You are hereVƯỢT SÓNG 7

VƯỢT SÓNG 7


By admin - Posted on 06 November 2008

CHẲNG ĐƯỢC CHI HẾT

Đức Chúa Jêsus phán rằng:Hỡi các con, không có chi ăn hết sao?"

Thưa Chúa, không. (Giăng 21:5)

 

Tôi tình nguyện đi kinh tế mới để được đổi đời. Từ có, tôi đã mất trắng; và từ không, tôi muốn có. Tôi muốn các con tôi được ăn no, mặc ấm, được học hành, được nên người. Tôi muốn được sống như con người, được ngẩng cao đầu lên, không cong khom, lòn cúi. Tôi muốn được bình đẳng trước mặt mọi người. Vậy mà …

Tôi đã tự lưu đày trên chính quê hương mình. Tôi thấy hụt hẩng, như người bị đắm thuyền giữa biển khơi, vớ được phao cứu sinh, mừng như được sinh ra lần thứ hai. Xì hơi, xẹp xuống, chìm!

Tình cảnh càng bi đát hơn, tương lai con cái mịt mù. Thầy cô giáo lương không đủ sống, bỏ về thành phố; đi phá rừng làm rẫy, học trò thiếu ăn, thiếu chữ. Điện đóm không có; báo chí, phương tiện truyền thanh, truyền hình cũng không. Quán cóc là nơi giải trí duy nhất với những ly đế khoai mì, và những tranh cãi tầm phào. Những người đàn bà tàn tạ, già nua trước tuổi, tay dắt, tay bồng những đứa trẻ xanh xao, vàng vọt, sốt rét vàng da, rụng tóc. Cơm gạo mốc độn khoai lang, khoai mì. Thịt cá là cao lương mỹ vị. Một chuyến đi về Sàigòn trên những chiếc xe đò chạy bằng than củi phải mất hai ngày một đêm cho 80 Km đường. Khởi hành từ sáng sớm, tới chiều mới đến Thủ Dầu Một. Ngủ gà, ngủ gật, nằm ngồi la liệt tại bến xe. Từ mờ sáng xếp hàng, giành chỗ, tranh nhau mua vé. Giành giật, xô đẩy, chửi lộn, đánh đấm, văng tục. Đi tiếp Sàigòn trên những chiếc xe buýt cà tàng, lộc cộc. Tìm thăm họ hàng, bè bạn, đói nghèo như nhau. Lao động tập thể, Trường huấn luyện siêu đẳng, đưa con người vào nề nếp, kỷ cương. Kẽng thức dậy, kẽng đi làm, kẽng tập hợp. Con người trở nên thuần hóa, sống như bầy đàn. No đủ chây lười, ương ngạnh; bụng đói dễ sai, dễ bảo. Lao động chính vào tổ, vào đội sản xuất. Người già, trẻ con vào rừng chặt cây, bứt lá thuốc nam đổi gạo, đổi muối. Đổ trọng, cam thảo, hà thủ ô, huyết rồng, chùm bao, xắt nhỏ, phơi khô. Cây nhà lá vườn, Đông y dược được mùa, lên hương. Dân nghèo có cơm, có cháo. Thanh niên khỏe mạnh lén lút phá rừng, hạ cây làm củi, hầm than. Người già, phụ nữ đi buôn, đem bán những giọt mồ hôi và cả máu của chồng, con họ. Hàng quốc cấm, tài nguyên quốc gia, từng bó củi, từng bao than ngụy trang, che giấu trên mui xe, trong thùng xe đó. Ném xuống đất. Tịch thu. Xử phạt. Khóc lóc, van xin, kêu trời, trách đất …

Vậy đó, tôi có khối óc, tôi có bàn tay, tôi có ý chí, tôi có quyết tâm. Tôi đã làm theo lý trí, tôi đã vẫy vùng, tôi đã lún xuống. Tôi nhìn con người, tôi tin vào tổ chức. Tôi đã thất bại. Ai sẽ cứu tôi? Ai?

