You are hereCĐTT002 Được Kêu Gọi

CĐTT002 Được Kêu Gọi


By admin - Posted on 20 June 2008


ĐƯỢC KÊU GỌI

Mỗi người có một ước mơ.

Tôi cũng có ước mơ. Ước mơ của tôi là sẽ làm một Bác sĩ, hoặc một Giáo sư, nghĩa là một người chữa bịnh hoặc một người dạy học.

Chiều nay, chiều Chúa nhật 5 tháng 12 năm 1965, Mục sư Earl Freeland từ Mỹ qua được mời giảng cho Ban Thanh niên Hội Thánh tại Cần thơ chúng tôi. Lâu rồi Ban Thanh niên chúng tôi mới có một buổi nhóm rộn rịp như thế. Dĩ nhiên, buổi nhóm không chỉ dành riêng cho Thanh niên, mà có nhiều tín đồ lớn tuổi cùng tham dự.

Bài giảng của Mục sư Freeland chiều nay ở trong sách Tin Lành Mác 8:34, với đề tài: “Đức Chúa Trời có Một Lời Thách Đố”. Tôi không nhớ diễn giả đã giảng điều gì và bao lâu, nhưng thình lình tôi nghe ông nói lớn lên: If any, any, any  man... Người thông dịch là Giáo sĩ David Douglas đã mau lẹ dịch: Nếu một người , một người, một người nào... bằng lòng nhận lời thách đố của Đức Chúa Trời, vác thập tự giá theo Chúa,  Rồi diễn giả kêu gọi ai bằng lòng nhận lời thách đố của Đức Chúa Trời hãy bước lên phía tòa giảng. Môt vài Thanh niên đứng lên và tiến về phía trước. Tôi đứng lên, ngay lúc ấy có những câu hỏi vang lên trong đầu tôi: Thế thì tương lai với những ước mơ làm sao ? Mẹ và các em sẽ thế nào, nếu tôi đi hầu việc Chúa ? Có một sự giằng co trong tâm trí tôi, và tôi ngồi xuống. Tôi không thể nhận lời thách đố của Đức Chúa Trời được.

Tối nay, Mục sư Freeland tiếp tục giảng Lời Chúa trong sách Tiên tri Ê-sai 43:1-5. Dường như Chúa dùng Mục sư Freeland giảng cho cá nhân tôi. Những sự tranh chiến trong buổi chiều được Chúa trả lời qua Sứ điệp tối nay: Chúa hứa nếu người nào nhận lời thách đố của Đức Chúa Trời thì Chúa sẽ dắt dẫn người ấy vượt qua nước chẳng bị hại, vượt qua lửa sẽ chẳng bị cháy. Tiếng của diễn giả nhấn mạnh: Vì ta đã yêu ngươi ... Đừng sợ, vì ta ở cùng ngươi.

Trước sự bảo đảm của Chúa, tôi đã đầu phục Ngài, quyết định nhận lời thách đố của Đức Chúa Trời vác thập tự theo Chúa.

Đến tối thứ hai, ngày 6 tháng 12 năm 1965, Mục sư Freeland đã giảng bài thứ ba với Lời Chúa trong Giô-suê 6, diễn giả đã nêu ra lời hứa của Chúa: Nếu người nào nhận lời thách đố của Đức Chúa Trời, Chúa sẽ ban cho người đó quyền năng như đã ban cho Giô-suê, phá được tường thành Giê-ri-cô. Còn lời hứa nào khích lệ tôi hơn !?

Thế là tháng 9 năm 1966, tôi từ giã Hội Thánh quê nhà tại Cần thơ lên đường đi học Lời Chúa tại Thánh Kinh Thần Học Viện ở Nha-trang. Tâm trạng của tôi lúc bấy giờ giống như nhà thơ Thâm Tâm đã diễn tả trong bài Tống Biệt Hành:

Đưa người, không đưa sang sông,
Sao nghe như có tiếng sóng vỗ trong lòng.
……………...
Chí lớn chưa về bàn tay không ,
Thì ba năm mẹ già cũng đừng mong.
Mẹ thà xem như chiếc lá vàng bay,
Chị thà xem như hạt bụi,
Em thà xem như giọt rượu say.
Hoặc như những dòng thơ khác:
Ai ra đi mà không từng bịn rịn,
Rời yêu thương hồ dễ mấy ai quên.
Tôi mạnh bước mà nghe lòng như nhỏ lệ.

