You are hereKẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ (Chương II)

KẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ (Chương II)


By admin - Posted on 20 January 2011

KẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ

KẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ
CHƯƠNG II
****************************
PHẢN ỨNG

Một đời sống mới!

Tôi đã thức dậy hôm nay với đời sống mới trong Chúa Jêsus. Tôi nhận ra trong tôi không có sự căm ghét nào, thù hận nào. Tự nhiên một bài thơ của vua Đa-vít phát ra trong tôi:

Nầy, Chúa muốn sự chơn thật nơi bề trong;
Chúa sẽ làm cho tôi được biết sự khôn ngoan trong nơi bí mật của lòng tôi.
Xin hãy lấy chùm kinh giới tẩy sạch tội lỗi tôi, thì tôi sẽ được tinh sạch;
Cầu Chúa hãy rửa tôi, thì tôi sẽ nên trắng hơn tuyết.
Hãy cho tôi nghe sự vui vẻ mừng rỡ, để các xương cốt mà Chúa đã bẻ gãy được khoái lạc.
Xin Chúa ngảnh mặt khỏi các tội lỗi tôi, và xóa hết thảy sự gian ác tôi…

Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa, dùng Thần linh sẵn lòng mà nâng đỡ tôi.

Bấy giờ tôi sẽ dạy đường lối Chúa cho kẻ vi phạm, và kẻ có tội sẽ trở về cùng Chúa…

Những món ăn hôm nay đối với tôi thật ngon miệng, một phần do tôi hầu như không ăn gì trong ba ngày qua, nhưng lý do chính là tôi niềm vui như dòng sông đang trào dâng trong lòng tôi, như một mạch nước trong tôi chực văng ra tuôn tràn.

Mấy người lính hầu cận nhìn tôi có vẻ sợ sệt hơn là vui, dù ba ngày qua tôi không la rầy, hò hét gì họ như từng làm truớc đây. Tôi đã cho họ biết tôi đã nhận Chúa Jêsus làm Đấng Cứu thế của tôi, họ không nói lời nào, nhưng tôi biết tự thâm tâm họ có sự lo sợ vì quyền lực của Hội Đồng Quốc gia tại Giê-ru-sa-lem.

Nơi đầu tiên tôi đến tại thủ đo Đa-mách không phải là chỗ hội họp hoặc nhà của những người tin Chúa Jêsus để bắt họ, mà là Nhà Hội của những người Y-sơ-ra-ên đang sống tại Đa-mách. Khi tôi bước vào, toàn thể Nhà Hội đều đứng lên chào đón tôi vì họ từng biết tôi là người được tôn trọng tại Giê-ru-sa-lem.

Sau phần hát Thi thiên, người cai quản lý Nhà Hội mời tôi lên bục để chia sẻ điều muốn nói. Tôi bình tĩnh bước lên trong khi hàng trăm cặp mắt nhìn tôi chờ đợi.

Tôi nói với những người trong Nhà Hội: “Hỡi các anh, các cha, tôi là người Giu-đa, sanh tại thành Tạt-sơ, trong xứ Si-li-si, nhưng nuôi tại Giê-ru-sa-lem, trong thành đó, học nơi chơn giáo sư Ga-ma-li-ên, đúng theo trong luật pháp của tổ phụ chúng ta. Tôi vốn đầy lòng sót sắng vì Đức Chúa Trời, cũng như các vị hôm nay vậy. Tôi từng bắt bớ phe những người theo Jêsus làm Đấng Cứu Thế, đã từng giết nhiều người trong số họ, bất kỳ đờn ông đờn bà, xiềng lại và bỏ tù. Về điều đó, thầy cả thượng phẩm cùng cả hội đồng trưởng lão đều làm chứng cho tôi; và vì bởi Hôi Đồng Quốc gia mà tôi nhận được các thư gởi cho anh em thành Đa-mách, là nơi tôi được lịnh đến đặng bắt trói những người tại đây dẫn về thành Giê-ru-sa-lem để xử phạt.