Các con tôi không được cắp sách đến trường nữa. Đứa thì học xong cấp một, đứa thì mới ê a, đánh vần. Đứa lớn thì theo cha mẹ vào rừng, nhổ cỏ, bắt sâu. Đứa nhỏ thì ở nhà giữ em. Tập thể giải tán. Không còn gạo để nuôi cái đám chây lười, phá bỉnh nầy nữa. Tự túc cá thể, mạnh ai nấy lo cho người nấy. Tốt thôi. Người khỏe thì vô rừng làm rẫy. Neo đơn, yếu đuối thì ở nhà trồng lang, trồng mì. Tự do làm, tự do sống, còn gì bằng? Đó không phải là điều tôi mơ ước sao?

Vậy là ngày nầy sang ngày khác, khi mặt trời chưa ló dạng, vợ chồng con cái dắt díu nhau vào rừng, tay rựa, tay cuốc, khoai luộc, nước mát. Đi gieo mầm sống cho cơm no, áo ấm. Cứ vạch cỏ tranh, lau sậy mà đi. Đầu cổ, quần áo đẫm sương khuya. Mặt mày, tay chân rách da, chảy máu. Ngày nầy sang ngày khác, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Hết nắng lại mưa; hết mưa lại nắng. Thời gian qua đi, con người tàn tạ trong cuộc sống lầm than vô vọng. Những buổi trưa nghỉ tay giữa chốn hoang sơ thinh lặng, ngước mắt nhìn lên, trời cao, cao quá. Nhìn xuống con suối lờ đờ uốn khúc theo cánh rừng già xơ xác, tôi thấy sao tôi giống dân Do thái khi xưa quá. Ngồi bên mé sông Ba-by-lôn, nhớ lại Si-ôn, và khóc. Phải, vợ tôi khóc, và tôi cũng khóc. Nước mắt ắt hẳn sẽ làm vơi đi niềm đau, tủi hận. Trên đất ngoại bang làm sao họ có thể hát được bài ca của Đức Giê-hô-va? Phải, làm sao được? Vui sướng gì?

Nhưng tôi vẫn hát. Vợ tôi cũng hát. Các con tôi cũng hát. Nắm tay nhau cất tiếng hát. Trong thổn thức nghẹn ngào, với niềm tin và hi vọng, nương nhờ một quyền năng vô hạn, vô biên, không nhìn thấy, không sờ mó được. Như người độc hành trong sa mạc, tìm nơi núp gió và chỗ che bão táp. Tìm suối nước trong nơi đất khô hạn. Tìm bóng vầng đá lớn trong xứ mòn mỏi, tai ương.

Câu nhớ, câu quên. Giọt ngắn, giọt dài. Những bản Thánh ca mà trước kia hát chỉ để mà hát, mà ê a, trong các giờ nhóm thờ phượng và sinh hoạt tại nhà thờ, bây giờ sao nghe ấm áp lòng, thân thương quá. Như có bàn tay vô hình nắm lấy tay mình, dắt dìu qua suối, qua sông; như có tiếng ai trong cơn gió thoảng: Ta sẽ dìu dắt con trọn đời. Nghe lòng bình an quá!

Mồ hôi đổ xuống, nước mắt đổ xuống, đất vẫn khô cằn, chai cứng. Cỏ dại, gai góc, tật lê, nhiều hơn bông trái. Gieo nhiều, công sức cũng nhiều; gặt hái chẳng được bao nhiêu. Chán nản. Tôi quyết định không đi rừng làm rẫy nữa. Vợ tôi đồng ý. Sức người có hạn, đâu phải trâu bò, các con tôi vui lắm, tuổi thơ mà, líu lo hát, nức nẻ cười. Hồn nhiên, thơ ngây quá, chưa biết buồn, chưa biết lo.

  • Lo gì, bây. Chúa nuôi.

Ba tôi không những nhất trí mà còn kiên quyết nữa. Phải, Chúa nuôi. Trời sanh voi, trời sanh cỏ. Ông bà mình vẫn dạy thế. Một giọt sương, một cọng cỏ, như ngạn ngữ Trung hoa. Nhưng voi ăn cỏ, cỏ mọc tự nhiên, không gieo, không trồng. Còn người ăn khoai, ăn gạo, ăn bắp, phải gieo, phải trồng.