Kỷ niệm cảm động nhất cho tôi là giờ từ giã các em Thiếu nhi mà tôi đã phụ trách thời gian qua với tư cách là Phó Trưởng Ban Thiếu nhi. Tôi nói mấy lời và cùng các em diễn một vở kịch vui ngắn. Sau đó, không biết bằng cách nào, chị Trưởng Ban Võ thị Lang đã trao cho tôi số tiền 500 đồng của các em quyên góp giúp tôi đi học Lời Chúa. Một số tiền mà bao năm qua chưa bao giờ có trong ngân quỹ của Thiếu nhi. Tôi đã trân trọng tờ giấy bạc 500 đồng đó đến lúc cuối cùng phải chi ra đóng tiền cơm không còn có thể trì hưỡn nữa tại Thần Học Viện.

Con đường từ Sàigòn ra Nhatrang phải đi bằng máy bay, vì đường bộ rất nguy hiểm, có thể xảy ra đấp mô, nổ mìn, đánh nhau. Ngay cả con đường từ Cần thơ lên Sàigòn mà chúng tôi vừa đi qua cũng vừa xảy ra cuộc chiến đẫm máu, rất nhiều người chết khi bỏ xe nhảy xuống hai bên đường tránh đạn, bất ngờ những quả lựu đạn gài sẵn được kích nổ. Trên xe cũng chết vì đạn bắn nhau do những người phục kích hai bên đường; dưới đường cũng chết vì chất nổ được cài đặt trước. Trong số những người gặp nạn, có hai tín đồ người Thượng vừa mãn khóa Thánh Kinh Tiểu Học Đường với chúng tôi ra về. Chúa đã bảo vệ mạng sống hai anh em bằng cách cho hai anh em nằm im dưới những xác người ngã chết phía trên.

Chiến tranh thật ghê sợ !

Vài ngày sau, khi chúng tôi đi ngang qua đoạn đường nầy, người ta chỉ những vết máu còn dính trên cành cây ngọn cỏ, ven đường.

Không còn cách nào khác, dù tiền vé máy bay rất đắt, tiền có được thì ít. Tất cả đều phải đi máy bay. Chúng tôi ra sân bay chờ khởi hành lúc 8 giờ 30 sáng, nhưng ngồi đợi mỏi mòn đến hơn 8 giờ tối mới có máy bay, và đến Thần Học Viện lúc gần 10 giờ đêm.

Xe vừa tới Viện, chúng tôi được lịnh xuống phòng ăn để ăn ngay, vì đã quá trễ. Thật không còn lời nào hay cho bằng, chúng tôi đã nhịn đói, nhịn khát từ 8 giờ sáng đến hơn 10 giờ tối. Nhưng đi gần tới phòng ăn, tôi đã ngửi được mùi tanh của cá biển bốc ra từ phòng ăn. Theo quan niệm của gia đình người Miền Nam là ăn cá biển bị 'động phong', nên tôi chưa bao giờ ăn cá biển. Bây giờ trước mặt tôi là một khứa cá ngừ kho nước mắm trong với vài lát ớt, không màu, không gia vị, bên cạnh là tô canh chua cá đuối mà nước nhiều gấp mấy lần cá. Ngoài ra còn có một miếng đậu hũ chiên cắt làm tư và một chén nước mắm trong. Tội tưởng chừng nhớt cá chảy theo đôi đũa gắp lên. Tất cả đã nguội lạnh, kể cả tô cơm nhão nhoẹt - tôi nhớ câu 'cơm sống cơm thảo, cơm nhão cơm hà tiện'.

Tôi không thể nào ăn được thức ăn tại Thần Học Viện, cũng có một số ít anh em khác giống như vậy. Chúng tôi phải tìm cách gởi mua đồ hộp của quân đội Hoa Kỳ bán ngoài chợ thay thức ăn trong Viện không ăn được. Dĩ nhiên, đó chỉ là giải pháp tình thế, vì túi tiền có hạn và cơ hội đi mua cũng rất khó ra khỏi Viện. Làm sao ?

