You are hereKẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ (Chương IV)

KẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ (Chương IV)


By admin - Posted on 24 January 2011

KẺ THÙ THÀNH NÔ LỆ
CHƯƠNG IV
MỘT ĐỜI LẬN ĐẬN
*****************************

 

"... Ta đã chọn người nầy làm một đồ dùng ta,
để đem danh ta đồn ra trước mặt các dân ngoại,
các vua, và con cái Y-sơ-ra-ên;
ta lại sẽ tỏ ra cho người biết phải chịu đau đớn vì danh ta là bao nả". (Công vụ 9:15-16)
.

 

Có người nói người đó sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu, vì cuộc đờì người đó đầy lận đận. Nhưng tôi được sinh ra trong một hoàn cảnh rất tốt, lớn lên trong môi trường cũng rất tốt, có một tương lai theo con mắt của mọi người thì tương lai đó cũng rất tốt. Tôi chịu cắt bì ngày thứ tám (đúng luật định), về dòng Y-sơ-ra-ên, chi phái Bên-gia-min, người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ; về luật pháp, thì thuộc phe Pha-ri-si; về lòng sốt sắng, thì là kẻ bắt bớ Hội thánh; còn như về sự công bình của luật pháp, thì không chỗ trách được.

Rồi từ ngày tôi ăn năn tội, tin Chúa Jêsus làm Đấng Cứu Thế của tôi, đời sống rẽ sang lối khác, ở dưới ngôi sao xấu hay tốt là theo cái nhìn từ hướng của thế gian hoặc từ hướng của Chúa. Trước tôi và trong đời tôi, và tôi nghĩ sau tôi nữa, có rất nhiều người Pha-ri-si, nhưng tất cả họ qua đi và không ai nhớ đến họ, còn tôi, một người Pha-ri-si nhưng từ bỏ mọi sự để được Chúa Jêsus Christ thì được điều gì?

Có một nhà thơ lớn thắc mắc rằng ba trăm năm sau có ai khóc cho mình không? Tôi thì không nghĩ có ai khóc cho mình không, vì hiện tại mới có thể định giá cho tương lai, tôi cũng không nghĩ ba trăm năm sau, nhưng thời gian của tôi bây giờ là đời đời. Kể từ ngày tôi tin theo Chúa Jêsus Christ thì mọi sự đối với tôi chỉ là sự lỗ, Ngài là Chúa tôi, tôi vi Chúa Jêsus mà liều bỏ mọi sự miễn là tôi được ở trong Ngài, được giống như Ngài trong sự chết Ngài, và mong cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết.

Có người thấy tôi lìa bỏ tương lai sáng lạn theo thế gian, đã cho là tôi mất trí vì học nhiều quá đến nỗi ra điên cuồng. Nhưng tôi biết Đức Chúa Trời đã để riêng tôi ra từ lúc còn trong lòng mẹ, Chúa đã lấy ân điển Ngài gọi tôi, vui lòng bày tỏ Con của Ngài ra trong tôi, hầu cho tôi rao truyền Con đó ra trong người ngoại đạo, thì lập tức tôi không bàn với thịt và máu. Tôi không hề hổ thẹn, vì tôi biết tôi đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự tôi phó thác cho đến ngày Chúa Jêsus Christ hiện ra đem tôi về với Ngài.

Ra đi làm giáo sĩ, tôi gặp những lúc vinh mà cũng có những lúc nhục, có những lúc được khen ngợi nhưng cũng có lúc mang tiếng xấu; có những lần bị người ta xem là kẻ phỉnh dỗ, đồ ôn dịch, nhưng lòng tôi làm chứng cho tôi rằng tôi là kẻ thật thà.

Vinh là những lúc đoàn truyền giáo của chúng tôi được hoan nghinh, có lúc được xem như thần thánh, như tại Lít-trơ, chỉ là một phép lạ chữa lành người què đủ để bao nhiêu người tôn chúng tôi làm thần, đem đến ba nhiêu là hoa quả, thức ăn ngon, cúng bái chúng tôi. Vinh đó rồi nhục đó, những kẻ ghét tôi, thù tôi vì đã không bách hại Hội thánh như họ muốn, đã xúi giục dân chúng ném đá chúng tôi, tôi đã chết nhưng nhờ ơn thương xót của Đức Chúa Trời, Ngài đã cho tôi sống lại để tiếp tục việc rao giảng về Chúa Jêsus.

