khoảng 1 triệu tín hữu trong các hệ phái đã được Nhà Nước công nhận[3].

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước. Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 87%, tập trung ở những miền châu thổđồng bằng ven biển. Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chămngười Khmer phần lớn đều tập trung ở các vùng cao nguyên. Trong số các sắc dân thiểu số, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng..., mỗi dân tộc có dân số khoảng một triệu người. Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm. Có một số dân tộc thiểu số đã định cư trên lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời, nhưng cũng có các dân tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở miền Nam. Việt Nam là một nước đông dân, tuy diện tích đứng hạng 65 nhưng lại xếp thứ 13 trên thế giới về dân số.

Việt Nam là một nước có nhiều tôn giáo, hiện có gần 45 triệu tín đồ Phật giáo (đã quy y), 5,5 triệu tín đồ Công giáo, 2,4 triệu tín đồ Cao Đài, 1,3 triệu tín đồ Hòa Hảo, 1 triệu tín đồ Tin Lành và 60.000 tín đồ Hồi giáo. Trên thực tế, đại đa số người dân Việt Nam có tục lệ thờ cúng tổ tiên, nhiều người theo các tín ngưỡng dân gian khác như Đạo Mẫu, và thường đến cầu cúng tại các đền chùa Phật giáo, Khổng giáoĐạo giáo. Ngoài ra, có một số các tôn giáo khác như Hồi giáo, Bà la môn...[4]

Chúng ta biết Tin Lành đến VN từ năm 1911, hai năm nữa chúng ta sẽ kỷ niệm “100 năm Tin Lành đến Việt Nam 1911-2011”, nhưng số lượng tín hữu rất ít so với dân số hiện nay, điều đó chứng tỏ rằng sự phát triển của Tin Lành Việt Nam rất chậm.

Chúng ta có chiến lược nào để thay đổi, đồng thời đưa Phúc Âm của Chúa đến cho 86,5 triệu dân Việt Nam trong thế kỷ XXI này không?

Việt Nam là đất nước có nhiều điểm đặc thù về lịch sử, địa lý, dân tộc, kinh tế, xã hội và chính trị, đã tác động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của Tin Lành trong 100 năm qua, nhưng quan trọng nhất là do lòng người.

 

NHẬN ĐỊNH

Những nguyên nhân khách quan

 Khách quan 1: Quá nhiều biến cố đau thương:

VN là một đất nước dày đặc những cuộc chiến tranh. Từ xa xưa, VN bị Trung quốc đô hộ, rồi sau đó là Pháp cai trị. Cuối cùng là cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc. Từ sau năm 1954 thì đất nước thật sự bị chia cắt từ vĩ tuyến 17. Lúc ấy Miền Nam khoảng 20 triệu dân. Giai đoạn 1942-1954 là giai đoạn mà Tin Lành tại VN có nhiều biến động: Bị ảnh hưởng bởi thế chiến thứ 2, một số giáo sĩ được lệnh về nước, một số lánh qua Philipine, một số thì bị quản thúc. Có một vài Mục Sư chạy qua giáo hội khác. Nạn đói năm 1944-1945 ở Miền Bắc ảnh hưởng nặng nề đến Tin Lành. Trong thời gian này có Truyền đạo Trần Như Tuân ở Tp Vinh khởi xướng tà giáo định ngày tái lâm của Chúa Giê-xu. Nhiều yếu tố khác nữa đã làm cho Tin Lành bị ngưng trệ, chậm phát triển[5].

Khách quan 2: Ảnh hưởng sâu đậm của các ngoại giáo:

Việt Nam là một trong những nước ở Châu Á chịu ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng và tôn giáo, như: Bái Vật Giáo, Lão giáo, Khổng Giáo, Nho giáo, Phật Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi Giáo, Mẫu, Công Giáo Lamã… Những tôn giáo này đã tồn tại nhiều thế hệ trước khi Tin Lành đến VN vào năm 1911. Vì thế, Tin Lành không dễ thâm nhập vào xã hội và nếp sống của người VN, vốn là một dân tộc luôn luôn gìn giữ và bảo vệ giá trị truyền thống của tổ tiên. Người ta thường viện dẫn lý do để không tin Chúa là: “Theo Chúa là bỏ ông bà tổ tiên”.