Vả, lúc tôi đương đi đường, gần đến thành Đa-mách, độ ban trưa, thình lình có ánhs áng lớn, từ trên trời giáng xuống, sois áng chung quanh mình tôi. Tôi té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng tôi rằng: Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ ta? Tôi trả lời rằng: Lãy Chúa, Chúa là ai? Ngài phán: Ta là Jêsus ở Na-xa-rét mà ngươi đương bắt bớ. Những kẻ đi với tôi thấy ánh sáng rõ ràng, nhưng chẳng nghe tiếng của Đấng phán cùng tôi…

Khi tôi nói đến đấy, thì có nhiều cánh tay đưa lên muốn được chất vấn tôi. Những lời bàn tán bắt đầu nổi lên, tôit hấy nhiều gương mặt biến sắc và có vẻ giận.

  • Ông muốn nói rằng Jêsus là Đấng Cứu Thế?

Tôi biết cơn giận bắt đầu, tôi phải bình tĩnh để trả lời, bất cứ một thái độ nào thiếu khôn ngoan cũng có thể làm bùng nổ nguy hiểm cho tôi. Tôi giữ giọng bình thản và lớn đủ nghe, nói chậm:

  • Từ lúc tôi ra đời đến khi được lịnh đến Đa-mách, tôi không thể nhận Jêsus là Đấng Cứu Thế. Nhưng kinh nghiệm thực vì Jêsus đã hiện ra với tôi trên đường đến Đa-mách, bây giờ tôi nhìn nhận Ngài là Cứu Chúa của tôi, tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi sự.
  • Theo Thánh văn và các tiên tri thì Đấng Cứu Thế sẽ được sanh ra tại Bết-lê-hem, không phải tại Na-xa-rét như Jêsus
  • Với tất cả tài liệu ghi lại thì Đấng Cứu Thế Jêsus đã giáng sanh tại Bết-lê-hem đúng như lời tiên tri, sau đó Ngài đã chuyển về sinh sống tại Na-xa-rét để tránh bị giết hại bởi vua bù nhìn Hê-rốt.
  • Nhưng nếu là Đấng Cứu Thế thì làm sao chết được như Jêsus?
  • Đúng là Jêsus đã chết nhưng là cái chết được dự báo trước từ Thánh văn như đã dự báo qua chiên con trong Lễ Vượt Qua, như các tiên tri, như tiên tri Êsai chương 53, và là chết đền tội cho người tin Ngài. Điều quan trọng là Jêsus đã sống lại như các vị đã nghe, đã biết tại Giê-ru-sa-lem, đã thăng thiên về trời có hơn năm trăm người xem thấy. Cá nhân tôi đã được Ngài hiện ra trên đường đến Đa-mách như tôi đã thuật cho các vị nghe.
  • Ông là người có học, có quyền thế, có tương lai, tại sao lại từ bỏ để theo một Jêsus tôn làm Đấng Cứu Thế?
  • Thưa các vị, như tôi đã trình bày, qua sự hiện thấy trên đường đến đây, Chúa Jêsus đã phạt tôi mù mắt ba ngày, nếu không nhờ một người tin Ngài làm Đấng Cứu Thế đến nhơn danh Ngài cầu nguyện chữa lành cho tôi, ban lại ánh sáng cho tôi, thì tôi đâu còn được đứng trước các vị hôm nay. Thưa các vị, kể từ đó tôi không dám chống cự với sự hiện thấy trên trời, cũng như tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Chúa Jêsus đâu, vì biết rõ đó là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu người nào tin Ngài.

Ngay lúc đó, có một người đứng dậy la lớn:

  • Sau-lơ, ông điên rồi. Ông học nhiều quá nên đã điên rồi. Thiếu chút nữa ông đã khuyên chúng tôi trở nên môn đồ của Jêsus.

Vừa nói đến đây, cả Nhà Hội đứng dậy la ó, những nắm tay đưa lên tỏ ý phản đối, người quản lý Nhà Hội lập tức ra hiệu cho những trật tự viên trong Nhà Hội kéo tôi ra cửa phía sau, một mặt đứng lên ra dấu yêu cầu mọi người im lặng, giữ trật tự.