Đến giờ nầy ngồi tổng kết lại con đường truyền giảng Chúa Jêsus cho các dân, kẻ cả dân Y-sơ-ra-ên, tôi thật ngạc nhiên vì Chúa đã cho tôi chịu khổ vì Ngài quá sức của một con người, dù đó là một người dũng cảm hay lực sĩ, huống chi một người yếu đuối như tôi.

Dù tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, tôi không ngại mà nói rằng so với những giáo sĩ khác, tôi chịu khó khọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đòi phen tôi gần phải bị chết; năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; môt lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. Lại nhiều lần tôi đi đường, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối, chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ. Còn chưa kể mọi sự khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội thánh.

Ngồi đây đếm lại từng ấy hoạn nạn, khó khăn, thật tôi chịu được mọi sự mọi sự đó là nhờ Chúa ban thêm sức cho tôi.

Điều kỳ diệu hơn nữa là tôi không có phương tiện riêng, không có điều kiện về tài chánh ngoài sự trợ giúp của các Hội thánh, cũng không có một toán bảo vệ nào, thế mà Chúa đã cho tôi đến với những thành phố dọc bờ Địa Trung Hải lên khắp vùng Tiểu Á, đến tận bán đảo Hi Lạp. Và cảm ơn Chúa cho tôi đặt chân lên bán đảo I-ta-li-a và sau cùng rao giảng về Chúa Jêsus ngay tại thủ đô của đế quốc La Mã, một đế quốc hùng mạnh để rồi chịu thuận phục Tin Lành của Chúa Jêsus.

Nhiều lúc tôi nghĩ, nếu tôi vẫn là một người Pha-ri-si, một nghị viên của Hội đồng Quốc gia Do thái, tôi có làm được chừng ấy việc như làm môn đồ cho Chúa Jêsus không? Câu trả lời chắc chắn là: KHÔNG! Suốt cuộc đời của tôi sẽ trói chặt trong một góc tối nào đó của thế giới tối tăm tội lỗi.

Ngoài những khó khăn từ bên ngoài, tôi còn ở giữa sự thử thách mà người Giu-đa mưu hại tôi. Họ luôn theo sát con đường tôi đi, nơi tôi ở được lâu nhất là hai năm như tại thành Ê-phê-sô, còn các nơi khác, công việc rao giảng danh Chúa Jêsus vừa có kết quả đôi chút thì những người Giu-đa thù ghét tôi kéo đến và họ dùng đủ cách để xúi giục dân chúng hoặc người cầm quyền địa phương bắt bớ tôi, đuổi tôi đi. Dù vậy, tôi cảm ơn Chúa vì nhờ sự truy đuổi đó Chúa dùng để buộc tôi  qua địa phương khác, cứ thế cuộc rượt đuổi không ngừng nghỉ, nhờ đó danh Chúa Jêsus được ra rao giảng khắp nơi.

Cái gì đã thúc đầy tôi đi rao giảng danh Chúa Jêsus cho dân tộc tôi, dù họ ghét tôi, muốn làm hại tôi? Nếu theo con người của tôi trước khi tin theo Chúa Jêsus chắc chắn những kẻ ghét tôi đã không thể ở yên với quyền lực tôi có trong tay. Nhưng tôi nhớ lại sự ngu muội của chính tôi khi chưa tin Chúa Jêsus, lúc nào cũng hận thù, cũng bảo thủ, lúc nào cũng muốn chứng tỏ uy quyền, thì lòng thấy yêu thương dân tộc tôi, muốn họ được cứu.

Không phải dân tộc của tôi không biết Đức Chúa Trời, trái lại rất kính sợ Đức Chúa Trời, đến nỗi lúc nào cũng tôn kính danh của Ngài, nhưng cứ muốn tìm theo ý riêng để chứng tỏ mình là công bình theo ý Ngài, kể cả theo cách của tôi là đàn áp ai theo Chúa Jêsus, vì tưởng rằng việc làm tàn ác đó là đẹp lòng Đức Chúa Trời.