Vậy là cha cuốc, chồng cuốc, vợ cuốc. Mảnh đất thổ cư sau hè bỏ hoang bấy lâu vì lao động tập thể, bây giờ được khai phá để trồng khoai lang, khoai mì. Cỏ mọc mấp mé đầu người kín mít. Cỏ tranh mềm mại nhưng sắc bén như dao, làm rách da, rách thịt. Cỏ Mỹ thì bụi nào bụi nấy xùm xuề một người ôm không hết, cao nghệu. Cái gì? Tại sao là Mỹ? Bọn thực dân mới là kẻ thù của dân tộc, chúng cùng có ở đây nữa sao? Người ta nói quân đội Mỹ dùng máy bay phun thuốc khai hoang xuống những cánh đồng hoang, rồi rãi hột cỏ Mỹ xuống. Cây cối, cỏ dại, lau sậy héo úa, tàn lụi, và cỏ Mỹ mọc lên từng bụi, chen chúc, lấn át tất cả. Bông như cột cờ lau phất phới, theo gió bay khắp nơi, sanh sôi nẩy nở, bao la, bát ngát. Khi quân giải phóng hành quân qua những cánh đồng cỏ Mỹ, thì họ sẽ để lại lối đi. Từ trên cao máy bay Mỹ sẽ phát hiện và ném bom xuống. Đúng, sai, không biết, chỉ có điều rất rõ là loại cỏ nầy rất dễ diệt, cứ bứng lên từng bụi, phơi khô, đất. Dễ ợt. Sạch trơn. Vậy mà mừng hụt. Chỉ vài ngày thôi, mưa xuống, cỏ lại mọc lên từng bụi, chen kín, xanh dờn. Rõ là giặc. Ở đâu cũng có.

Cỏ tranh thì lại khác, chỉ cần một nhúm lửa thì cháy sạch cả cánh đồng, khỏe re. Sức mấy, đừng ham. Chỉ một đêm thôi, sáng sớm hôm sau thức dậy, cỏ non mọc đầy. Đúng là giặc cỏ. Phải mạnh tay mới được. Cuốc! Phải cuốc thôi. Đập đất vỡ ra, từng dề, từng nắm rễ. Chồng cuốc, vợ đập, các con nhặt rễ, đem rửa sạch, nấu nước, ngon và mát nữa, một công hai việc, tiện lợi đôi bề.

Trồng khoai lang thì phải cuốc đất, lên giồng. Trồng khoai mì thỉ khỏe hơn, cứ mua cây giống về, chặt từng khúc cỡ gang tay. Cuốc lỗ, bỏ xuống, lấp đất lại. Mưa xuống, dây lang mọc dài ra hai bên luống, lá xanh um. Cứ ngắt ngọn luộc làm rau xanh, chấm với nước tương, nước chao, ngon hết biết, Khoai lang chỉ hơn hai tháng là có thể ăn được rồi. Khoai mì thì lâu hơn, phải mất hơn năm tháng, củ mới đủ lớn. Nhổ cả bụi, bóc vỏ, rửa sạch, nấu chè, luộc, hầm. Ngày nầy sang ngày khác, khoai lang rồi lại khoai mì.

Quỉ tha, ma bắt, nghèo lại mắc cái eo. Ăn không no, mặc không đủ ấm, giờ lại giặc giả, binh đao. Khờ-me Đỏ lộng hành ở biên giới Tây Nam, cướp bóc, hãm hiếp dân lành. Phía Bắc thì người anh em quên tình quên nghĩa, kéo quân xâm lấn, phá hoại hoa màu, đầu độc nguồn nước.

Đói lại càng đói hơn. Gạo không còn được tự do lưu thông, buôn bán nữa. Gạo, món ăn chính đã trở thành quốc cấm. Đi đường mang theo vài ký là bị tịch thu. Dân chúng kêu ca, Nhà Nước ra tay cứu đói. Phải vậy chớ, chánh quyền của giai cấp vô sản mà, không thể để dân đói được. Không gạo thì cao lương đỏ, xam xám, gọi nôm na là bo-bo cho dễ nhớ. Có người xấu miệng nói ở Trung quốc dùng cho ngựa ăn. Thật hư thì không biết, nấu hoài không chín, dẽo quẹo như cao su. Đói thì ăn, không mất tiền mua, ăn cho no cái bụng, cho đau cái dạ dày, loét bao tử, ói ra mật, ôm bụng kêu la. Thuốc thang không có, chỉ có nghệ rừng, cứ đào lên, rửa sạch, giả nhỏ, ăn sống, uống khô. Không hết thì vô rừng chặt cây, hái lá, đào củ. Rừng vàng, bể bạc, đem về làm thuốc. Uống ngày nầy sang ngày khác, không hết bệnh nầy cũng đỡ bệnh kia. Của trời thiếu gì. Đã nói trời sanh voi sanh cỏ mà.