Tôi phải thoát ra cửa sau tránh đám đông giận dữ trở về nhà của một người tin Chúa Jêsus mà A-na-nia đã giới thiệu cho tôi ở. Căn nhà nầy nằm trên vách tường thành Đa-mách.

Bước vào nhà, lòng tôi buồn bực, đau đớn trước sự cứng lòng của đồng bào tôi chống nghịch với Đấng Cứu thế Jêsus. Tôi báo cho chủ nhà là Ê-li-áp biết là tôi muốn kiêng ăn cầu nguyện hôm nay. Vào phòng riêng, tôi quỳ xuống trước mặt Chúa, tôi thưa với Chúa như tiên tri Giê-rê-mi ngày xưa: Chúa ơi, ước gì đầu con là suối nước, mắt con là nguồn lụy, để con vì dân tộc con mà khóc suốt ngày đêm. Tôi nói với Chúa Jêsus của tôi: con ước ao có thể chính mình tôi bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác, tức là dân  Y-sơ-ra-ên. Con cầu xin Chúa cho họ được cứu.

Tôi đã ở riêng với Chúa suốt ngày. Đến gần khuya, trong lúc mọi vật yên tĩnh, tôi vẫn còn quỳ trước mặt Chúa. Nhưng tôi không nản chí, suốt mấy ngày sau, tôi tìm đến những người Giu-đa có chức quyền quen biết trước đây để làm chứng cho họ Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời. Tôi nán lại Đa-mách vài tuần, đến ngày Sa-bát tìm đến các Nhà Hội trong những khu vực của cộng đồng người Y-sơ-ra-ên giải thích, làm chứng, kêu gọi họ ăn năn và tiếp nhận Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế.

Đêm nay, sau giờ cầu nguyện xin Chúa Jêsus chỉ dạy tôi phải làm chi cho Chúa, cũng tiếp tục cầu nguyện xin Chúa Jêsus cứu lấy dân tộc tôi, thì nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ nhưng có vẻ khẩn cấp. Ê-li-áp, chủ nhà bước vào theo sau là A-na-nia, cánh cửa khép lại.

  • Anh Sau-lơ, chúng tôi vừa được tin báo là có một số người Giu-đa họp lại chiều nay, họ quyết tâm ngày mai sẽ bất cứ giá nào cũng làm hại anh. Vì vậy anh em chúng tôi bàn với nhau là khuyên anh sớm rời Đa-mách trở lại Giê-ru-sa-lem. Nếu được, tốt hơn hết là nhơn cơ hội đêm nay, anh đi liền.


Tôi cảm thấy sờ sợ, một sự yếu đuối trước những lời hăm dọa mà anh em đã báo.

  • Nhưng tôi sẽ ra đi bằng cách nào?
  • Chúng tôi đã chuẩn bị phương tiện. Cảm ơn Chúa là ngôi nhà nầy nằm sát tường thành, chúng tôi sẽ để anh vào một cái thúng, dòng anh xuống dưới thành, và xin Chúa gìn giữ anh bình an về tới Giê-ru-sa-lem. Anh đồng ý chứ?

Thế là anh em để tôi vào một cái thúng, dòng tôi xuống trong đêm khuya, ấy là tôi thoát.

Trời ban đêm, ánh sáng yếu ớt của mặt trăng chỉ đủ cho tôi thấy con đường trước mặt. Nhưng tôi không dám đi đường chính, tôi len vào cánh rừng thưa bên đường xuôi về phía Giê-ru-sa-lem. Vừa bước đi lòng tôi vừa xót xa khi nghĩ đến những âm mưu mà đồng bào tôi là những người Giu-đa toan hại tôi. Tôi chỉ mong mỏi đem Tin Lành cho họ thôi mà, tôi không hề có ý tưởng gian ác nào cho họ, không mưu cầu danh, lợi, quyền đời nầy, chỉ mong họ được cứu khỏi tội lỗi, khỏi hình phạt đời đời nơi hỏa ngục, mong họ được Chúa Jêsus làm Đấng Cứu Thế thay vì để quỉ Satan làm chủ đời sống của họ, muốn cho dân tộc tôi hưởng những ngày tươi sáng, những ngày trời trên đất… Thế sao họ lại muốn hại tôi?

