You are hereKẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ (Chương I)

KẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ (Chương I)


By admin - Posted on 20 January 2011

Tôi viết một truyện về người hầu việc Chúa để khích lệ thế hệ đi sau phục sự Chúa, hình ảnh phục vụ Chúa phải học theo chính là Phao-lô. Tôi gởi lời nầy cho thế hệ đi sau: Nếu các vị muốn hầu việc Chúa như gương của Chú Jêsus và như Phao-lô thì hãy đi; nhưng nếu các vị muốn làm một người hầu việc Chúa như các vị thấy thì đừng đi, vì thế giới đã thặng dư rồi. Xin Chúa kêu gọi nhiều người trẻ dấn thân!

 

KẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ
CHƯƠNG I
********************
HỘT GIỐNG CHẾT ĐI

 

Đời người như chiếc lá
Nằm trong cơn gió vô tình

 

Tôi đứng nhìn những hòn đá bay tới tấp đập vào người của tên Ê-tiên trong lúc một ý tưởng trào lên trong tôi: Tên đó thật đáng chết! Tên Ê-tiên đó mới vừa bị toàn người do tôi ra lịnh kéo từ Hội Đồng Quốc gia ra bãi đất trống nầy cho họ ném đá. Tên đó đã dám theo người tên Jêsus, tôn là Đấng Cứu Thế, là Con Đức Chúa Trời, rõ ràng là chống lại lời dạy của các Ra-bi trong đạo truyền thống của người Y-sơ-ra-ên chúng ta.

Tôi thấy tên Ê-tiên đó hai tay ôm lấy đầu cố tránh những hòn đá đập vào, gục xuống giữa hai chân như một tư thế cầu nguyện, hắn nói gì đó mà tôi nghe như đang kêu cầu thầy của hắn là Jêsus tiếp lấy linh hồn hắn.

 

Cơn giận bùng lên trong tôi, tôi hét lên: Ném mạnh vào, ném nhiều vào!

 

Thình lình tôi thấy tên Ê-tiên đó chồm lên, mặt ngước nhìn lên trời, hai tay đưa cao cất giọng nói lớn: Tôi thấy các từng trời mở ra. Tôi thấy Chúa Jêsus Christ đứng bên hữu Đức Chúa Trời…

 

Thật là phạm thượng! Thật là báng bổ! Hắn dám nói thấy thầy của hắn bên hữu Đức Chúa Trời, hắn muốn nói thầy của hắn là Đức Chúa Trời. Ngay lúc ấy, bao nhiêu hòn đá của những kẻ đang bao chung quanh với mắt trợn, răng nghiến ném tập trung vào đầu của hắn, hắn gục xuống, lần nầy hắn không còn đủ sức đưa tay ôm đầu nữa, máu từ đầu của hắn tràn ra phủ khắp mặt, chảy xuống thân thể hắn hòa với dòng máu trong thân thế hắn từ từ lan ra mặt đất quanh hắn. Tôi bật cười thật to, lòng hả hê vì tiêu diệt được một tên đứng đầu nhóm lãnh đạo mà những kẻ theo Jêsus vừa bầu lên.

 

Tiếng cười của tôi chợt ngưng. Hắn vừa nói gì đó? Tôi túm lấy một tên lính hầu cận đang đứng gần tôi và quát hỏi:

  • Hắn vừa nói gì?

 

Tên lính đứng gần bên tôi vừa run vừa nói: Dạ, dạ…, hắn nói: Lạy Chúa,xin đừng đổ tội này cho họ.

 

Có một cái gì đó vang vang trong trí nhớ của tôi… Có một âm vang gì đó giống như câu mà tên Ê-tiên vừa nói mà tôi nghe quen thuộc lắm, cũng trong bối cảnh hành hình như hôm nay. Không lẽ…? không lẽ…?

 

Một khúc phim trong bộ nhớ của tôi chiếu lại, đó là một buổi chiều cách đây độ ba tháng… À, đó là lời của Jêsus mà tên Ê-tiên tin là Đấng Cứu thế đã thốt lên khi bị bọn lính La Mã đóng đinh trên cây thập tự. Không thể tin được! Trong khi Jêsus đó bị hành hình, bị đánh đập, bị sỉ nhục, bị đóng những mũi đinh vào thân thể bằng xương bằng thịt đau đớn, bị chê cười châm chọc, bị những mũi gai nhọn đâm nát đầu, vậy mà giờ phút cuối trước khi trút linh hồn cũng ngước mắt lên trời, miệng cũng nói: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì.

 

Gần ba tháng qua, tiếng nói tha thứ đó cứ vang dội trong đầu óc tôi, bây giờ tên Ê-tiên nầy cũng bắt chước thầy của hắn nữa. Lòng tôi thắc mắc: Bộ mấy người nầy không biết hận thù sao? Tai sao? … Tại sao?...

 

Có tiếng nói của ai đó làm cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi,

  • Thưa thủ lãnh, tên Ê-tiên đã chết, một trong những tên lính hầu cận của tôi báo cáo.

 

Tôi nhìn vào đống thịt bầy nhầy nhuộm máu chen lẫn giữa đống đá và quát lớn:

  • Y sĩ Luca đâu? Ra khám nghiệm xem hắn chết thật hay chưa.

 

Từ đám đông ồn ào có một người tay cầm một chiếc thùng gỗ nhỏ bước ra và tiến về phía tử tội vừa bị hành hình bằng cách ném đá. Y sĩ Luca quỳ xuống bên cạnh cái xác, đưa mấy ngón tay sát mũi của tử tội, bất chợt Y sĩ Luca thấy miệng của tử tội Ê-tiên nói, ông vội khòm sát đầu kê lỗ tai gần miệng người sắp chết, Y sĩ Luca nghe giọng thì thào của tử tội Ê-tiên: Trong bụng… trong bụng… rồi tử tội thở hắt ra tắt thở.

 

Y sĩ Luca lấy từ trong áo của tử tội ra một miếng da chiên nhỏ với hàng chữ chi chit, đứng lên tiến về phía tôi. Y sĩ Luca báo cáo xác nhận tử tội đã chết, ký tên vào mảnh giấy xác nhận tôi đưa đúng thủ tục pháp lý dành cho tử tội, đồng thời Y sĩ Luca cũng đưa cho tôi mảnh da chiên nhỏ. Tôi không quan tâm nhưng cũng lấy nhét vào áo, khi nào rảnh sẽ xem mảnh da đó viết gì.