Khách quan 3: Không hội nhập với văn hoá VN:

Tin Lành đến VN từ nước ngoài, nhưng không hội nhập với văn hoá VN. Nền thần học (quan điểm thần học) Tin Lành (của Tây Phương) không phù hợp với bối cảnh văn hoá của người VN. Bước đầu nó (nền thần học Tây Phương) có thể tạo nên một phong cách mới, nhưng về lâu về dài thì nó khó chấp nhận ở một quốc gia như VN. Ví dụ: ăn trầu, uống rượu, uống bia bị cho là “không tái sinh”! Hôn nhân ngoại giáo bị cấm đoán vì cho rằng “mang ách chung với kẻ chẳng tin”, gièm pha chuyện “con rồng cháu tiên”… Người ta vẫn kết hợp nhịp độ phát triển Tin Lành với sự gia tăng chiến tranh của Mỹ vào VN[6].  Vì thế, Tin Lành bị hiểu lầm rằng: “Tin Lành là cũa Mỹ, theo đạoTin Lành là theo Mỹ”…Còn nhiều vấn đề khác nữa, đã làm cho dân VN dị ứng khi nghe nói về Tin Lành. 

Những nguyên nhân chủ quan

Chủ quan 1: Sợ hãi và mất quyền năng:

            Từ sau năm 1975 các hệ phái Tin Lành truyền thống luôn luôn bị sợ đóng cửa cơ sở tôn giáo, từ đó bị gò bó trong không gian sinh hoạt. Chỉ được giảng đạo tại nhà thờ hoặc trong khuôn viên của nhà thờ. Họ bị hù doạ là sẽ không được cấp tư cách pháp nhân. Mạng lịnh của Chúa là rao giảng khắp nơi, tức là không bị hạn chế về không gian, nhưng họ đã chấp hành nghe theo lời của con người hơn là mạng lịnh của Chúa để mong cho được tư cách pháp nhân. Từ đó Tin Lành mất đi quyền năng, bị lệ thuộc vào quyền lực của con người. Ngược lại, các HT tư gia thì càng bị bắt bớ, họ càng truyền giáo và mở mang HT mới rất mạnh mẽ, bất chấp những quy định trái với Kinh Thánh.

Chủ quan 2: Thiếu yêu thương và hiệp một:

            Thiếu tinh thần hiệp nhất trong các hệ phái Tin lành. Một số lãnh đạo của các hệ phái mới xuất thân từ HT Tin Lành truyền thống, nhưng thường chê bai, chỉ trích những lãnh đạo của Tin Lành truyền thống rằng thiếu quyền năng, thiếu ơn…Ngược lại, các lãnh đạo của Tin lành truyền thống thì xem thường tư cách của các lãnh đạo Tin Lành Tư Gia, chê bai các hệ phái Tin Lành Tư Gia không có trật tự, lộn xộn, ô hợp… có người còn cho rằng các hệ phái Tư Gia là tà giáo!?  

PHÂN TÍCH VÀ KIẾN NGHỊ

Với nguyên nhân khách quan 2 và 3:

Hội nhập tức là thích nghi với môi trường văn hóa, là hòa nhập mà không bị hòa tan. Chúng ta sống một đời mới trong môi trường cũ để “chiếu sáng như đuốc trong thế gian”(Philip 2:15)

Hơn 1000 năm ảnh hưởng của ngoại bang. Nhiều thế hệ VN đã bị ảnh hưởng sâu đậm những tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo của nước ngoài, đến nỗi người ta lầm tưởng rằng đó là sản phẩm của ông, cha để lại. Người VN không biết rằng ông cha ta chẳng có tôn giáo nào cả, đa số là do người Tàu truyền sang. Thậm chí, nghề làm nông cũng do các quan lại nước ngoài truyền thụ. Câu chuyện dưới đây là một ví dụ.

Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở [1b] Giao Chỉ, lấy lễ nghĩa dạy dân. Lại lấy Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân. Diên là người Uyển [huyện]. Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cày trồng, trăm họ no đủ. Dân nghèo không có sính lễ cưới vợ, Diên bảo các trưởng lại trở xuống bớt bổng lộc ra để giúp đỡ, cùng một lúc lấy vợ có đến 2.000 người. Diên coi việc được 4 năm thì bị gọi về. Người Cửu Chân làm đền thờ. Những người đẻ con đều đặt tên là Nhâm. Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy[7].

                Một thói quen lâu đời đã trở nên nếp văn hóa, thì khó mà thay đổi một sớm một chiều. Dù vậy, con người luôn luôn có khả năng thích ứng. Vấn đề là phương pháp, cách thức làm sao cho uyển chuyển. Tin Lành VN phải hội nhập văn hóa của dân tộc thì mới mong tỉ lệ tín hữu được nâng cao trong những thập niên tới.