Những bước chân loạng choạng trên đồi núi, giữa rừng hoang. Tôi nhớ ngày tôi từ Giê-ru-sa-lem đến Đa-mách sao huy hoàng, kẻ đón người đưa, bây giờ trở về trong cảnh lén lút, trốn tránh ợ sệt. Tôi cảm thấy không hơn gì tổ phụ của tôi là tiên tri Ê-li khi Hoàng hậu Giê-sa-bên hăm dọa ông, dù ông mới vừa hào hùng thách thức bốn trăm năm mươi tiên tri thờ tà thần Ba-anh trên đỉnh núi Cạt-mên, rồi tận tay giết hết số người dụ dỗ dân tộc Y-sơ-ra-ên của tôi thờ tà thần đó, dù người đã cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban cho một cơn mưa sau ba năm rưởi hạn hán. Tôi nhớ hình ảnh của tiên tri Ê-li yếu đuối nằm ngủ dưới cây giếng giêng đòi chết. Tôi chưa chết được, tôi phải sống để trả nợ yêu thương cho dân tộc tôi, không chỉ dân tộc tôi mà còn mắc nợ người Hi Lạp, người dã man, người học thức lẫn nọ người bình dân dốt nát. Có một gánh nặng giảng Tin Lành lớn lắm mà Chúa Jêsus đã đặt trên vai tôi. Tôi nhớ những lời của anh A-na-nia nói, Chúa đã chọn tôi là một đồ dùng cho Chúa để đồn danh Ngài ra dân ngoại, các vua, và con cái Y-sơ-ra-ên. Tôi nhớ câu cuối cùng mà anh A-na-nia đã nói, Chúa phán: Ta lại sẽ tỏ ra cho người biết phải chịu đau đớn vì danh ta là bao nả. Tôi cảm nhận một tương lai nhiều nguy hiểm, khó khăn. Một cơn gió khuya thổi qua, tôi rùng mình vì sợ, Chúa ơi, con sợ không làm trọn nhiệm vụ Chúa giao!

Cuối cùng tôi cũng về đến ngôi nhà của tôi tại Giê-ru-sa-lem. Tôi gõ cửa và chờ đợi. Một sự im lặng làm ngạc nhiên, không có ai mở cửa, không ai chào đón, kể cả vợ con của tôi. Điều gì xảy ra? Một lát sau, cánh cửa mở, người xuất hiện trước mắt tôi là vợ của tôi. Nàng ăn diện rất đẹp, một tay mở hé cửa, một tay chỉ ra phía sau lưng tôi và nói:

  • Ngôi nhà nầy không tiếp anh. Anh đã bị từ bỏ từ khi anh theo Đấng Cứu Thế Jêsus của anh. Tôi báo cho anh biết, ngày mai, anh hãy đến nghe Hội Đồng Quốc gia phán xử.

Câu nói vừa dứt, cánh cửa đóng sập vào. Tôi nghe tiếng chìa khóa. Với luật lệ mà tôi đã học, tôi biết qua uy quyền của Hội Đồng Quốc gia theo lời và cách nói của vợ tôi, tôi đã bị đuổi khỏi cộng đồng Y-sơ-ra-ên, bị coi là người ngoại bang.

Một lần nữa nõi đau từ con tim của tôi nhói lên, bao nhiêu năm chung sống, dù biết rằng không hạnh phúc gì, nhưng tôi vẫn nghĩ dù không còn tình vẫn còn nghĩa; bao nhiêu năm chung sống dù chỉ là ước lệ vì đứa con, nhưng không ngờ người vợ của tôi đối với tôi phũ phàng như thế.

Quay lưng trở ra, tôi biết tôi đã mất tất cả. Tôi nhớ những kinh nghiệm của vua Đa-vít trong Thi thiên 30:5, vì sự giận Ngài chỉ trong một lúc, còn ơn của Ngài có trọn một đời. Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng và trong Thi thiên 27:10, 13, Khi cha mẹ bỏ tôi đi, thì Đức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận tôi… Ôi! nếu tôi không tin chắc rằng sẽ thấy ơn của Đức Giê-hô-va tại đất kẻ sống, thì tôi hẳn đã ngã lòng rồi! … Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va; Hãy vững lòng bền chí! Phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va.