 

Xong thủ tục hành hình kẻ phạm thượng dám xưng Jêsus là Đấng Cứu thế, tôi quay vào thành dẫn theo đám lính cận vệ ra lịnh cho chúng tiếp tục lùng bắt tiếp những môn đồ của Jêsus. Những tiếng la hét, kêu gào của đám người xưng môn đồ của Jêsus làm tôi thật vui, từ đây chả còn ai dám xưng là môn đồ của Jêsus nữa.

 

Sau một ngày ồn ào, tôi để cho những người hầu rửa chân, thay áo quần, ngâm mình vào bồn nước mát, trút hết bụi bặm, tôi mệt mỏi ngã người xuống chiếc giường dài cố dỗ một giấc ngủ ngon. Vợ tôi đang ngồi nơi chiếc bàn trang điểm, vừa xoa những hạt phấn thơm vừa liếc mắt về phía tôi và hỏi:

  • Chuyện gì mà anh có vẻ ưu tư quá vậy?

 

Nghe tiếng nói với cách hỏi, tôi không muốn trả lời, nhưng e rằng sự im lặng tối nay có thể gặp rắc rối ngày mai, vì tánh của nàng là vậy, chuyện gì muốn biết thì biết cho bằng được. Có lẽ do cha mẹ nàng, một nhân viên Hội Đồng Quốc gia uy quyền đã nuông chiều lúc nàng còn nhỏ, tôi cưới nàng vì nghĩ rằng nàng có học thức và nhờ uy quyền của cha nàng tôi có thể thăng tiến nhanh. Ngay vài ngày đầu sau lễ cưới linh đình, trong tôi đã nảy ra thắc mắc: Đây có phải là người vợ Chúa chọn cho mình không? Đứa con trai ra đời càng làm cho nàng kiêu kỳ hơn, nàng đùn đẩy trách nhiệm chăm sóc con về phía tôi, trong lúc tôi bận rộn đến tối tăm mặt mũi.

  • Không có gì. Chỉ là một tên Ê-tiên vừa được nhóm Jêsus bầu lên vừa bị ném đá chết – Tôi trả lời cách miễn cưỡng.
  • Tưởng chuyện gì quan trọng.

 

Nàng nói xong tiếp tục ngắm nghía gương mặt nàng trong cái kính bằng đồng ra vẻ thích thú.

 

Thật ra vợ của tôi cũng đẹp, nhưng những căng thẳng từ này cưới nhau đến giờ làm tôi mất hứng thú sinh hoạt vợ chồng, vì bất cứ lúc nào trò chuyện, nàng cũng tranh hơn cho bằng được, ngay cả cái ăn cái mặc của đứa con trai, mặc dù nàng ít khi để mắt tới. Tôi lo là con trai tôi lớn lên sẽ mang cái tánh đỏng đảnh của nàng.

 

Bầu không khí thật yên tĩnh trái hẳn cái ồn ào náo loạn ban ngày, mắt tôi nhìn vào chiếc đèn với tim dầu le lói trên bệ bên cạnh, tôi nhắm mắt lại ngủ.

 

Quái lạ, thân thể mệt lắm nhưng tâm trí sao trống rỗng, tỉnh táo lạ thường, cảnh trạng trưa nay quay lại trong trí tôi. Mắt tôi mở ra, trong bóng tối mờ mờ, ánh sáng chập chờn, tôi thấy những gương mặt trợn mắt, răng nghiến, những bàn tay mang những hòn đá chở tức giận ném vào tên Ê-tiên. Rồi tôi thấy dáng người của tên Ê-tiên ngã xuống, chồm lên rồi lại ngã xuống với gương mặt và thân mình đầy máu. Tôi chợt rùng mình, một luồng hơi lạnh chạy xuyên sống lưng tôi, bất chợt những tiếng nói vang lên trong đầu tôi: Lạy Cha, xin tha cho họ… Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ… Những tiếng nói đó vang vang làm sao đó trong đầu của tôi, tôi lắc lắc dầu cố xua đuổi những tiếng đó với những gương mặt thù hận chung quanh, nhưng kỳ lạ nó cứ đâu đó quanh tôi.

 

Tôi lăn qua rồi trở mình lại. Vợ tôi nằm bên cạnh có vẻ ngờ vực lên tiếng hỏi:

  • Cái gì vậy? Làm như anh bị ám ảnh không bằng.
  • Hơi khó ngủ vậy mà.
  • Anh làm tôi cũng không ngủ được.

 

Tôi ngồi bật dậy, đôi mắt ráo quảnh, tim đập mạnh, một nỗi lo sợ dâng lên trong tôi. Tôi chợt nhớ miếng da chiên của tên Ê-tiên mà Y sĩ Luca đã dưa cho tôi. Vói tay lên bàn bên cạnh, tôi lấy miếng da chiên, khơi đèn sáng hơn và đọc những dòng chữ trên đó, hóa ra là những điều tên Ê-tiên ghi chép: “Tôi ghi lại mọi điều Chúa Jêsus đã làm và dạy từ ban đầu, cho đến ngày Ngài được cất lên trời, sau khi Ngài cậy Đức Thánh Linh mà răn dạy các sứ đồ Ngài đã chọn. Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt các sứ đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Đức Chúa Trời …

 

Tôi quăng miếng da chiên lên bàn và buột miệng: Mê tín, toàn một lũ mê tín.

 

Tôi nghe tiếng thở đều đều của vợ tôi, biết nàng đã ngủ. Bực dọc, tôi đứng lên bước về hướng cửa sổ.

 

Ánh trăng đêm nay dễ chịu, thỉnh thoảng những cành cây rung động nhẹ đung đưa theo làn gió khuya, xa xa vọng lại tiếng những con chó hoang tru trăng, tiếng rúc của con cú mèo về đêm. Những dòng chữ của tên Ê-tiên đã viết lại theo dòng suy nghĩ của tôi hiện về.

 

Sao họ mê tín dữ vậy? Họ tôn sùng một Jêsus ở cái xã lẻ Na-xa-rét xa xôi vắng vẻ đã chết ở tuổi ba mươi ba chuộc tội cho họ, lại còn tin rằng Jêsus đó đã sống lại nữa. Chuyện nầy tôi có nghe lúc theo học và tham gia hoạt động cho các thầy tế lễ tại Giê-ru-sa-lem. Họ cũng tin rằng Jêsus của họ đã thăng thiên về trời tại trên núi Ô-li-ve đến nỗi độ năm trăm người thấy.