Theo ý nghĩ của tôi, dân tộc VN nhìn về Tin Lành tại VN là đúng chứ không phải “hiểu lầm”. Bởi vì, mang tiếng là Tin Lành VN nhưng ảnh hưởng của Tây phương khá đậm: Âm nhạc (Thánh ca) của Tây, trang phục theo Tây (các Ms mặc áo vest), kiến trúc (nhà thờ) theo phong cách Tây. Một du khách vào thờ phượng Chúa trong một nhà thờ Tin Lành tại Saigon, khi ra về ông nói: “Tôi không thấy có chút gì là của VN trong buổi thờ phượng Chúa. Các bạn hát nhạc Tây tôi nghe như người Mỹ nói tiếng VN lơ lớ. Tại sao các bạn không hát nhạc của dân tộc VN?”. Trong một hội nghị quốc tế gồm các Ms Tin Lành, người ta đề nghị các Ms hãy tôn vinh Chúa một bài hát mang bản sắc của dân tộc mình. Ms Trung Quốc, Ms Hàn Quốc, Ms Campuchia… đều hát những bài hát có làn điệu của quê hương họ. Nhưng các Ms Tin Lành VN thì không có bài hát nào gọi là làn điệu của quê hương VN.

Trong đêm truyền giảng 21.4.2009 tại sân Tao Đàn, tiết mục múa cờ rất hay và lạ, nhưng trên những lá cờ viết tiếng Anh “Christ for Vietnam”, trên áo của ban hát lại có chữ “Worship & Praise” Trên màn hình projector (lúc chờ) lại có chữ “Pray”. Chúng ta đang truyền giảng cho người Mỹ, người Anh, người nước ngoài, hay truyền giảng cho người VN?  Tại sao không ghi một câu tiếng Việt ngắn gọn mà đanh thép như: "VN là của Chúa" hoặc "VN thuộc về Chúa"... để tất cả người VN, là đối tượng cần biết đều đọc được? Người Tây không cần biết điều này. Tây hóa không đúng chỗ, không cần thiết, lại gây phản cảm (Cảm nhận riêng của tôi).

Đức Chúa Trời là Đấng hội nhập nên Ngài sai Chúa Giê-xu vào với tư cách là một Emmanuen. Chúa Giê-xu là một Cứu Chúa hội nhập (nhập thế và nhập thể) nên Ngài ăn uống với người thâu thuế, với kẻ tà dâm. Ngài quan hệ, gần gủi với mọi tầng lớp trong xã hội để biến đổi từng cuộc đời. Phaolo là một sứ đồ hội nhập, ông viết: “Tôi ở yếu đuối với những người yếu đuối, hầu được những người yếu đuối; tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người, để cứu chuộc được một vài người không cứ cách nào. Mọi điều tôi làm, thì làm vì cớ Tin Lành, hầu cho tôi cũng có phần trong đó” (1Corinhto 9:22-23).

Thánh Kinh Hội VN đã tổ chức hiệu đính Kinh Thánh, tôi cũng được mời tham gia trong công tác này (Có lẽ cuối năm 2009 sẽ cho xuất bản bản hiệu đính hoàn chỉnh). Hiệu đính là sửa lại một số từ ngữ tiếng Việt mà cụ Phan Khôi đã sử dụng dịch Kinh Thánh từ năm 1926, mà hôm nay đã trở nên khó hiểu với đa số dân chúng. Không phải là sửa Kinh Thánh, nhưng nắn lại một số từ ngữ để phù hợp với thời đại hôm nay, hoặc tỉa chỉnh lại một số phương ngữ để người ở địa phương khác có thể hiểu được. Đây cũng là một hành động hội nhập văn hóa rất đáng được quan tâm.

Tháng 11 năm 2005 tôi và Ms Huỳnh Thiên Bửu đã tổ chức một buổi hội thảo về chủ đề: “Hội Thánh Với Âm Nhạc Dân Tộc” tại Hội Thánh Tin Lành Phạm Thế Hiển. Một trăm đại biểu là những Ms và tín hữu của các hệ phái Tin Lành đến dự. Trong buổi hội thảo này tôi đã trình bày tham luận “Sử Dụng Âm Nhạc Dân Tộc trong Công Tác Truyền Giảng”, Ms Huỳnh Thiên Bửu trình bày tham luận “Hội Thánh Với Âm Nhạc Dân Tộc”, Anh Nguyễn Ngọc Quang, nhà soạn nhạc và chỉ huy dàn nhạc HT Tin Lành Hà Nội trình bày tham luận “Âm Nhạc trong cung cách Thờ Phượng Chúa”.

Sau buổi hội thảo đó tôi đã thành lập nhóm “Hội Nhập Văn Hóa” (HNVH) chuyên hát Dân Ca Phúc Âm phục vụ cho các buổi truyền giảng. Đã tổ chức khoảng 20 buổi truyền giảng bằng Dân Ca Phúc Âm tại các HT ở Miền Nam và Miền Trung. Tôi đã chuyển biên lời mới 30 điệu Dân Ca của quê hương nhắm đến mục tiêu truyền giảng. Đã hoàn tất một Album CD “Tình Chúa Bao La” gồm 10 bài Dân Ca Phúc Âm. Đã phát hành hơn 1000 CD này tại Saigon và 300 CD tại Mỹ.