Sáng nay có giờ của môn học 'Kinh Nghiệm Truyền Đạo' do Mục sư Trần văn Đệ dạy. Mục sư Đệ thuật cho lớp chúng tôi nghe những ngày đầu chức vụ của ông tại Hà-nội. Ông cho biết là khi còn ở nhà, ông là con một, gia đình lại giàu, nên tất cả vật dùng của ông đều được để riêng , rất sạch sẽ, sạch từ cái khăn, cái chén ăn cơm, đôi đũa ...

Khi ra hầu việc Chúa, một hôm ông đạp xe về miền quê thăm viếng. Trời trưa nắng, mồ hôi nhuễ nhại. Đến nơi cần thăm, người tín đồ đang ở dưới ruộng nhìn thấy Mục sư, hết sức là mừng rỡ: “Chào Thầy đến chơi ạ !” Người tín đồ rối rít lấy tay phác nước dưới ruộng rửa mặt, rửa tay chân đang dính bùn đất, rồi rút chiếc khăn đang quấn trên đầu vừa lau mặt, lau tay, lau mồ hôi, vừa đi vào nhà.

Sau khi phân ngôi chủ khách, người tín đồ vói tay lên chiếc kệ sau lưng lấy xuống bộ tách trà nhỏ. Chắc chắn bộ tách trà nầy lâu ngày không dùng đến, nên đóng bụi. Người tín đồ dùng chiếc khăn lúc rồi lau mặt, lau tay, bây giờ lau bộ tách trà. Khi được mời chén trà, Mục sư Đệ nhìn thấy một vành cổ trầu khô bám quanh miệng tách, Mục sư cũng nhớ đến chiếc khăn lau, và Mục sư bình tĩnh uống. Sáng mai thức dậy, người tín đồ ríu rít chạy ra cái ao trước sân, dùng chậu phả phả nước dưới ao rồi múc lên: 'Mời Thầy rửa mặt ạ”. Mục sư Đệ nhớ nơi cái ao đó từ chiều hôm qua, cả nhà tắm, giặt, rửa, tất cả đều ở tại cái ao. Bây giờ ông dùng nước đó rửa mặt ...

Tôi đã khóc ! Tôi biết Chúa yêu thương tôi, dùng Mục sư Đệ dạy tôi. Tôi mới bắt đầu học vác thập tự theo Chúa, những món ăn nơi nhà bếp Thần Học Viện có đáng kể gì đâu. Tôi ăn năn với Chúa và Chúa đã ban ơn cho tôi vượt qua những ngày học cách tự bỏ mình đi, vác thập tự giá mình theo Chúa.

Thánh Kinh Thần Học Viện ở trên ngọn đồi cao nhìn ra biển Đông, chiếm một vị trí đặc biệt, có tên là Hòn Chồng, một thắng cảnh của Nhatrang. Nghe nói Thần Học Viện được xây dựng phần lớn do tiền của Bà Giáo sĩ Revelle dâng từ phần sản nghiệp được chia gia tài tại Hoa Kỳ. Nghe nói lúc mua vùng đất nầy của một người Pháp về nước, Hội Thánh cũng gặp rất nhiều ngăn trở từ các Tu Viện Công Giáo Lamã chung quanh, họ không muốn Hội Thánh Tin Lành chiếm một địa điểm loại thắng cảnh quan trọng như Hòn Chồng. Họ đã áp lực với Tổng Thống Ngô Đình Diệm - một vị Tổng Thống theo Công Giáo Lamã, cuối cùng Chúa cho Hội Thánh cũng mua được cách hợp pháp, chỉ phải chấp nhận nhượng phần Hòn Chồng làm tài sản quốc gia.

Mục sư Duy Cách Lâm - một Mục sư gốc người Pháp, đã chỉ huy việc xây dựng, cho san bằng một phần ngọn đồi, cất Viện Thần Học trên đồi. Thật là một kỳ công !

Cảnh quang thật đẹp ! Những đêm có trăng, nhìn ra biển với cảnh trăng lên, đẹp không có bút mực nào tả xiết. Hoặc những đêm rất nhiều tàu đánh cá hay câu mực đốt đèn măn-xông quay quần, giống như hội hoa đăng ngoài biển.