 

Theo những gì tôi điều tra từ hồ sơ của Hội Đồng Quốc gia, thì Jêsus mà những người như tên Ê-tiên tin là Đấng Cứu thế sinh ra tại Bết-lê-hem, nhưng lớn lên tại Na-xa-rét, không qua một trường lớp đào tạo chính qui nào của các Ra-bi thông giáo, có làm những cái gọi là phép lạ, được dân chúng ưa chuộng. So sánh với những thánh văn từ các tiên tri để lại thì Jêsus nầy có những điều dường như ứng nghiệm. Nhưng điều khó hiểu nhất là các tiên tri đều báo trước Đấng Cứu Tinh đến sẽ đem lại hòa bình, dân Y-sơ-ra-ên của tôi sẽ đứng đầu muôn nước, còn Jêsus nầy lại chết cách sỉ nhục nhất là bị đóng đinh trên cây thập tự như một tội nhân gian ác nhất, hèn hạ nhất. Như tôi dù là người Y-sơ-ra-ên nhưng quốc tịch La Mã, không thể nào bị chết sỉ nhục như vậy…

Một hớp nước mát làm tôi cảm thấy dễ chịu, tôi quay lại giường, nhưng mắt tôi lại nhìn thấy miếng da chiên trên bàn. Tại sao không đọc tiếp xem tên Ê-tiên nầy nói gì, có thể biết đâu tôi tìm được thêm chứng cớ và bởi đó có thể dẹp tan nhóm người nguy hiểm nầy.

 

Những dòng chữ trên miếng da chiên viết tiếp: “Vào ngày Lễ Ngũ Tuần vừa qua, các môn đồ nhóm họp tại một chỗ, thình lình, có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi – tôi biết căn nhà nầy tại Giê-ru-sa-lem – Các môn đồ thấy lưỡi rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người trong bọn mình. Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác theo như Đức Thánh Linh cho mình nói…

 

Chuyện đó tôi có nghe và còn nghe nói trong ngày đó có thêm độ ba ngàn người gia nhập nhóm của họ. Có một điều tôi nghĩ mãi không hiểu là nhóm người theo Jêsus nầy họ có nếp sống rất hiền hòa với nhau, siêng đến Đền thờ nghe những lãnh tụ của họ dạy những điều mà họ cho là Đấng Cứu thế của họ truyền lại, họ giúp đỡ nhau từ tâm linh đến vật chất không phân biệt sang hèn, dốt nát hoặc học thức. Họ sống như anh em trong gia đình. Điều gì xảy ra họ đều cho là Đấng Cứu thế của họ làm, ban cho, không ai nhận là cá nhân họ có quyền hành hoặc quyền năng gì, họ rất khiêm nhường.Tôi được lịnh của Hội Đồng Quốc gia và cũng do tôi quyết tâm bắt bớ, đàn áp họ, vì họ không theo luật lệ của Hội Đồng Quốc gia chúng tôi, họ lại cứ rao giảng là Đấng Cứu Thế Jêsus của họ hằng sống, là Đức Chúa Trời, điều mà thánh văn xưa của các tiên tri chỉ dành để nói về Đức Chúa Trời.

 

Con mắt tôi chợt dừng lại trên những dòng chữ: “Khi đã cầu nguyện, thì nơi nhóm lại rúng động, ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ… Vậy các sứ đồ từ Hội Đồng Quốc gia ra, đều hớn hở về mình đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Đức Chúa Jêsus…

 

Đúng là hai tuần trước Giê-ru-sa-lem có một trận động đất nhẹ xảy ra làm rung chuyển cả thành, nhiều người trong thành một phen phát hoảng, không lẽ do bọn nầy gây ra? Mới tuần rồi đây, Hội Đồng Quốc gia đã phạt các lãnh tụ của họ bằng cách đánh roi và cấm họ rao giảng danh Jêsus, thế mà tên Ê-tiên lại ghi rằng mấy tên đó thay vì buồn rầu lại hớn hở vui mừng vì cho rằng họ chịu nhục như vậy bởi thầy Jêsus của họ kể họ giống Ngài. Tức chết đi được!

 

Trời đã sáng, ánh nắng len vào phòng ngủ của tôi, tôi đã qua một đêm không ngủ được và cũng chưa giải quyết được những suy nghĩ. Cái chết của tên Ê-tiên dường như ám ảnh tôi khiến tôi liếc nhìn tấm da chiên nằm im trên bàn.

 

Tôi phải ngồi dậy chuẩn bị, vì hôm nay tôi phải truy đuổi nhóm người theo Jêsus trong thành Giê-ru-sa-lem, rồi còn phải theo lịnh của Hội Đồng Quốc gia đến thủ đô nước Sy-ri để truy tìm tiếp những tên theo Jêsus.

 

Vợ tôi vẫn còn say sưa trong giấc ngủ, nàng thường dậy trễ, giao mọi việc trong nhà cho những người giúp việc, thằng con trai thì ngủ với một vú nuôi bên phòng riêng. Nhìn nàng quấn mình trong chiếc chăn, nhớ những lúc sinh hoạt vợ chồng, nàng nằm đó như trả nợ, không đem lại cho tôi sự hứng thú gì. Thở dài một tiếng!

 

Ăn vội qua loa những thức ăn do người phục vụ bếp bày dọn, tôi sửa soạn và trước khi ra khỏi nhà, đi ngang chiếc bàn tôi không quên vơ vội tấm da chiên của tên Ê-tiên đem làm bằng chứng trong cuộc đàn áp hôm nay.

 

Nhờ tấm da chiên tôi tìm được những địa điểm hội họp của nhóm người theo Jêsus. Lần nầy tôi khôn khéo hơn, thay vì như Hội Đồng Quốc gia nhắm vào những lãnh tụ của họ để đàn áp, những tên đó đã quá kinh nghiệm, bất chấp hiểm nguy sẵn sàng trả giá để bảo vệ cái gọi là niềm tin của chúng, trong khi những kẻ mới gia nhập nhìn vào lãnh tụ của họ giúp họ không sợ Hội Đồng Quốc gia. Tôi nhắm vào những người mới gia nhập, số nầy đông nhưng chưa đủ kinh nghiệm chịu đựng, chắc chắn sẽ đầu hàng tôi.