Ăn cao lương riết rồi cũng ngán. Dân Do thái giữa đồng vắng ăn ma-na ngày nầy sang ngày khác cũng ngán. Họ thèm ăn củ hành, củ kiệu Ai Cập. Dân kinh tế mới cũng thèm cơm, nhớ nếp. Dân Do thái thèm thit thì được ăn thịt chim cút no nê. Dân kinh tế mới thì không được vậy, nhóm nhỏ Tin Lành cũng không. Mục sư Hạ, Mục sư Thành, biến đâu mất. Quý vị lãnh đạo thì ở xa quá. Tủi thân, có người nói đem con bỏ chợ. Trách chi. Con người sống không phải bằng bánh.

Dân địa phương bám trụ, giữ đất, giữ rừng, thì đỡ hơn. Họ có ruộng nước dọc theo hai bờ suối. Họ trồng lúa nước và ăn gạo trắng. Họ phá rừng, tỉa đậu xanh, đậu phọng. Họ thuê dân kinh tế mới làm cỏ, tỉa đậu. Họ trả công bằng những lon gạo thơm mùi lúa mới – nỗi thèm thuồng của trẻ nhỏ và cả cha mẹ chúng.

Tối thứ bảy. Cả nhà đã lên giường ngủ sớm. Sáng mai có giờ thờ phượng Chúa. Bỗng có tiếng gọi. Một người dân địa phương đến thuê chúng tôi đi làm cỏ. Anh cần dảy cỏ để tỉa đậu. Mừng quá, tôi nhận lời ngay. Anh đưa cho chúng tôi ba lon gạo. Tiền công cho một ngày lao động. Sáng mai, tôi và đứa con trai lớn của tôi sẽ đi làm cỏ. Nhưng sáng mai là Chúa nhật, ngày nghỉ công việc thường lệ, con dân của Chúa nhóm họp thờ phượng Chúa. Tôi phụ trách giờ học Trường Chúa nhật cho người lớn vào buổi sáng, và lớp thiếu niên, nhi đồng, vào buổi chiều. Mặc. Tôi phải đi kiếm cơm, lo cho cái bụng trước đã. Ai đó sẽ phải làm thay tôi. Tôi đâu có lãnh lương. Tôi không phải là Mục sư, Truyền Đạo. Thầy Cô Truyền Đạo Phan Quang Vũ chịu đựng không thấu cảnh làm dâu trăm họ, giặc trong giặc ngoài, bỏ về Sàigòn từ lâu. Còn Thầy Cô Truyền Đạo Trần Trí Lương thì vô tư. Cô đi làm thủ quỹ Hợp tác xã, dư ăn, dư mặc. Thầy hả hê vuốt râu, nghễnh mặt nhìn trời. Không phải việc của họ, vậy thì, cũng không phải việc của tôi.

Vợ tôi dậy thật sớm để nấu cơm. Mùi thơm của gạo mới ngọt ngào làm sao. Các con tôi sẽ vui mừng biết mấy khi được mẹ trao cho mỗi đứa một chén cơm nóng hổi. Vợ tôi bới đầy một lon guigoz và một bịch đậu phọng rang muối. Thèm đến chảy nước bọt. Không được. Để dành cho buổi trưa ngoài rẫy.

Hai cha con tôi ra khỏi nhà khi trời còn tối, đầy sương, trong tiếng kêu uênh oang của ễnh ương, ếch nhái. Tay cuốc, tay rựa, chúng tôi vạch cỏ tranh, vạch sậy mà đi. Đầu tóc, quần áo ướt đẫm sương mai. Quanh quất hết đám rẫy nầy đến đám rẫy khác. Mặt trời ló dạng, lên cao, cao cho đến đỉnh đầu. Cha con tôi cứ lội dọc, lội ngang, đi tới đi lui. Đâu rồi? Sao lạ vậy? Miếng rẫy quá quen thuộc mà năm nào cha con tôi cũng được mướn làm cỏ, tỉa đậu. Bây giờ biến đâu mất, tìm hoài không thấy. Hết ngó xuống, lại ngó lên. Hết nhìn dọc, lại nhìn ngang. Rừng già, rừng thưa, rẫy mới, rẫy cũ, không một bóng người để hỏi thăm. Tìm hoài không thấy được cái cần tìm.