Chắc chắn Thần Học Viện không phải là Thiên đàng, người sống nơi đó cũng không phải là thiên thần, có khi người ta bắt gặp những thiên thần đen chen vào. Dù vậy, có biết bao kỷ niệm làm cho đời sống thuộc linh của những người đến học được lớn lên. Ngoài việc học Lời Chúa, còn có những hoạt động chứng đạo, dạy Thiếu nhi trong những nhà tín đồ trong thành phố Nhatrang hoặc xa hơn nữa như Lương sơn, Phước Hải, những giờ cầu nguyện sáng sớm, chiều tối, đầu tháng; có những buổi thuyết trình truyền giáo, giờ sinh hoạt thể thao.

Tôi không biết rõ Thần Học Viện sống bằng cách nào ngoài một phần do Hội Truyền giáo trợ giúp, một phần từ các Hội Thánh trong nước quyên góp vào Chúa nhật trong tháng 9 hằng năm, từ các ân nhân ... Các sinh viên chúng tôi cũng có những thì giờ cuối tuần đi hát tại các nhà thờ Tuyên Úy quân đội Hoa Kỳ, Đại Hàn, có khi đi tận Qui nhơn, Phan-rang, Cam-ranh. Sau khi hát, chúng tôi làm chứng về ơn Chúa tại Thần Học Viện, rồi Hội Thánh tại đó lấy tiền dâng giúp Viện.

Tết Mậu Thân là một chứng tích Chúa tiếp trợ lạ lùng cho Thần Học Viện. Một số anh em trong Viện đã xin phép về quê ăn Tết, còn lại trên một trăm người. Không ai trong chúng tôi hay biết tiếng súng nổ đêm giao thừa Mậu Thân diễn ra ngoài thành phố Nha-trang và các nơi trong nước, chúng tôi chỉ nghĩ là tiếng pháo, hoặc tiếng súng đón giao thừa. Chiến tranh trong thành phố đã xảy ra. Không có điện ! Không có điện đồng nghĩa với không có nước, vì máy bơm từ dươi chân đồi không thể hoạt động.

Ba ngày đầu Xuân chúng tôi được ăn uống thật ngon theo thông lệ mỗi năm, vào ba ngày Tết, Ban Giáo sư chi tiền để các cô đang học phụ trách nấu ăn đặc biệt. Qua ngày Mùng Bốn Tết thì Viện thông báo vì tình hình chiến cuộc, thành phố giới nghiêm, các chợ đều không họp được, không ai mua bán, nhà bếp không thể mua thức ăn được. Xin cầu nguyện !

Đang lúc nguy cấp như vậy, Đức Chúa Trời sai một chiếc xe kéo một container dài của quân đội Hoa Kỳ đang đóng trong Tỉnh chạy vào Viện tìm gặp Giáo sư Sutherland. Người Mỹ lái xe nói rằng đơn vị của ông nhận được lời yêu cầu giúp đỡ Hội Thánh Tin Lành do có một số tín đồ bị nạn chiến tranh cần thức ăn. Ông ấy đã lái xe chạy khắp các nhà thờ thành phố, nhưng không ai nhận đã yêu cầu cả, cũng không có tín đồ nào bị nạn. Cuối cùng ông nhớ đến Giáo sư Sutherland là người thường liên lạc với đơn vị của ông, nên ông chở tới Viện hỏi có xin thực phẩm không ? Nếu có thì vui lòng nhận, nếu không cũng xin nhận giúp vì ông không thể chở về đơn vị hàng đã xuất kho. Câu trả lời của Ban Giáo sư là không có xin, nhưng Thần Học Viện hiện có trên một trăm sinh viên rất cần thức ăn, nên xin nhận và nếu sau nầy có tín đồ nào cần, Viện sẽ chia cho họ. Người lái xe quá vui mừng vì giải quyết được gánh nặng; còn cả Viện vui mừng vì Đức Chúa Trời đã tiếp trợ một container thực phẩm gồm súc-xích và thịt ba-rọi (bacon). Nói đến đây, tôi phải cảm phục tài nấu nướng của nhà bếp, sau một hai ngày đầu ăn súc-xích phủ phê, nào hấp, nào nướng. Đến hai hôm sau ai ngửi mùi cũng đã ngán quá. Bất ngờ, nhà bếp dùng súc-xích băm ra cuộn bánh tráng, lấy thịt ba-rọi thắng mỡ, thế là chúng tôi lại được ăn món chả giò thơm ngon.