 

Cuộc đàn áp của tôi tiến vào từng gia đình theo tấm da chiên ghi lại, những nhà tù hầu như chật ních người bất kể già trẻ lớn bé, nam nữ, tiếng khóc la từ sáng sớm vang dậy nhiều khu phố, nó cũng vô tình tạo ra một làn sóng di cư do những người trong nhóm Jêsus bỏ thảnh Giê-ru-sa-lem chạy đến nơi nào họ cho là an toàn hơn. Theo làn sóng di cư đó, tôi tiến về hướng bắc, mục tiêu của tôi là thủ đô Đa-mách của nước Sy-ri, một lân bang của nước Y-sơ-ra-ên đang có chính sách tôn giáo dễ dãi.

 

Hành động cứng rắn của tôi được các lãnh tụ tôn giáo của tôi rất khen ngợi, họ dành cho tôi nhiều ưu ái, bổng lộc và hứa rằng sau khi tôi từ Đa-mách trở về, tương lai của tôi sẽ sáng láng chưa từng ai có. Để giúp tôi hoàn thành công tác bắt bớ người theo Jêsus, Hội Đồng Quốc gia cấp cho tôi một giáo lịnh đặc biệt cho phép tôi toàn quyền chém, giết bất cứ ai không chối bỏ Danh Jêsus, hoặc trói giải giao về Giê-ru-sa-lem để Hội Đồng Quốc gia xét xử.

 

Lúc tôi lên đường rời Giê-ru-sa-lem, những đại diện cao cấp của Hội Đồng Quốc gia cùng nhau ra đưa tiễn tôi với bao lời cầu phúc cho tôi hoàn thành sứ mạng nhanh chóng, mỹ mãn. Dân thành Giê-ru-sa-lem đã nghe thông báo tập trung hai bên đường vẫy tay tiễn đưa tôi như một tướng lãnh dẫn quân ra trận năm xưa. Các thầy tế lễ trong Đền thờ vội vàng giết một con chiên dâng tế lễ sớm mai, dùng huyết con sinh đó rảy trước con ngựa tôi đang cỡi để làm lễ cầu may cho tôi. Tôi cảm thấy mình trở nên quan trọng trước mặt mọi người, tôi đưa tay vẫy chào lại hàng ngàn cánh tay đang đưa lên chào tôi, như một vị tuớng lãnh ca khúc khải hoàn từ chiến trường trở về.

 

Con đường trước mắt dài đến 220 cây số, có một tiểu đội lính của Đền thờ được Hội Đồng Quốc gia cử ra bảo vệ tôi. Tất cả đều đi bộ trừ ra tôi được ngồi trên một con ngựa, hành lý và lương thực cần thiết dành cho hành trình một tuần lễ thì do hai con lừa mang. Thật ra chúng tôi không cần nhiều lương thực vì có thể nghỉ dọc đường, nhưng vì muốn giải quyết công việc chấm dứt sự bành trướng số người theo Jêsus nhanh chóng, nên chúng tôi dự định sẽ dừng lại nghỉ khi nào cần thiết lắm.

 

Càng đi về hướng bắc, con đường càng trở nên khó đi, nhiều đồi núi khô cháy. Hôm nay chúng tôi đã vào đến địa phận xứ Ga-li-lê, cảnh quan có vẻ mát mẻ hơn, dân chúng sống sung túc hơn vì khi hậu ảnh hưởng từ hồ Ga-li-lê nên dịu mát, cây cỏ phủ xanh hơn miền trung Y-sơ-ra-ên.

 

Chúng tôi dừng lại nghỉ nơi một quán trọ cạnh bờ hồ Ga-li-lê. Chủ quán tiếp đón chúng tôi niềm nở, có lẽ vì thấy chúng tôi là những quan binh. Món ăn được giới thiệu đa phần là cá đánh bắt từ hồ Ga-li-lê, xen lẫn vài món thịt chiên, bò. Chủ quán thăm hỏi và tôi thẳng thắn cho biết chúng tôi đến từ Giê-ru-sa-lem.

 

Đang lúc ngồi thưởng thức những món đặc sản địa phương, tôi nghe những lời bàn tán của các thực khách chung quanh. Để ý một chút với kỹ năng nghiệp vụ, tôi nghe họ to nhỏ bàn về chuyện những người đánh cá tên Phi-e-rơ cùng với ba người nữa là Giăng, Gia cơ và em trai tên Anh-rê, vốn quê tại Ga-li-lê đã chuyển nghề đánh cá theo một thầy giảng đạo tên Jêsus, bây giờ đang rất nổi tiếng tại Giê-ru-sa-lem, làm nhiều phép lạ, chữa lành nhiều người bịnh, nhất là can đảm đứng trước Hội Đồng Quốc gia công khai rao giảng danh của thầy họ là Jêsus. Những thực khách đang bàn tán có vẻ khâm phục những người nhà quê dốt nát không học như Phi-e-rơ lắm. Họ nói:

  • Như chúng ta đây suốt đời chỉ làm người nhà quê, tối ngày chỉ quanh quẩn với mấy chiếc thuyền và mấy con cá. Còn anh Phi-e-rơ và mấy người theo ông thầy Jêsus kia thì tương lai chưa biết nổi tiếng cỡ nào nữa.
  • Nhưng mà ông thầy Jêsus nghe nói đã bị Hội Đồng Quốc gia lên án đóng đinh rồi? - một người trong bọn đó lên tiếng.
  • Anh chỉ mới nghe chừng ấy, bộ anh không nghe rằng ông thầy Jêsus đã sống lại nữa sao?
  • Chuyện khó tin quá!
  • Thế mới đáng nói. Nghe rằng ở Giê-ru-sa-lem ai cũng biết việc kỳ lạ nầy, từ mấy người đàn bà, đến cả Hội Đồng Quốc gia cũng biết. Có tin đồn là mấy môn đồ của ông thầy Jêsus – trong đó có anh Phi-e-rơ đồng quê của mình, lén ăn cắp xác giấu ở đâu đó.
  • Không có đâu. Mấy anh nghĩ coi, lính gác nghiêm ngặt, anh Phi-e-rơ với mấy người theo ông thầy Jêsus làm gì dám. Tôi nghe nói mấy ông trong Hội Đồng quốc gia còn cho tiền mấy tên lính giữ mộ biểu họ phao tin đồn như thế. Mà tôi còn nghe vào Lễ Ngũ Tuần vừa rồi, anh Phi-e-rơ cùng mấy người kia thẳng thắn đứng lên giữa Giê-ru-sa-lem công bố thầy của họ đã sống lại thật sự. Nếu thầy của mấy người không sống lại thật thì tôi tin chắc anh Phi-e-rơ với mấy người cùng nhóm khó sống nổi với đám dân tại Giê-ru-sa-lem. Vậy mà lạ thiệt, họ vẫn bình an và lại có thêm độ ba ngàn người gia nhập thêm với nhóm một trăm hai mươi người của họ.
  • Ờ, mà cũng kỳ thiệt, ông thầy giảng đạo Jêsus từng sống vùng của chúng ta ba mươi ba năm, con của ông bà Giô-sép và Ma-ri ở Na-xa-rét, dù gia đình nghèo nhưng danh tiếng tốt lắm.
  • Mà lạ thiệt - một người khác chưa từng lên tiếng, bây giờ nói xen vào - chính tôi từng đi theo nghe ông thầy Jêsus giảng, lời giảng thật đầy quyền năng – xin lỗi, mấy thầy Ra-bi của mình không thể nào so được.

 

Tôi không còn can đảm nghe tiếp, lật đật đứng lên ra lịnh cho những lính tùy tùng trả tiền tiếp tục lên đường. Tiếng quát của tôi làm tất cả những người trong quán dồn mắt về tôi. Làm sao họ hiểu được sự bực dọc đang làm tôi khó chịu vì những lời bàn tán của họ. Thật sự điều họ nói tôi cũng biết, có những điều chính mắt tôi thấy, có những điều tôi đọc trong hồ sơ của Hội Đồng Quốc gia, có những điều tôi điều tra riêng. Họ nói không sai, nhưng làm sao tin được một Đấng Cứu Thế lại chết, rồi lại có tin rằng sống lại. Đấng Cứu Thế làm sao chết được?

Mấy tên lính ngơ ngác quay nhìn tôi, vì chúng tưởng sẽ được nghỉ ngơi sau chặng đường dài từ Giê-ru-sa-lem tới đây, đột nhiên tôi là hối thúc họ lên đường. Dù vậy, với uy quyền của tôi hiện có, chúng im lặng làm theo cách miễn cưỡng.

 

Thủ đô Đa-mách chỉ còn cách chúng tôi khaỏng hai ngày đường nữa. Tuy nhiên, chúng tôi phải đi trên con đường dốc  để vượt qua núi Hẹt-môn, giữa lưng chừng núi thì ánh mặt trời đang mọc trước mặt, con ngựa tôi đang cỡi thở một cách khó nhọc. Đứng trên đỉnh đèo nhìn xuống có thể thấy thành Đa-mách, một thành phố được xây dựng bằng đá trắng xinh đẹp giữa một thung lũng màu xanh lục, giống như một nắm trân châu nằm trong chén bằng bích ngọc.

 

Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, nắng chói chang, mồ hôi tuôn ra, đám tùy tùng của tôi vừa đi vừa lẩm bẩm phàn nàn trong miệng. Thình lình quanh chúng tôi rực sáng lên làm lóe mắt tôi, theo phản ứng giật mình, tôi ngã xuống ngựa nhưng không cảm giác đau đớn nào cả. Tôi lồm cồm cố ngồi dậy, nhìn quanh thì đám hầu cận của tôi cũng ngã lăn ra, dường như có nhiều tên nằm bất động. Tôi lấy tay che ngang mắt nhìn theo hướng ánh sáng chiếu trên tôi. Sáng quá, ánh sáng của mặt trời giữa trưa rõ ràng không đáng kể so với ánh sáng nầy.Chưa kịp lấy lại bình tĩnh, tôi nghe một tiếng nói bằng tiếng Hê-bơ-rơ phát ra từ trong ánh sáng:

  • Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ ta?

 

Tiếng nói đó vang giữa buổi trưa dội vào trong vách núi rền rền, khiến tai tôi bị xoáy vào đau nhức. Quay qua những tên lính hầu cận, dường như chúng không nghe thấy gì cả, dáng như ngơ ngác. Quá hoảng sợ tôi quỳ xuống, ngước đầu lên lấy hết can đảm nói lớn:

  • Lạy Chúa, Chúa là ai?

 

Giọng nói đầy uy quyền trong ánh sáng rực rỡ đó một lần nữa vang lên trả lời tôi:

  • Ta là Jêsus ở Na-xa-rét mà ngươi đang bắt bớ. Ngươi đụng đến Hội thánh của ta là ngươi đá nhằm ghim nhọn, sẽ lấy làm khó chịu cho ngươi.

 

Ngay lập tức bao nhiêu hình ảnh than khóc, những gương mặt đầy máu, những cánh tay với gông cùm đưa lên, của những người tin theo Jêsus như hiện ra chung quanh tôi, đâu đó bóng dáng của tử tù Ê-tiên với cái đầu chảy những dòng máu tươi đỏ nhìn tôi… Tôi thật kinh khiếp và gục đầu ôm mặt khóc nức nở.

  • Chúa Jêsus ơi - tự lòng tôi bất lên lời xưng tụng Jêsus là Chúa của tôi – con là người phạm thượng, bắt bớ, hung bạo, đáng chết. Bây giờ con phải làm chi? Chúa Jêsus ơi, con phải làm gì để được Ngài tha thứ…?

 

Tôi chợt nhận ra tôi là người đầy tội lỗi, kẻ đứng đầu danhs ách những tội nhân đáng chết đi vào địa ngục hình khổ đời đời. Tôi cứ gục đầu, cứ khóc, tôi chờ đợi một cái chết kinh khiếp nào đó, có thể là một ngọn lửa lòe ra thiêu nuốt tôi như ngày xưa đã thiêu nuốt hai cont rai của thầy tế lễ A-rôn mà vị lãnh tụ đáng kính của dân Y-sơ-ra-ên chúng tôi là Môi-se đã ghi lại, hoặc một hình phạt nào đó như đất há miệng nuốt tôi như đã nuốt những kẻ phản nghịch trong đảng Cô-rê trong đồng vắng. Tự thâm tâm tôi không dám xin Chúa Jêsus tha thứ vì đâu còn gì để tha thứ.