Còn nhiều lĩnh vực khác nữa mà Tin Lành VN cần phải hội nhập. Hội nhập tức là thích nghi với môi trường văn hóa, hòa nhập mà không bị hòa tan. Chúng ta sống một đời mới trong môi trường cũ để “chiếu sáng như đuốc trong thế gian”(Philip 2:15).

Đa số Cơ Đốc Nhân đều biết ngày này xuất xứ từ bên Mỹ. Lịch sử của ngày Mẫu thân có từ rất lâu, bắt nguồn từ Hy Lạp và mở rộng ảnh hưởng rõ rệt tại Anh quốc. Và vì lẽ đó, Hoa Kỳ cũng du nhập và phỏng theo. Năm 1870, bà Julia Ward Howe, Chuyên viên ngành Xã hội Hoa Kỳ đã viết và mô tả rõ về Mother’s Day. Đến năm 1914, Tổng Thống Woodrow Wilson chính thức công bố toàn quốc mừng Mother’s Day. Năm 1924,  Tổng Thống Calvin Coolidge đã công bố Chúa Nhật thứ ba của tháng 6 là ngày của Cha (Father’s Day), và đến năm 1972 Tổng Thống Nixon đã chính thức ký sắc lệnh thiết lập vĩnh viễn Chúa Nhật thứ ba của tháng 6 là ngày Phụ Thân (Father’s Day) trên toàn quốc Hoa Kỳ. Mỗi năm báo chí VN thường trích đăng lịch sử của hai ngày này vào tháng 5 và tháng 6.

Giáo hội Phật Giáo nói riêng và dân tộc VN nói chung đều rất quan tâm đến ngày Lễ Vu Lan. Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tránh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.

Mục Kiền Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Kiền Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.

Người Tin Lành VN chọn hai ngày Lễ Mẫu Thân và ngày Lễ Phụ Thân để làm dịp tưởng nhớ công ơn sinh thành của cha mẹ. Hai ngày này đều không phải của người VN. Tại sao chúng ta cứ vay mượn của nước ngoài những điều mà chúng ta có thể sử dụng ngay trong văn hóa cổ truyền của dân tộc ta? Chúng ta có Kinh Thánh dạy rằng: “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho người được sống lâu trên đất…” (Xuất.20:12) và được Tân Ước xác định lại một lần nữa trong Êphêsô 6:2.

Phật Giáo dựa vào một truyền thuyết chung quanh nhân vật Mục Kiền Liên, thế mà ngày lễ Vu Lan đã tồn tại khá lâu tại VN và trở nên niềm tin của họ. Chúng ta biết dân tộc ta rất thích ngày này. Chúng ta có lời hằng sống của Đức Chúa Trời mà phải đi vay mượn của người khác để người ta cho rằng theo Chúa là bỏ ông bà tổ tiên. Khi biện luận về vấn đề này, chúng ta thường nói “trong Kinh Thánh có dạy mà! Chúng tôi đâu có bỏ ông bà tổ tiên!”. Vâng, Kinh Thánh có dạy, nhưng chúng ta không làm theo, hoặc làm theo, nhưng bắt chước người Mỹ. Chúng ta nói Phúc Âm rất hay, rất chính xác, nhưng người ta không thấy chúng ta làm điều đó trong văn hóa của người VN.

Hằng năm dân tộc chúng ta chọn ngày 30 tháng 12 âm lịch (30 tháng chạp) là ngày “rước ông bà”, thường tổ chức vào buổi chiều. Người ta bày biện lễ vật rất nhiều với niềm tin là cha mẹ, ông bà, tổ tiên hoặc những người đã khuất sẽ về chung vui cùng con cháu trong 3 ngày xuân. Xét về đạo đức, đây là một mỹ tục, một hành vi đạo đức, hành vi hiếu thảo, uống nước nhớ nguồn. Nhưng Kinh Thánh không dạy cho chúng ta rằng ông bà tổ tiên hay người đã khuất có thể chung vui cùng con cháu trong 3 ngày xuân. Vì cớ danh Chúa, và chứng tỏ cho người chưa tin Chúa thấy rằng chúng ta làm theo lời dạy của Chúa, mà lời dạy đó rất gần gủi, hợp với đạo lý của người VN. Chúng ta sẽ chọn Chúa Nhật nào gần với ngày 30 tháng chạp hằng năm để tổ chức lễ tưởng nhớ công ơn sinh thành. Hình thức lễ hoàn toàn khác. Tôi nghĩ rằng những tân tín hữu sẽ vô cùng ngạc nhiên, còn những người chưa tin Chúa cũng sẽ bắt đầu để ý.