Vừa bước đi tôi vừa lẩm bẩm mời bài hát mới:

Sự bình an trong Jêsus, như trên một dòng thu,
Thật là con sông thái an, long lanh in trăng vàng.
Tâm ta nương nơi Jêsus, ưởng biết bao ơn lành;
Chúa hứa ban cho lòng ta sống thái nhiên an bình.
Đặt mình trong tay Jêsus, tiêu tan mõi sầu u.
Satan không sao cám dỗ tôi, yêu ma dan xa rồi.
Ta nay không lo lắng chi, ắt chẳng hoang mang gì,
Cũng chẳng đauu thương sầu bi, vững chí muôn muôn thì.

Đi đâu? Tôi nhớ đến miếng da chiên của Ê-tiên nói đến một chỗ hội họp của những người tin Chúa Jêsus, nơi đó có các sứ đồ là những người từng theo Chúa Jêsus, được Chúa Jêsus chọn để lãnh đạo, có lẽ đó là nơi tốt nhất tôi đến được, ít ra cũng giải quyết được chỗ trú ngụ trong lúc cần nầy.

Đó là một căn phòng cao, khá rộng có sức chứa trên một trăm người, ngôi nhà có nhiều người ra vào. Tôi đang dần dừ chưa biết làm gì, thì chợt nhận ra dường như một số người đang chỉ vào tôi với vẻ mặt lo sợ, họ xầm xì điều gì đó về tôi rồi tảng ra ngoài đi nơi khác. Chắc chắn đã có người còn nhớ mặt tôi, người từng chỉ huy cuộc hành hình Ê-tiên, chỉ huy cuộc bố ráp chém giết, đàn áp những người tin Chúa Jêsus tại thành Giê-ru-sa-lem nầy. Họ nghi ngờ tôi! Tôi thấy mình đáng chết thật, đã làm những việc mù quáng, ngu dại. Nhưng tôi cứ bước tới và có một phụ nữ đến gặp tôi.

  • Tôi là Ma-ri, mẹ của Giăng gọi là Mác, là chủ căn nhà nầy. Nếu tôi không lầm thì ông là Sau-lơ, đại diện của Hội Đồng Quốc gia tại Giê-ru-sa-lem nầy?
  • Thưa bà, tôi đúng là Sau-lơ – tôi lấy hết can đảm và nhẹ nhàng trả lời. Trước đây tôi đã làm những việc ngu muội, vì lúc đó tôi chưa tin Chúa Jêsus. Nhưng bây giờ tôi đã tin Chúa Jêsus và là nô lệ của Ngài. Tôi muốn được gia nhập Hội thánh của Chúa Jêsus, muốn được làm một thành viên trong gia đình của Chúa Jêsus Christ.

    Tôi nói liền một hơi để trấn áp nỗi runn sợ trước một sự việc chưa từng có trong đời sống tôi. Tôi sợ rằng nếu ngừng lại tôi sẽ không còn can đảm để nói hết điều lòng tôi muốn nói.

Người phụ nữ đó im lặng nghe, rồi yêu cầu tôi chờ đợi một chút, bà ấy quay vào. Một lát sau bà trở ra với câu trả lời là xin tôi trở lại lúc khác. Một bóng tối đột nhiên trùm xuống tôi. Tất cả nghi ngờ tôi! Không lẽ không ai tin rằng một kẻ thù có thể trở thành một người bạn hay nói mạnh hơn kẻ thù của Chúa Jêsus có thể trở thành nô lệ cho Ngài hay sao?

Tuyệt vọng chăng? Nhưng lời Chúa phán qua anh A-na-nia vang lên: Ta lại sẽ tỏ cho người biết phải chịu đau đớn vì danh ta là bao nả… Tôi phải trả giá việc tôi đã làm, chắc chắn Chúa muốn tôi xác định là tôi nhìn vào Chúa Jêsus là cội rễ và cuối cùng của đức tin chứ không phải là con người, dù những con người đó là các sứ đồ. Tôi có nản lòng nhưng lòng tôi không nản, người đời còn nói vạn sự khởi đầu nan, thì tôi không thể mới bắt đầu đã nản. Người đời cũng nói: Đừng lo, kẻ thù của ta không hiểu ta, nhưng bạn ta sẽ hiểu ta.