 

Kỳ diệu thay, trong khoảng không gian lắng đọng đó chờ đợi hình phạt đó, tôi chợ nghe một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ:

  • Ngươi hãy đứng dậy, đi vào trong thành Đa-mách, người ta sẽ nói cho ngươi mọi điều ngươi phải làm. Hãy đứng dậy!

 

Ánh sáng vụt tắt, một sự tối tăm trùm lấy tôi. Tôi đứng lên và đưa tay dụi vào mắt rồi nhận ra tôi không còn thấy gì cả. Không lẽ trời tối rồi sao? Mà trời tối cũng đâu tối dữ vậy. Tôi bước thử vài bước và loạng choạng chực té. Tôi lên tiếng:

  • Có ai chung quanh đây không? Có ai không? Giúp tôi với!

 

Tôi đưa tay quờ quạng trong bóng tối. Chợt có ai đó nắm lấy bàn tay của tôi và tiếng của một tên lính hầu cận tôi vang lên:

  • Thưa thủ lãnh, chúng tôi đây. Thủ lãnh sao vậy?
  • Anh em – tôi gọi họ là ‘anh em’, tự đáy lòng tôi có gì thay đổi, có một mối yêu thương nào đó đối với họ - có sao không? Hình như có mấy người ngã chết hay sao đó phải không? - Vừa nói tôi vừa nắm chặt cánh tay của tên lính đang dắt tôi, đầu tôi nghiêng qua nghiêng lại lắng tai nghe tiếng nói của những tên lính.
  • Thưa thủ lãnh, chúng tôi còn đủ, những người đó chỉ chết giấc thôi. Mà điều gì đã xảy ra cho thủ lãnh vậy? Còn đôi mắt của thủ lãnh nữa, có sao không?
  • Còn đủ là tốt rồi. Bộ anh em không nghe thấy gì hết sao?
  • Chúng tôi cho thấy mọt ánh sáng cực lớn chiếu xuống chúng ta, có nghe những tiếng sấm rền rền mà không biết việc gì, một vài người trong chúng tôi khiếp sợ chết giấc. Giờ thì đã tỉnh rồi.
  • Anh em không nghe gì hết à?
  • Dạ, không nghe gì ngoài những tiếng sấm rền lớn như trời sắp đổ mưa, nhưng mà không có mưa gì cả.
  • Đôi mắt của tôi đã bị mù rồi. Nhờ anh em dắt tôi vào thành Đa-mách, đến một ngôi nhà trên đường tên gọi là đường Ngay Thẳng, đó là con đường lớn chạy từ đông sang tây trong thành phố, tìm nhà của một người tên Giu-đa.

 

Tôi đã vào thủ đô Đa-mách hoàn toàn khác với cách mà tôi đã tưởng tượng khi rời Giê-ru-sa-lem tuần qua. Tôi đã tưởng tượng một cảnh huy hoàng khi bước vào Đa-mách đầu tôi sẽ ngẩng cao đi giữa hai hàng lính bảo vệ. Nhưng bây giờ, tôi là một người mù, mình đầy bụi đường, ngồi trên lưng ngựa được dắt đi với những tên lính còn đọng lại trên nét mặt sự kinh hoàng sau biến cố lạ lùng mới vừa gặp trên đường.

 

Đôi mắt của tôi mù thật rồi! Suốt ngày qua tôi phải nhờ một vài tên lính giúp đỡ những sinh hoạt cần thiết, căn nhà không quen thuộc cũng là một khó khăn cho tôi. Trong bóng tối của đôi mắt không còn ánh sáng, tôi đang chờ đợi điều xảy ra mà tiếng từ trời đã phán với tôi: người ta sẽ dạy cho ngươi. Bao giờ? Ai dạy? Dạy điều gì? Còn đôi mắt thì sao? Bao nhiêu câu hỏi cứ nhảy múa trong đầu tôi trong lúc bị hạn chế vì mù lòa, làm tôi bức rức muốn la lên cho nhẹ, nhưng có điều gì đó giữ tôi lại, cơn bực bội vừa nổi lên thì giọng nhỏ nhẹ từ tiếng phán trong ánh sáng như xoa dịu nó xuống. Bình thường những tên lính sẽ là mục tiêu trút giận của tôi, nhưng cả ngày họ ngạc nhiên vì sự im lặng của tôi, sự im lặng làm cho họ càng lo sợ thêm vì họ nghĩ rằng không biết lúc nào bùng nổ.

 

Tôi ngồi ôn lại quãng đời của mình, một con đường thăng tiến rộng mênh mông. Tôi được sanh ra tại Tạt-sơ, một tỉnh của Đế quốc La Mã, đương nhiên mang quốc tịch La Mã, dù tôi là người Y-sơ-ra-ên, một dân tộc nằm ven Địa Trung Hải đang Đế quốc La Mã bị đô hộ. Tôi lại được hấp thụ một nền giáo dục cao tốt nghiệp Luật dưới chân giáo sư Ga-ma-li-ên nổi tiếng. Tôi được gia nhập vào phe Pha-ri-si, cả nước đều biết đến tôi là một người sốt sắng với tôn giáo truyền thống Do-thái giáo. Tôi là một ứng viên tương lai của Hội Đồng Quốc gia, chắc chắn chiếc ghế trong Hội Đồng đó nằm trong tầm tay của tôi, bằng cớ là tôi đang nắm trong tay sự ủy quyền của Hội Đồng Quốc gia được toàn quyền bắt giam, chém giết bất cứ ai mang danh là người theo Jêsus. Ấy là chưa kể buổi tiễn đưa long trọng mà Hội Đồng Quốc gia đã dành cho tôi vừa rồi tại Giê-ru-sa-lem trước mặt toàn thể dân chúng.

 

Những suy nghĩ về quá khứ đưa tôi vào giấc ngủ sau những ngày đi đường mệt nhọc cộng với biến cố lạ lùng mới xảy ra. Thình lình tôi thấy có một người ăn mặc bình thường bước vào nhà tôi đang ở.