Năm 2007 tôi tham dự hội nghị Báp-tít Châu Á tại Thái Lan. Tôi thật ấn tượng khi xem tiết mục mở đầu là điệu múa cung đình của một HT Báp-tít tại Bangkok- Thái Lan, sau đó Ms chủ tịch Báp-tít Á Châu đánh một hồi cồng chiêng để khai mạc hội nghị, rất Thái Lan! rất Á Đông!

Quan niệm của người Việt Nam là “Sống cái nhà, già cái mồ”. Những nghĩa trang của người Tin lành cũng cần nghĩ đến yếu tố hội nhập. Có một Ms nói cho tôi nghe đề án của ông về việc xây dựng một nghĩa trang. Ông nói rằng ông sẽ làm giống như ở bên Mỹ, tức là không có nấm mộ, chỉ có một tấm đanh đặt bằng trên phần mộ, khắc thông tin của người quá cố thôi. Tôi hỏi: Đất Ms đang có ở tiểu bang nào bên Mỹ? Chỉ có những người Mỹ mới an táng ở đó phải không? Tôi không hiểu vì sao, hễ bất cứ cái gì của Mỹ là người ta ưa thích. Thảo nào, không mang tiếng rằng Tin Lành VN là của Mỹ!!!

Tôi không có tư tưởng bài ngoại đâu, nhưng tôi rất thận trọng, rất chọn lọc khi quyết định sử dụng một cái hay, cái đẹp của người khác. Bởi vì cái hay, cái đẹp của người khác có khi không phù hợp, không thích nghi với mình. Tôi làm vậy vì cớ Tin Lành tại VN, vì cớ Tin Lành cho người VN.

Về lâu dài, Tin Lành VN phải có một nền thần học, một quan điểm thần học phù hợp với nếp sống, với nhận thức, với văn hóa của người VN. Kinh Thánh không mâu thuẫn với văn hóa. Chỉ có ứng dụng Kinh Thánh không phù hợp với văn hóa mà thôi. Một trăm năm so với sự tồn tại của một dân tộc chẳng phải là dài. Nếu hôm nay chúng ta có sự thay đổi cung cách bày tỏ Phúc Âm cho dân tộc VN, thì một trăm năm nữa, các thế hệ con cháu của chúng ta sẽ sống trong cảnh phước hạnh, VN đã hoàn toàn thuộc Chúa. “Phước cho dân nào có Giêhova làm Đức Chúa Trời mình!” (Thi Thiên 145:15).

Tôi rất tâm đắc câu nói của nghệ sĩ nhã nhạc Nhật Bản, Togi Hideki được đánh giá là bậc thầy trong sự bảo tồn và sáng tạo dòng nhã nhạc Nhật Bản: “Cuộc sống của con người liên quan đến kinh thế và chính trị, đồng thời ảnh hưởng bởi văn hóa. Có thể không có văn hóa người ta vẫn sống được, nhưng sẽ không thể hiện được bản tính, đặc trưng của quốc gia đó. Không có văn hóa thì không còn là quốc gia của mình nữa, mà là sự nhập nhằng giữa các quốc gia khác”.

            Các hệ phái Tin lành nên ngồi lại với nhau, bỏ qua những khác biệt về hình thức của hệ phái, cùng nhìn vào mục tiêu “86,5 triệu người được cứu”. Ưu điểm của các hệ phái Tin Lành là ý thức cao về “Đại Mạng Lịnh” - rao giảng Tin Lành. Chúng ta có cùng một mục tiêu lớn, có một tương đồng lớn, những dị biệt chỉ là nhỏ và không quan trọng. Tại sao người đời lập được NATO? Tại sao người đời lập được EU? Tại sao người đời lập được ASEAN? Tại sao chúng ta không thể lập được VEFA (Vietnam Evangelism Federation Association), tạm gọi là Hiệp Hội Liên Phái Tin Lành VN? (Tôi không rành về tiếng Anh, nên có thể rất vụng về).