Thật sự tôi bước đi mà lòng nặng trĩu, mệt mỏi càng mệt mỏi thêm. Thình lình tôi nghe có tiếng gọi tôi và tiếng bước chân nhanh như chạy phía sau. Tôi quay lại và thấy một người cũng trạc bằng tuổi tôi, miệng người đó nở nụ cười, tay đưa ra nắm lấy tay tôi và giới thiệu:

  • Anh Sau-lơ, tôi tên Ba-na-ba, mọt nông dân thôi, nhưng tôi tin Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế của tôi. Tôi vui lắm khi biết anh cũng đã tin Chúa Jêsus. Tôi muốn mời anh về nhà tôi nghỉ, được không?

Còn gì tốt hơn nữa trong lúc nầy. Thế là tôi nhận lời. Lòng tôi cảm ơn Chúa Jêsus vì Ngài không để tôi mồ côi, Chúa đã sai anh Ba-n-ba đến đúng lúc tôi cần, rất cần, dù ai không tin phép lạ, nhưng đó thật là phép lạ mà Chúa Jêsus đã làm cho tôi.

Nhà của Ba-na-ba là một nhà nhỏ, nhưng sắp đặt thứ tự và sạch sẽ. Anh Ba-na-ba đã đãi tôi một bữa ăn đối với tôi là ngon nhất từ trước tới nay do chính tay anh nấu nướng.

  • Anh ở đây một mình? Tôi hỏi anh Ba-na-ba.
  • Tôi có một đứa cháu nữa, nó là con của chị chủ nhà lúc nảy anh đã gặp đó. Nó tên là Giăng cũng gọi là Mác. Thỉnh thoảng nó đến ở đây với tôi cho vui. Anh có thể ở đây với tôi, có thể ngủ ở phòng của cháu Mác, vì nó đang ở nhà mẹ của nó để học Kinh thánh với các sứ đồ.
  • Có phiền anh lắm không?
  • Không phiền gì cả. Đúng ra tôi có một nông trại lớn, nhưng vì anh chị em trong Hội thánh nhiều người quá nghèo, nên tôi đã bán để lấy tiền giúp đỡ họ - Ba-na-ba vừa nói vừa cười – Thật ra tôi tên là Giô-sép, nhưng các sứ đồ lãnh đạo đặt tên tôi là Ba-na-ba, vì họ nói tôi đã đem sự an ủi đến cho những người nghèo, đáng gọi là con trai của Đấng Yên Ủi. Xin lỗi anh, anh đừng cho tôi khoe khoang nhé. Tôi vui vì được bắt chước Chúa Jêsus cứu giúp những người khác, nên buột miệng nói với anh.

Tôi ở nhà của Ba-na-ba mấy hôm, thấy anh rất bận rộn vì đi thăm viếng những người mới theo Chúa Jêsus. Tôi cũng tháp tùng với anh được mấy lần. Trong thời gian nầy tôi tìm cách liên lạc với vợ con của tôi, nhưng Hội Đồng Quốc gia đã ra thông báo loại trừ tôi, và nàng mượn tiếng cha của nàng nhắn tin là nàng đã được Hội Đồng Quốc gia chấp thuận chính thức li hôn với tôi, và Họi Đồng Quốc gia phán quyết cho nàng được giữ đứa con trai và toàn bộ gia sản. Tôi không tiếc gia sản nhưng tình cha con làm xốn xang tôi và đó là nỗi đau của tôi suốt đời.

Để tránh nỗi đau nghĩ đến hằng ngày, tôi nghĩ giải pháp tốt nhất là tạm thời rời xa Giê-ru-sa-lem, vì vậy, tôi xin phép anh Ba-na-ba trở về quê tại Tạt-sơ, hẹn có cơ hội sẽ tìm gặp lại anh. Nhưng trên đường đi tôi đổi ý dừng chân tại A-ra-bi, ở nơi đồng hoang một thời gian rồi mới về Tạt-sơ.