  • Anh là ai? Lính gác của tôi đâu hết rồi? Sao không ai báo trước cho tôi? – Tôi ngạc nhiên hỏi.
  • Tôi tên A-na-nia – người đó bình tĩnh trả lời.
  • Anh tìm ai?
  • Tôi đến đây tìm một người tên Sau-lơ.
  • Tôi là Sau-lơ. Anh tìm tôi với mục đích gì? - Vừa trả lời, tôi vừa lùi lại, nhìn chung quanh tìm xem có tên lính hầu cận nào không, tôi nghĩ đến một người trong nhóm Jêsus trả thù tôi vì ai cũng biết tôi đến Đa-mách để tìm bắt giết những người trong nhóm của họ.
  • Tôi đến đây vì Chúa Jêsus của tôi bảo tôi đến chữa cho ông được sáng mắt.

 

Tôi thấy người đó đưa tay ra về phía của tôi. Giật mình, tôi lùi lại… Hóa ra là giấc mơ. Trời đã sáng. Tôi đã qua một đêm kỳ lạ, tim còn đập mạnh, không có ai chung quanh, ngoài trừ một tên lính đang còn ngủ say trên sàn nhà gần đấy. Cửa vẫn còn cài then chặt.

 

Tôi nhẹ nhàng ngồi dậy, quỳ xuống bên giường, tôi ngước nhìn lên và nói:

  • Lạy Chúa Jêsus, có phải Ngài là Đấng Cứu thế thật như con đã nghe? Nếu thật, xin chữa cho con được sáng mắt, có phải Ngài sẽ sai người đến dạy con điều Ngài muốn dạy? Người đó là ai? Con chờ đợi Ngài trả lời con ngày hôm nay.

 

Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi cầu nguyện với Đấng có danh là Jêsus và xưng Ngài là ‘Chúa’, nếu Ngài thật là Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ đáp lời của tôi.

 

Tôi chờ đợi. Ngày thứ ba qua đi…

  • Thưa thủ lãnh có người tìm ông. Chúng tôi không cho vào, nhưng người đó bảo tôi cứ vào báo tin cho ông thì ông sẽ tiếp.
  • Người đó tên gì? Ăn mặc ra sao? Tìm tôi với mục đích gì? – tôi bối rối.
  • Thưa thủ lãnh, người đó nói tên A-na-nia, ăn mặc bình thường có lẽ là một thường dân, nói là đến đây chữa bịnh mắt cho ông.

 

Tôi bàng hoàng, không lẽ đó là người Chúa Jêsus sai đến gặp tôi sao? Tôi nghĩ người gặp tôi phải là người nổi tiếng nào đó, ít ra cũng như Y sĩ Luca tại Giê-ru-sa-lem, hoặc một nhà thông thái, một giáo sư… Có sự lầm lẫn nào ở đây không?

 

Suy nghĩ một chút. Hay thử xem? Tôi gật đầu và bảo tên lính cho người đó vào.

 

Cánh cửa mở ra. Thính giác của tôi cho biết có một người vừa bước vào căn phòng của tôi. Tôi quay đầu hướng về phía tiếng động.

  • Chào anh Sau-lơ. Chúa là Jêsus nầy, Đấng đã hiện ra cùng anh trên con đường anh đi tới đây, đã sai tôi đến.

 

Tôi bật ngồi dậy. Không tin được! Sao người nầy biết tên tôi? Sao người nầy biết việc xảy ra cho tôi trên đường đến Đa-mách? Sao người nầy biết tôi bị mù cần được chữa cho sáng mắt?

  • Anh là ai? – tôi hỏi – Sao anh biết tên tôi? Sao anh biết tôi ở đây?

 

Vừa hỏi, tôi vừa đưa tay về phía người đó, cả người tôi run lên như bị giật, giọng nói của tôi bị lắp bắp không thành câu trọn.

 

Có một bàn tay ấm áp nắm lấy tay tôi đang đưa ra dìu tôi đến ngồi xuống trên một chiếc ghế. Bàn tay có sức ấm lạ thường chưa bao giờ tôi nhận được như truyền cho tôi sự êm dịu, khiến tôi quên mất sự lo sợ ba ngày nay.

  • Tôi là An-na-nia. Một người tin Chúa Jêsus đang ở tại thành phố Đa-mách nầy – Người đó bình tĩnh ngồi xuống đối diện với tôi và nói. Đêm hôm, trong giấc chiêm bao, Chúa Jêsus của tôi đã hiện ra bảo tôi đến đường Ngay Thẳng tìm một người tên Sau-lơ, quê ở Tạt-sơ, đang ở nhà của người tên Giu-đa.
  • Nhưng anh có biết tôi là ai không?
  • Biết. Tôi biết anh là vị quan quyền thế, nổi tiếng vì bắt bớ những người tin theo Chúa Jêsus.
  • Anh không sợ tôi sao?
  • Sợ chứ. Tôi đâu có muốn đi. Tôi đã thưa với Chúa Jêsus là Chúa biết người tên Sau-lơ nầy rất hung dữ, độc ác, tôi có nghe nhiều người nói người nầy đã làm hại biết bao nhiêu người thánh của Chúa trong thành Giê-ru-sa-lem. Ai cũng biết người tên Sau-lơ nầy đến Đa-mách có trọn quyền của Hội Đồng Quốc gia Do-thái để tìm và bắt những người tin Chúa Jêsus giải giao về Giê-ru-sa-lem trị tội. bây giờ Chúa bảo con đến gặp, khác nào đem thịt vào miệng cọp?
  • Thế sao anh lại dám đến gặp tôi?
  • Nhưng Chúa Jêsus đã phán với tôi rằng người đó đang cầu nguyện xin ta sai người đến chữa cho người đó được sáng mắt và dạy người đó điều phải làm. Chúa cứ thúc giục tôi và tôi bằng lòng đến đây gặp anh. Dĩ nhiên là tôi rất lo sợ, nhưng không dám cãi lại mạng lịnh của Chúa Jêsus. Bây giờ, tôi đã đến đây theo đúng như lời Chúa Jêsus truyền dạy, tôi đã gặp anh và tôi nói với anh là Chúa Jêsus của tôi muốn chữa cho anh sáng mắt, anh có tin Ngài làm được không?
  • Nhưng anh không phải là Y sĩ?
  • Đúng vậy. Nếu Chúa Jêsus sai một Y sĩ đến chữa cho anh thì làm sao anh biết quyền năng của Ngài được - giọng nói của người tên A-na-nia có một cái gì đó rất lạ, bình thản – tôi cũng xin nói trước là tôi không biết thuốc men gì, tôi chỉ cầu nguyện xin Chúa Jêsus chữa lành cho anh như khi Ngài còn hiện ra trên đất mấy tháng trước. Tôi không có quyền năng gì chữa bịnh cho anh, chỉ có quyền năng của Chúa Jêsus thôi. Vấn đề là anh có bằng lòng đặt đức tin và muốn Ngài chữa cho hay không?