Mệt nhoài, đi hết nổi, hai cha con ngồi bệt xuống đất. Đói và khát. Ăn hết phần cơm trưa, uống cạn bình nước mát. Khỏe rồi, đi tiếp. Đi dong, đi dài, như nàng A-ga trong đồng vắng. Đi mà không biết mình đi đâu.

Chiều. Mặt trời ở rừng đi ngủ sớm. Về thôi. Đã xong một ngày công cóc. Buồn chán. Cha con tôi vác cuốc, vác rựa thất thểu đi về. Con đường quen thuộc bỗng như dài ra. Đi hoài không đến. Đói, khát. Hai chân rã rời, mồ hôi ướt đẫm. Hoa cả mắt, cả tai. Chúng tôi ngồi xuống nghỉ chân. Nhắm mắt lại cho quên sầu, quên lo. Ngày mai sẽ đói. Phải đi làm bù không công. Ngày kia, ngày kia nữa, sẽ ăn gì? Mặc gì? Đói lạnh. Tại sao? Tại ai? Tôi thấy mình bất lực. Tôi tự trách mình ngu dại. Tôi nguyền rủa tôi. Tôi chợt ngộ ra, tôi nhờ cậy loài người, những con người thở bằng lỗ mũi. Hơi thở mất đi, trở về bụi tro. Tôi nhờ cậy sức lực của tôi. Ôi, nhỏ nhoi, yếu đuối dường nào. Như cỏ dại, hoa rừng, như sương buổi sáng, như mây buỏi chiều. Làm sao có thể sinh tồn trong kiếp đọa đày nầy?

Tứ bề yên lặng, chỉ nghe tiếng chim gọi đàn, tiếng gà rừng gáy ngủ, nghe buồn man mác. Tôi thiếp đi lúc nào không biết. Có lẽ say sưa lắm trong giấc ngủ êm đềm. Bỗng tôi giật mình thức giấc, ai đó khẻ lay tôi dậy. Ô, kìa, người chủ miếng rẫy. Anh đang đứng tại gốc cây cổ thụ, mà hai cha con tôi đã ngồi ăn trưa. Đó là miếng rẫy mà hai cha con tôi đã nhọc công tìm kiếm suốt cả ngày.

Tìm mà không gặp, thấy mà không nhận ra. Tôi đứng lên, đập đầu, vỗ trán, mắt tôi mở ra. Không, không phải anh nông dân trong bộ đồ bà ba đen quen mặt. Trước mắt tôi là một người xa lạ, chưa từng gặp, nhưng sao gần gũi quá. Không thể lầm lẫn được, tóc xõa dài, khoác tấm vải choàng màu huyết dụ. Lạ mà quen. Người đứng đó, sừng sững trước mặt tôi, oai nghiêm nhưng hiền hòa. Mắt người nhìn thẳng vào mắt tôi. Lạnh cả người, mọc gai óc. Tôi nhìn sang chỗ khác, cúi đầu lách người lẫn tránh. Vô ích. Đôi cánh tay người giang ra, ôm hai cha con tôi lại. Ôi, ấm áp làm sao. Vòng tay, ánh mắt. Tôi tựa đầu vào ngực người như thuở nhỏ rút đầu vào ngực mẹ, tìm nơi nương tựa, ngất ngây, no say, với dòng sữa nóng của mẹ hiền.

Trên tay người có ổ bánh nướng tròn vo. Tôi đã có lần nhìn thấy trên bãi biển Ti-bê-ri-át. Người bẻ ổ bánh ra làm hai, chia cho hai cha con tôi mỗi người một nửa. Tôi đưa tay nhận lãnh. Chợt thấy dấu đinh trên bàn tay người, dấu đinh tròn có hình thập giá. Trên cả bàn chân trần và tôi lại nghe tiếng của ai đó giữa chốn rừng sâu, nhẹ như gió thoảng, như hương hoa rừng, cỏ dại, sắc như cỏ tranh, như gai mây rừng. Nghe lần đầu nhưng sao quen tai quá:

  • Hỡi các con, không có chi ăn hết sao?”

  • Không. Lạy Chúa. Chẳng được chi hết...”

 

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 2 guests online.

Hosting by