Vấn đề nước. Cảm ơn Chúa cho anh em trong Viện, những người khỏe mạnh thay nhau gánh nước từ giếng dưới đồi chuyền lên nhà bếp, và chỉ ưu tiên cho nhà bếp nấu ăn, mọi sinh hoạt tắm, giặt, đều ngưng vì không có nước sinh hoạt, tình hình vệ sinh rất tồi tệ. Cảm ơn Chúa dự bị có Chẩn Y Viện Tin Lành dưới chân đồi Thần Học Viện cần có điện và nước để giải phẫu và trị bịnh, nên Đức Chúa Trời đã sai quân đội Hoa Kỳ chở đến một máy phát điện thật to, đủ sức cung cấp điện cho Chẩn Y Viện lẫn bơm nước cho Thần Học Viện. Thật là một phép lạ, một quang cảnh vui mừng tràn ngập Viện khi dòng nước chảy vào các nơi tắm giặt.

Gạo thì sao ? Tình trạng giới nghiêm căng thẳng chưa biết khi nào chấm dứt, nên không chỉ Thần Học Viện cần gạo, mà còn có Chẩn Y Viện, Cô-nhi Viện Tin Lành nữa. Cảm ơn Chúa cho Mục sư Lê-văn-Thái (Giám đốc Cô-nhi Viện), Mục sư Ông-văn Huyên (Viện Trưởng Thần Học Viện) và Mục sư Phan Sĩ Kiểm (Chủ tọa Hội Thánh Tin Lành tại Nha-trang), cùng đến gặp Thiếu Tướng Đoàn văn Quảng là Tổng Trấn Nha-trang, có phu nhân là tín đồ Tin Lành. Thiếu Tướng đã sẵn sàng cấp một giấy phép đi lại trong giờ giới nghiêm cho ba vị Mục sư, đồng thời cho phép mua gạo đem về Viện cũng như cho hai cơ quan kia.

Tôi không biết có bao nhiêu người còn nhớ phép lạ nầy, cá nhân tôi chưa từng nghe ai nhắc đến. Tôi ghi lại kỷ niệm nầy để còn có người cảm tạ Chúa ngày sau.

Ngày Ban Tốt Nghiệp chúng tôi ra Trường, chúng tôi được Ban Giáo sư người Mỹ mời ăn bữa ăn truyền thống của các Giáo-sư Mỹ đãi Ban Tốt Nghiệp. Chúng tôi thật ái ngại khi phải sử dụng dao, nĩa, và ăn thức ăn của người Mỹ gồm bánh mì kẹp thịt với phô-mai, trứng, dạng Hamburger, dĩ nhiên là không có nước mắm, chỉ có muối và tiêu.

Sau khi ăn, bà Giáo sĩ David Douglas kể chuyện vui: Có một vị vua mời các quan của mình đến ăn chung. Khi các quan bước vào bàn ăn, nhìn thấy tất cả đồ dùng bằng vàng hoặc bằng bạc quá sang trọng, và để giữ lễ với vua, các quan cứ nhìn vua ăn thế nào họ làm theo như vậy. Vua để ý thấy các quan cứ bắt chước theo hành động của vua. Đến một món ăn phải dùng tay bốc, người hầu bưng ra cho vua một chén nước, vua nhúng đầu ngón tay vào rửa sơ, rồi bưng chén nước che miệng uống (thực sự là không uống). Sau đó vua nhìn thấy các quan cũng nhúng tay rửa và uống hết chén nước mà họ đã rửa tay.

Câu chuyện thật vui, ai nấy cùng cười. Tôi cũng cười và nói: 'Bà Giáo sư nói chuyện về chúng ta đấy, vì từ đầu bữa ăn, chúng ta cứ nhìn cách Giáo sư ăn mà làm theo'. Lòng tôi nghĩ, nếu Hội Thánh Tin Lành Việt-nam cứ đi theo lối mòn các Giáo sĩ đã vạch, không có hướng riêng, thì một ngày nào đó cũng phải uống chén nước rửa tay.


Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by