            Tôi đề nghị BTS tổng liên của HT Tin Lành Việt Nam  (Xem như là tiền bối – vì quý hội có nhiều ưu thế) đứng ra tổ chức một “Hội nghị Diên Hồng” gồm các lãnh đạo của các hệ phái Tin Lành thuần túy tại VN để hội thảo, bàn bạc, đánh giá, nhận định những ưu, khuyết điểm của công tác truyền giáo trong thế kỷ qua, và những thập niên gần đây với tinh thần hiệp một trong danh của Chúa Giê-xu. Tôi tin rằng, nếu chúng ta thật sự yêu nhau thắm thiết trong tình yêu của Chúa, thì Chúa đã đem 10 triệu người được cứu thêm vào trong HT, chứ chưa cần đến chúng ta thực hiện những chiến dịch truyền giảng qui mô đâu! Chưa thực hiện tình yêu với nhau, thì lời cầu xin 10 triệu tín hữu chưa được nhậm! Vua Giôsaphat chưa đánh quân Syri, họ chỉ mới hiệp lại ngợi khen Chúa, thì Chúa đã thanh toán xong chiến trận rồi. Với Chúa, không có gì là khó khăn cả. Hãy kêu gọi một kỳ hiệp nhau cầu nguyện, kiêng ăn của các hệ phái Tin Lành. Sự hiệp lại của một hệ phái gồm các HT địa phương trong hệ phái ấy, khác hẳn với sự hiệp lại của tất cả các hệ phái Tin Lành tại VN. Đức Chúa Trời sẽ dủ nghe và cứu dân tộc chúng ta. Chúa Giê-xu phán: “Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta” Giăng 13:35.

Trước mắt, BTS tổng liên HT Tin Lành Việt Nam lên kế hoạch tổ chức lễ kỷ niệm “100 năm Tin Lành đến VN 1911-2011”, quí hội sẽ mời các hệ phái Tin Lành đang hoạt động tại VN bất kể có tư cách pháp nhân hay không tư cách pháp nhân đến dự lễ. Nếu mời các lãnh đạo của các hệ phái này vào các tiểu ban của ban tổ chức thì càng hay. Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam đều làm như vậy. Đây sẽ là một lễ trọng thể, mang tính lịch sử. Thế hệ lãnh đạo Tin Lành mai sau sẽ nhớ mãi ngày kỷ niệm này. Chúng ta phải làm một điều gì đó thật ý nghĩa, có giá trị tâm linh để người đời không còn nhìn thấy một Tin Lành phân rẽ nữa.

Tôi ước gì chúng ta cũng nói được câu mà người Hàn Quốc luôn luôn nói: “Uri nưn hana” (Chúng ta là một).

Với nguyên nhân chủ quan 1: “Sợ hãi và mất quyền năng”:

Quí vị có cảm thấy sự khác biệt nào, sự ưu tiên nào, quyền lợi nào giữa việc “Có tư cách pháp nhân” và “Không có tư cách pháp nhân” không? Chúa Giê-xu không có tư cách pháp nhân của đế quốc Lamã, các sứ đồ đầu tiên không có tư cách pháp nhân, Hội Thánh đầu tiên cũng không có tư cách pháp nhân. Vì thế họ bị bắt bớ, bị tan lạc khắp nơi, nhưng đó là dịp tiện để họ phải ra đi theo Đại Mạng Lịnh của Chúa Giê-xu. Trong thời gian đó HT non trẻ đã phát triển một cách nhanh chóng và mạnh mẻ. Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta ngày nay bất cần tư cách pháp nhân. Nhưng chúng ta không chạy theo tư cách pháp nhân với bất cứ giá nào. Có tư cách pháp nhân thì tốt. Không có tư cách pháp nhân cũng không sao, miễn là chúng ta không làm sai luật pháp của nhà nước. Còn bị bắt bớ ư? Đó là chuyện bình thường phải có khi chúng ta sống theo Chúa Giê-xu. Ai theo Chúa Giê-xu mà không bị bắt bớ mới là chuyện lạ! Ai hầu việc Chúa Giê-xu mà tìm cách tránh khỏi sự bắt bớ, thì cần xem lại mình có được kêu gọi để hầu việc Ngài không? Chúng ta có quyền năng của Đức Chúa Trời, chúng ta có chân lý của Ngài. Đừng sợ kẻ giết thân xác… Phaolo bị bỏ tù khi rao giảng tại thành Philip, trong tù ngục ông và Sila cầu nguyện, hát ngợi khen Chúa, phép lạ đã xảy ra. Đừng quên rằng chúng ta đang có một Phúc Âm đầy quyền năng.

Với nguyên nhân chủ quan 2: “Thiếu yêu thương và hiệp một”:

Chúa Giê-xu phán: “Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta” Giăng 13:35.  Sau khi phân tích những đặc tính của “Tình Yêu Thương”, Phaolo đã kết luận rằng: “Nên bây giờ còn có ba điều này: ĐỨC TIN, TRÔNG CẬY, TÌNH YÊU THƯƠNG; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là TÌNH YÊU THƯƠNG1Corinhto 13:13. Tin Lành mà không có Tình Yêu Thương thì không còn là Tin Lành nữa. Chúng ta phải nhớ rằng Chúa Giê-xu đến thế gian không nhằm mục đích thiết lập một hệ thống tôn giáo, mà là Tình Yêu Thương. Ngài không viết một quyển sách nào! Ngài không đưa ra một hệ thống thần học nào! Ngài không soạn một hiến chương nào! Ngài không đưa ra quy chế nào! Ngài chỉ thực hiện một điều duy nhất thôi – YÊU. Vì thế chúng ta đừng đặt nặng đến hình thức của hệ phái. Các hệ phái Tin Lành khác nhau chỉ là phương tiện, Tình Yêu Thương mới là cứu cánh. Không có Tình Yêu Thương thì sẽ sinh ra kiêu ngạo, ganh tị, chỉ trích, phê phán, tranh cãi, bè phái, bất công, bất phục. Hội Thánh Êphêsô đã có rất nhiều thành quả cả thuộc thể lẫn thuộc linh, nhưng điều Chúa Giê-xu không hài lòng là họ đã đánh mất Tình Yêu Thương, vì thế, ngày nay HT ấy không còn nữa (Khải 2:1-6). Nếu chúng ta cố gắng duy trì một Tin Lành không có Tình Yêu Thương, thì chúng ta cũng giống như các tôn giáo hiện có tại VN mà thôi. Chúng ta không yêu nhau trong cùng một Tin Lành thì làm sao chúng ta yêu người Phật Giáo, người Hồi giáo, người Hòa Hảo? Tại sao chúng ta có thể xưng là “tôn giáo bạn” đối với các Đại Đức, Tăng Ni, các Linh Mục, các chức sắc các tôn giáo khác, mà không thể xưng “bạn” đối với các hệ phái Tin Lành đang hoạt động tại VN.

Tình Yêu Thương sẽ đưa đến tinh thần hiệp một. Có tinh thần hiệp một, mới có hành động hiệp một. Hiệp một trong hành động sẽ dẫn đến nhiều kết quả. Ví dụ: Một bác sĩ chuyên khoa chỉ giỏi ở một khoa nào đó thôi, ông ta chỉ có thể mở một phòng mạch nhỏ. Nhiều bác sĩ chuyên khoa hợp lại sẽ có một bệnh viện đa khoa. Các chuyên khoa sẽ hỗ trợ nhau tại một bệnh viện đa khoa. Tâm lý các bệnh nhận đều thích đến điều trị tại một bệnh viện như vậy.

Đã đến lúc các lãnh đạo của các hệ phái Tin lành nói chung phải biết chấp nhận sự đa dạng. Đức Chúa Trời sáng tạo ra sự đa dạng. Ngài cho phép mọi sự phát triển “tùy theo loại” chứ không phải duy nhất một loại (Sáng. 1:11-25). Chúng ta đừng chê bai chỉ trích thêm nữa. Hãy nhìn thấy những ưu điểm của nhau, hãy nói về những ưu điểm ấy bằng tình yêu và sự hiệp một. Khi thật sự yêu ai, thì chúng ta sẽ yêu luôn những cái xấu của người ấy nữa. Các hệ phái nên mời các Ms của các hệ phái khác đến giảng, dạy tại hệ phái của mình, mời nhau dự các buổi hội thảo, bồi linh, nghỉ hè, hay hiệp nguyện… (Tôi đang làm điều đó, chứ không phải nói suông trong bài này đâu!).

Ai thấy cầu nguyện cần phải vòng tay, thì cứ vòng tay. Ai thấy hát cần phải vỗ tay và nhảy múa, thì cứ vỗ tay và nhảy múa. Ai thấy giảng cần phải đứng yên nơi tòa giảng, thì cứ đứng yên. Ai thấy giảng cần phải đi qua đi lại, có nhiều động tác mạnh mẽ, hãy cứ làm như vậy, miễn là phải lẽ, phải phép và nhất là làm cho buổi thờ phượng Chúa vui tươi, phấn khởi, hấp dẫn và gây dựng nhau. Hãy nhìn vào Chúa, đừng nhìn những cử chỉ nhỏ nhặt ấy. Dầu có hai nhóm người (có ý tốt và có ý xấu) đang rao giảng về Chúa Giê-xu tại thành Philip, nhưng Phaolo nói là “ông mừng rỡ, và sẽ còn mừng rỡ nữa” vì cả hai đều rao giảng Đấng Christ (Philip 1:18). Rõ ràng Phaolo nhìn vào Chúa chứ không nhìn vào con người.