Tôi muốn dân tộc tôi được cứu, nghĩa là như Chúa đã giao sứ mạng cho tôi khi Ngài kêu gọi tôi: "Đặng mở mắt họ từ tối tăm qua sáng láng, từ quyền lực của quỉ Satan mà đến với Đức Chúa Trời, để dân tộc tôi được tha tội và được hưởng gia tài với các thánh đồ". Tôi biết rằng dân tôi còn quá nhiều người nghèo khổ, bịnh tật, họ cần được cứu giúp vật chất, được chữa bịnh, nhưng những thứ đó họ có thể tìm được ở nhiều nguồn khác nhau trong đời nầy, còn được cứu rỗi thì dân tộc tôi không tìm được ở đâu ngoài Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế của tôi, như anh Phi-e-rơ đã nói trước Hội đồng Quốc gia.

Một người mà giờ nầy sau khi tin theo Chúa Jêsus rồi tôi thấy gần gũi, thấm thía khi đọc những lời của ông, ấy là tiên tri Giê-rê-mi. Trong phân đoạn ngắn trong sách của ông từ đoạn 8:18 đến đoạn 9:3, tiên tri Giê-rê-mi ba lần nói lên ước nguyện của ông đối với dân tộc của ông và cũng là dân tộc của tôi.

Tiên tri Giê-rê-mi đã ước gì "ông được yên ủi". Lúc tôi chưa tin Chúa Jêsus thì tôi cũng không quan tâm lắm lời ước nầy của Giê-rê-mi, vì ai cũng cần được yên ủi, nhất là khi Giê-rê-mi nhìn vào sự suy vong của dân Y-sơ-ra-ên trước sự tấn công của đế quốc Ba-by-lôn. Nhưng khi đọc thêm vài câu nữa, Giê-rê-mi nói rằng sự yên ủi mà ông cần là được nhìn thấy dân tộc của mình được cứu, vì thời gian mùa gặt đã qua, mùa hạ đã hết! Trong lúc đó dân tộc của ông lại thờ đầy dẫy hình tượng, đến nỗi nhà tiên tri so sánh: họ có bao nhiêu thành thì có bấy nhiêu thần; Giê-ru-sa-lem có bao đường phố thì họ có nhiều bàn thờ.

Điều ước thứ hai của tiên tri Giê-rê-mi là ông "ước gì được khóc". Tôi nhớ khi còn ngồi nơi chân các Ra-bi, tôi có hỏi tại sao ít thấy người nam khóc đến nỗi người đời còn nói: nam nhi đổ máu chứ không đổ lệ, mà lại thường thấy người nữ khóc đến nỗi người đời nói: nước mắt là khí giới của người phụ nữ? Một Ra-bi đã kể cho tôi nghe câu chuyện hư cấu rằng khi Đức Chúa Trời dựng nên người nam đầu tiên, Ngài có đặt trên gương mặt người nam vài giọt nước mắt. Nhưng sau một chút suy nghĩ, Chúa đã lau sạch những giọt lệ đó. Đó là lý do các thế hệ loài người tiếp theo không mấy khi thấy được những giọt nước mắt của người nam, chỉ có thể đoán và cảm nhận người nam đang khóc. Vậy mà hôm nay Giê-rê-mi ước được khóc không phải chỉ vài giọt lệ tượng trưng, nhưng khóc như dòng suối tuôn chảy suốt ngày đêm. Một ngôn ngữ hình tượng hóa thật cảm động! Điều khiến Giê-rê-mi muốn được khóc thật nhiều là vì nếu dân tộc không ăn năn tội để được cứu, thì họ sẽ bị hình phạt đời nầy cũng như đời sau. Chắc chắn tiên tri Giê-rê-mi đã nhớ đến lời Đức Chúa Trời phán dạy với vua Sa-lô-môn trong ngày vua cung hiến đền thờ: "Nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ".

Thật là cảm động khi tôi đọc lời ước thứ ba của Giê-rê-mi, ông "ước gì tôi có một cái quán khách bộ hành trong đồng vắng! Tôi biết tâm tình của nhà tiên tri nhìn thấy tội lỗi của dân tộc thì không chịu được, thêm nữa ông đã hết lòng hết sức kêu gọi dân sự quay về với Đức Chúa Trời, chẳng những họ không nghe mà còn chế nhạo ông, sỉ nhục ông. Tuy nhiên, dù buồn giận lắm, muốn bỏ đi thật xa không thèm quan tâm đến nữa, thì Giê-rê-mi chỉ ước có cái quán khách trong đồng vắng, ông chỉ muốn tạm ở thời gian ngắn, ở trong đồng vắng chịu chia xẽ cực khổ với dân tộc, không muốn ở một nước nào để hưởng sung sướng một mình.