 

Có một sự tan vỡ trong lòng tôi, bức tường kiêu ngạo vì học thức, vì quyền thế, vì tôn giáo truyền thống bám chặt tôi đột nhiên sụp đổ hết, nước mắt tự nhiên trào ra, tôi quỵ xuống, tôi nhận ra tội lỗi của tôi bao năm chống nghịch với Chúa Jêsus, tàn hại Hội thánh của Ngài qua những hành động tàn ác đối với những người tin theo Ngài… Tôi thốt lên:

  • Chúa Jêsus ơi, hãy tha tội cho con và cứu lấy con…

 

Có một đôi bàn tay nhẹ nhàng quàng lấy vai tôi, tôi nghe có tiếng khóc hòa trong lời cầu nguyện của An-na-nia, anh ấy cầu nguyện xin Chúa Jêsus tha tội cho tôi và cứu tôi, nhận tôi làm con của Ngài. Anh ấy nói những lời chân thành thiết tha xin Chúa Jêsus chữa lành cho tôi. Cả hai chúng tôi cùng khóc, những giọt nước mắt chân thành, chưa bao giờ tôi được nghe những lời cầu nguyện chân thành tự nhiên từ đáy lòng như thế trong suốt bao nhiêu năm theo tôn giáo truyền thống của tôi.

 

Đâu đó tôi nghe vang lên tiếng hát nhẹ nhàng…

 

Từ đáy lòng sâu thẳm, con xin Thần Linh Chúa,
hiện diện đầy vinh hiển trong lòng nầy.
Nguyện Thần Ngài tuôn đổ làm cho lòng tươi mới
Lời nguyện cầu tha thiết với Cha tình yêu.
Lạy Chúa, chúng con khẩn thiết xin Ngài đến,
Ban Nước Sống tưới mát chúng con,
Đưa hồn linh con đến với Cha.
Lạy Chúa, xin Chúa khiến tấm lòng con tan vỡ,
Đến với Chúa với tấm lòng vỡ tan,
Đến với Chúa với tấm lòng biết ơn.

 

Lạ lùng thay, sau những giờ phút tan vỡ với Chúa Jêsus, nước mắt tuôn tràn dường như chảy trôi cái gì đó khỏi mắt, tôi lấy tay dụi dụi, rồi mở mắt… Sáng! Ánh sáng! Trước mắt tôi bóng dáng một người đang quỳ…

  • Anh A-na-nia, tôi thấy lại rồi! Chúa Jêsus đã chữa lành cho tôi rồi…

 

Tôi bật dậy, nhảy lên như một đứa trẻ nhận được quà, tôi ôm lấy anh A-na-nia quay vòng vòng. Một niềm sung sướng tràn ngập, lòng tôi như một dòng sông tuôn tràn … Ngay lúc ấy, mấy tên lính hầu cận chạy vào ngơ ngác nhìn chúng tôi, hết nhìn tôi lại quay qua nhìn anh A-na-nia. Tôi bất chấp, tôi quay lại nắm lấy tay một tên lính và nhảy múa với hắn, miệng vừa la lên:

  • Ha-lê-lu-gia, tôi được Chúa Jêsus cứu và tôi được Chúa Jêsus chữa lành rồi…!

 

Những phút giây sôi trào ấy từ từ lắng xuống, tôi nói với anh A-na-nia:

  • Anh A-na-nia, cảm ơn anh đã đến. Tôi muốn được nói vài lời với Chúa Jêsus có anh chứng kiến, tôi muốn anh biết rằng tôi đã quyết định ăn năn tội và tiếp nhận Chúa Jêsus làm Đấng Cứu thế của cá nhân tôi.

 

Tôi quỳ xuống. Anh A-na-nia quỳ xuống. Những tên lính ngỡ ngàng một chút rồi cũng quỳ xuống dù không biết tôi làm gì. Tôi đã  thưa với Chúa Jêsus:

 

Xin Ngài tha thứ mọi tội tình ô dơ,
Xin Ngài dắt tôi trọn bước đi.
Tâm nầy nguyện dâng trọn cho Jêsus thôi
Tôi nguyện theo chơn Ngài không thôi.
Chúa tha thứ tôi và Chúa yêu tôi cả cuộc đời,
Chúa mang tội tôi thân Ngài nát tan.
Xin Ngài ban ơn dắt dìu bước không rời,
Cho đời tôi luôn được tươi vui.

 

Trong giây phút dâng trào đó, anh A-na-nia đỡ tôi đứng dậy và với tư thế trịnh trọng, anh nói với tôi:

  • Anh Sau-lơ nầy, đây là lời của Chúa Jêsus đã truyền cho anh nhờ tôi tỏ lại: Hãy đi, vì ta đã chọn người nầy làm một đồ dùng cho ta, để đem danh ta đồn ra trước mặt các dân ngoại, các vua, và con cái Y-sơ-ra-ên; ta lại sẽ tỏ ra cho người biết phải chịu đau dớn vì danh ta là bao nả.

 

Tôi đã nói lời A-men. Anh A-na-nia đã làm báp-têm cho tôi nhơn danh Chúa Jêsus Christ, công khai nhận tôi vào Hội thánh của Chúa Jêsus.

Tôi đã tổ chức một tiệc vui có mặt anhA-na-nia cho những người lính hầu cận của tôi, cho họ biết là tôi đã tin Chúa Jêsus làm Đấng Cứu Thế của tôi. Trong bữa tiệc, dù thức ăn thịnh soạn, nhưng những người lính dường như e ngại khi tôi công bố niềm tin, tôi biết họ rất sợ hãi vì nghĩ đến cơn giận của Hội Đồng Quốc gia. Và tôi cũng tin chắc việc tôi tin Chúa Jêsus đã mau lẹ truyền về Giê-ru-sa-lem cho Hội Đồng Quốc gia.

Tags

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by