Đêm truyền giảng 21.4.2009 tại sân Tao Đàn là một đóm lửa nhỏ khởi đầu cho sự hiệp-một-trong-công-tác-truyền-giáo. Lần đầu tiên, sau hơn 20 năm các hệ phái Tin Lành tư gia có một kỳ cùng nhau cầu nguyện kiêng ăn, cùng nhau phục vụ trong đêm truyền giảng. Bản thân tôi đã tham gia vào ban cầu nguyện mấy ngày trước đó. Sáng 21.4 tôi lại tham gia công việc sắp ghế và lau ghế tại sân Tao Đàn cùng với các Ms và tín hữu trong nhiều hệ phái Tin Lành. Không ai trong chúng tôi nghĩ công việc này là việc của hệ phái mình. Mọi người đều làm công việc họ có thể làm để đêm truyền giảng thành công và danh Chúa vinh hiển.

Tôi ao ước trong những năm tới tất cả các hệ phái Tin Lành tại VN, truyền thống hay không truyền thống, tư cách pháp nhân hay không tư cách pháp nhân sẽ tổ chức được  nhiều đêm truyền giảng như vậy tại sân vận động Thống Nhất – Saigon, sân Mỹ Đình - Hà Nội, sân Chi Lăng – Đà nẵng. Có cơ hội cùng nhau làm việc, chúng ta sẽ xóa dần những dị biệt, những hiểu lầm. Đoàn kết, chung tay, chung lòng hướng về Chúa và 86,5 triệu dân VN.

Bảng so sánh Singapore, Hàn Quốc, Việt Nam

tt

Quốc gia

Dân số

Diện tích

% CĐN

Sắc tộc

Ngôn ngữ

Xã hội

1

Singapore

4,1 triệu

618 Km2

14,6%

4

8

Ổn định

2

Hàn Quốc

48,5 triệu

99.538Km2

38%

2

2

Bị chia cắt từ 1945 đến nay

3

Việt Nam

86,5 triệu

331.689Km2

2,3%

54

Đa dạng

Bị chia cắt từ 1954-1975

 

Nhìn bảng so sánh này chúng ta không thể kết luận nước nào thuận lợi hơn; nước nào khó khăn hơn. Đồng thời cũng không thể chọn một nước nào làm tiêu chuẩn để chúng ta có thể áp dụng trên quê hương chúng ta. Bởi vì, mỗi quốc gia có một bối cảnh đặc thù, trình độ dân trí và mức sống… rất phức tạp. Nhưng con số 2,3% làm tôi hổ thẹn trước mặt Chúa. Hàn Quốc (không kể Bắc Triều Tiên), dân số và diện tích kém xa chúng ta, nhưng tỉ lệ 38% CĐN, hơn chúng ta gần 20 lần, đất nước của họ đang bị chiến tranh. Singapore, dân số và diện tích kém hơn Tp HCM nhiều lần, nhưng họ có 14,6%CĐN. Có thể thấy sắc tộc và ngôn ngữ là khó khăn lớn của chúng ta so với Singapore và Hàn Quốc. Nhưng không phải, vì sắc tộc của chúng ta chỉ chiếm khoảng 14% mà thôi. Người Kinh chiếm 86%.

Điều gì ngăn trở chúng ta? Một câu hỏi chưa có lời giải đáp chính xác và đầy thuyết phục.

Tóm lại, theo cảm nhận chủ quan của tôi, ba điều gây trở ngại cho Tin Lành tại VN là: (1) Tính hội nhập không có, (2) Sợ hãi nên đánh mất quyền năng, (3) Thiếu Tình Yêu Thương và sự Hiệp Một.

Trên đây là ý kiến chủ quan của tôi. Ý kiến này không phải hoàn toàn đúng. Bởi vậy, tôi luôn trông đợi có một ngày nào đó trong tương lai không xa, các hệ phái Tin Lành tại VN phải ngồi lại để tìm hiểu một cách thấu đáo hơn, đầy đủ hơn và khách quan hơn về điều đã ngăn trở chúng ta. Tuổi của tôi năm nay là 58, tôi trông đợi để thấy ngày ấy, và tham dự trước khi về với Chúa.

Ms Nguyễn Quốc Ấn

PCT thứ I Liên Hữu Tin Lành Báp-tít Việt Nam

5. Phùng Chí Kiên. Tân Quý, Tân Phú, Tp HCM

Đt bàn: 3847.1252 - 08.2219.8661

Dđ: 0989.807051

Email: lanhuong51vn@yahoo.com

HẾT

 



[2] Wikipedia – Tiếng Việt

[3] BTG Chính Phủ. Tài liệu tập huấn về công tác đối với đạo Tin lành.. Năm 2008, tr.1

[4] Wikipedia – Tiếng Việt

[5] Lịch sử Hội Thánh  Tin Lành Việt Nam - Vietbible

[6] Tổng Cục Chính Trị. Tìm hiểu về Tôn Giáo, NXB Quân Đội Nhân Dân, tr. 54,55

[7] Kỷ thuộc Hán. Đại Việt Sử  ý Ngoại Kỷ Toàn  thư. Quyển 3

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by