Thời gian hai năm trôi qua, tôi có thì giờ tra xem lại Thánh văn của Môi-se và các tiên tri, tra cứu những gì Ê-tiên ghi chép trong miếng da chiên. Trong đó Ê-tiên nhắc đến những lời dạy của Chúa Jêsus sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại đã dành bốn mươi ngày dạy riêng các môn đồ đầu tiên về sứ mạng truyền giảng Tin Lành với chiến lược bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem đến Giu-đê, rồi đến Sa-ma-ri, khi ấy mới đến cùng trái đất. Ê-tiên cũng ghi lại lời của hai vị thiên sứ phán lúc Chúa Jêsus thăng thiên là Ngài sẽ trở lại y như cách Ngài lên trời, nghĩa là Chúa Jêsus sẽ từ trời trở lại một lần nữa.

Điều kỳ diệu là Ê-tiên ghi lại cách mà Hội thánh của Chúa Jêsus được thành lập trong ngày Lễ Ngũ Tuần do Đức Thánh Linh giáng lâm đầy dẫy các môn đồ, thúc giục họ, khiến họ hiệp một nhau rao giảng Tin Lành, vượt mọi khó khăn ngôn ngữ, vượt qua tị hiềm cá tánh, không còn mặc cảm nam nữ, già trẻ, bắt tay nhau rao giảng về Chúa Jêsus chịu chết đền tội như thánh văn đã ghi, Chúa Jêsus đã sống lại như thánh văn đã chép và chính Chúa Jêsus cũng phán trước. Đặc biệt là lúc nào cả Hội thánh trong thì hiệp một yêu thương, quyết liệt với tội lỗi như trường hợp vợ chồng A-na-nia và Sa-phi-ra, các vị sứ đồ lãnh đạo không coi bị đòn roi vì Chúa Jêsus là sỉ nhục mà là vui mừng…

Càng đọc, tôi càng hổ thẹn khi nghĩ đến những việc xấu xa của tôi đối với Hội thánh, nếu không bởi ơn thương xót của Chúa Jêsus thì tôi đã bị chết mất từ lâu.

Càng đọc, tôi càng nghe rõ ràng tiếng Chúa Jêsus kêu gọi tôi dâng trọn cuộc đời trả nợ yêu thương của Chúa bằng cách ra đi rao giảng về Chúa Jêsus cho toàn thế giới.

Một ngày, tôi được tin có người tìm tôi. Lâu quá, hơn hai năm rồi tại Tạt-sơ hầu như không ai tìm tôi. Hôm nay lại có người tìm. Ai vậy?

  • Anh Ba-na-ba! – tôi reo lên và vui biết chừng nào, chúng tôi ôm nhau và chào nhau bằng cái hôn thánh.

Sau khi chào thăm, anh Ba-na-ba cho tôi biết anh được Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem cử đến An-ti-ốt để kiểm tra tình hình phát triển Hội thánh tại An-ti-ốt. Anh thuật lại Chúa đã ban cho Hội thánh tại đó mọi ơn lành rất lớn, người tin Chúa cũng đông lắm. Anh khuyên tôi cùng anh đến An-ti-ốt để cùng lo công việc Chúa.

Tôi thấy Đức Chúa Trời đã trả lời cho tôi, lòng tôi nóng nảy muốn dâng mình rao giảng Tin Lành cho Chúa Jêsus thì Chúa đã đưa anh Ba-na-ba đến tìm tôi. Và tôi đã đến An-ti-ốt.