Khi tôi chưa gặp Chúa Jêsus thì tôi được học biết rằng những ước muốn của tiên tri là những ước muốn của một người yêu nước trước nạn xâm lăng của đế quốc Ba-by-lôn giống như thời đại của chúng tôi trước đế quốc La Mã. Nhưng bây giờ tôi đã được Chúa Jêsus cứu, tôi được Chúa mở mắt nhìn thấy dân tộc tôi có nhu cần thuộc linh còn cao hơn nữa, nếu họ được cứu khỏi tội lỗi, khỏi hình tượng, khỏi con đường tà, thì Đức Chúa Trời sẽ cứu đất nước chúng tôi khỏi tai vạ.

Rồi tôi nhìn vào Cứu Chúa Jêsus của tôi, Ngài thật không muốn người nào chết mất, nhưng muốn mọi người ăn năn để được cứu, nên Ngài gác lại địa vị Đức Chúa Trời, hạ mình làm người, lại làm một tôi tớ để phục vụ nhân loại, mang sự đau ốm của con người, gánh sự buồn bực của con người, và chịu đòn roi đánh đập vì nhu cần bình an cho con người, và cuối cùng chết trên thập tự giá cho con người. Suy gẫm sự khổ nạn mà Chúa Jêsus chịu vì nhân loại trong đó có tôi, tôi nhận ra rằng cái khổ mà tôi chịu chỉ là sự dư thừa từ cái khổ mà Chúa Jêsus đã chịu vì tôi.

Vừa cảm cái ơn Chúa Jêsus cứu tôi, vừa với lòng yêu quê hương dân tộc, cùng yêu thương tha nhân, tôi đã đdi khắp nơi, giảng cho người Giu-đa cũng như cho người Hi Lạp, giảng cho người có học thức cung như cho người bình dân, người còn lạc hậu như thổ dân tại đảo Man-tơ; rao giảng về Chúa Jêsus giữa công chúng cũng như tại nhà riêng, không hề chú trọng đến nghi lễ, giáo hội, chỉ mong muốn dân mình và nhiều người được cứu.

Có người giảng một thứ Tin Lành thịnh vượng, khoe rằng người đó tin Chúa và phục vu. Chúa, nên được Chúa ban phước giàu có, thịnh vượng. Tôi không tin như vậy, dù tôi biết có những người được Chúa cho miễn trừ chịu khổ, nhưng tôi tin quyết rằng Chúa gọi tôi chịu khổ vì Ngài, như Ngài ?ã chịu khổ. Tôi không quan tâm tôi ở đâu, tôi chỉ quan tâm Chúa dùng tôi cứu được nhiều người trong dân tộc tôi.

Nghĩ lại cuộc đời lận đận, cũng có người lận đận như tôi đã viết những lời an ủi tôi:

 

Thập tự, Jêsus vác đi lao đao,
Còn mọi người thong thả sao?
Không phải, mỗi người có riêng một cây,
Hiện phần tôi cũng vác đây.

 

Đường nầy ngày xưa thánh dân không lùi,
Trên trời hiện nay sống vui;
Đang nếm hương vị ái tâm tinh thần,
Sạch lệ, thơ thái, vui mừng.

 

Thập tự đời tôi vác đi luôn luôn,
Giờ từ trần tôi mới buông;
Khi đến Thiên đàng, Chúa ban kim miện,
Dự phần tôi cũng có riêng.

 

Tôi cũng biết có những thánh đồ đã hãnh diện khoe rằng:

 

Ngàn lần tôi đau trong tâm linh, đuối sức đương khi đi trên nẻo gai,
Thân gian lao trong nơi u minh ruộng xa xăm lo gieo trong nước mắt tuôn,
Nhưng lời Chúa phán: Hãy đến, hỡi người trung tín, sẽ thưởng cả công khó!

\Vì vậy, có một lần tôi cũng chia sẻ tâm tình nầy với anh em trong Hội thánh tại thành Cô-rinh-tô, khích lệ họ hầu việc Chúa, thì có nhiều anh em đã than thở với tôi đang khi họ hầu việc Chúa bị tấn công nhiều mặt, bị rúng động, nhưng không thấy ai biết đến công khó của họ. Tôi nói với họ rằng: "Hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn". Hãy hầu việc Chúa cách dư dật luôn! Hãy hầu việc Chúa cách dư dật luôn!

Tags

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 0 guests online.

Hosting by