Tại An-ti-ốt, tôi tìm được những cơ hội góp phần công việc Chúa, được làm chứng thế nào Chúa Jêsus đã bày tỏ chính Ngài là Đấng đã chết cho tội lỗi của tôi và đã chứng minh Ngài hằng sống qua kinh nghiệm gặp Chúa Jêsus của tôi. Chúa cũng cho tôi được đem những điều đã học từ Thánh văn của Môi-se và các tiên tri nói về Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế cùng những tài liệu mà Ê-tiên đã để lại, giải bày cho anh chị em trong Hội thánh. Điều mà tôi thật được an ủi là anh chị em trong Hội thánh tại An-ti-ốt vui lòng đón tiếp tôi, họ đã bỏ qua những tội ác mà tôi đã phạm với Chúa qua việc đàn áp Hội thánh của Chúa Jêsus. Thêm vào đó, anh Ba-na-ba thật đúng như ý nghĩa tên của anh – con trai của sự yên ủi – anh đã yên ủi tôi rất nhiều, nhất là những khi tôi nhớ đến gia đình vợ con của tôi, đứa con trai mà yêu quý đang ở tại Giê-ru-sa-lem.

Nhiều lần tôi đã tìm cách liên lạc để biết tin tức gia đình vợ con tôi, nhưng tin tức tôi nhận được vợ tôi không còn muốn liên hệ với tôi. Tôi biết với quyền lực của Hội Đồng Quốc gia, tôi bị kể như người đã chết. Thật như một bài thơ đã diễn đạt hoàn cảnh của tôi hiện nay:

Đời nầy tôi kể mình đã chết đi,
Cõi thế đối tôi thật như chết rồi…

Tôi thương người vợ của tôi dù rằng nàng làm khổ tôi, đã đuổi tôi đi, tôi cũng rất thương con tôi dù nó sẽ lớn lên và không hiểu tại sao tôi lại bỏ nó. Nhưng khi nghĩ đến tình yêu thương của Chúa Jêsus dành cho tôi, lúc nào tôi cũng mong mỏi vợ con tôi hiểu rằng:

Dầu rằng tôi có toàn cả thế giới,
Đem dâng cho Chúa vẫn hèn mọn thay!
Kỳ diệu thay ái tình Chúa thắm tươi
Xui tôi vui dâng hồn, thân, cả rày
.

Bây giờ nghĩ lại, tôi biết rằng tôi đã gieo giống chi thì phải gặt giống ấy. Cuộc hôn nhân của tôi lúc bấy giờ hoàn toàn chỉ là lợi dụng nhau. Vì qui định của dòng Pha-ri-si và tham vọng vào Hội Đồng Quốc gia, tôi đã cưới nàng khi tôi vừa qua khỏi tuổi vị thành niên và nàng là con gái của một Nghị viên Hội Đồng Quốc gia quyền lực. Ngược lại nàng cũng được cha mẹ nàng dùng như một miếng mồi ngon kéo vào một người có khả năng và danh tiếng như tôi. Nói theo người thế gian là ‘ông thần cậy cây đa, cây đa cậy ông thần’.

Tình yêu thương vợ chồng của tôi không phải là một cái ấn nơi lòng, một cái ấn trên cánh tay, mà là một cái thẹo của một vết thương nặng. Bây giờ sau khi tin Chúa Jêsus, lòng yên tĩnh, tôi đọc lại Thánh văn của vua Sa-lô-môn trong Nhã ca 8:7, …Nếu người nào đem hết tài sản nhà mình, đặng mua lấy ái tình, ắt người ta sẽ khinh dễ nó đến điều, tôi thấy mình ngày xưa mù mắt, ngay cả vợ chồng cũng lợi dụng nhau, thật như bài thơ:

Tôi sanh trong thế gian, người u tối,
Lòng ngu si, xấu xa không xiết kể.
(Lời một bài thánh ca)

Bây giờ tôi đã tin nhận Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế của tôi, Đấng yêu thương làm Chủ đời sống của tôi, tôi mong ước làm sao nàng cũng hiểu được Chúa Jêsus và hiểu lòng tôi đang nghĩ đến nàng và đứa con, để gia đình tôi đoàn tụ. Nhưng tất cả đã không còn! Chúa Jêsus ơi, con xin trái tim của con cho Ngài, và con đầu phục câu trả lời của Chúa: ân điển ta đủ cho ngươi rồi… Chúa đã cho phép tôi có một thất bại trong đời sống gia đình là để tôi không kiêu ngạo, tôi không phải người trọn vẹn, những nhức nhối trong tình cảm sẽ là cái thắng cho đời sống của tôi.

Tags

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 3 guests online.

Hosting by