You are hereKỶ NIỆM MÁI TRƯỜNG XƯA

KỶ NIỆM MÁI TRƯỜNG XƯA


By admin - Posted on 09 March 2011

KỶ NIỆM

Ngày 25 tháng 4 năm nay (2011) là ngày kỷ niệm tôi tốt nghiệp Thánh Kinh Thần Học Viện tại Nha-trang tròn 40 năm (25/4/1971 - 25/4/2011). Tôi muốn việc những dòng chữ sau đây để ôn lại những quá khứ với biết bao kỷ niệm, nhớ đến những Vị Thầy đáng kính có người đã khuất chỉ còn vài người còn sống; cũng nhớ đến anh em đồng khóa, chung trường, cũng vài người đã khuất cũng vài người còn đây.

Tôi xin bắt đầu với bài thơ ngũ ngôn viết vào ngày 8 tháng 2 năm 1971.

Viết cho Trường Thần học.
(Kỷ niệm 70-71 và 4 năm trước)

Bốn năm về trước:
Tôi nhìn Trường xa lạ,
Lạ Thầy cũng lạ bạn,
Dù tất cả cùng Cha.
Tôi ngước nhìn ngơ ngác,
Nhưng chan chứa niềm tây

Năm sau trở lại:
Tôi lại được về đây,
Ngôi Trường thành bạn cũ,
Tôi mất vẻ thơ ngây.
Chào thầy chào bạn mới,
Thiết hữu cũng trở về

Hai năm qua tiếp:
Ngã lai đáo tại hề,
Trường cũ như năm nào,
Duy thầy tuổi chiều về.
Tôi ngỏ lời thăm hỏi,
Tiếng chào không như trước.

Tâm sự của tôi:
Tôi thấy mắt đọng nước,
Xa hẳn hai năm rồi,
Mất đi niềm ao ước:
Bạn, Thầy, luôn trẻ mãi,
Như ngôi Trường thân yêu.

Vị Thầy già nhất (Mục sư Viện Trưởng Ông Văn Huyên)
Năm nay người già yếu,
Gương mặt hằn nếp cũ,
Tuổi đời, đạo chất nhiều.
Người đã vừa bảy chục,
Nét chữ đã run run.

Vị Thầy yếu nhất (Mục sư Giáo sư Phạm Xuân Tín)
Người có nhiều tin hung[1],
Gánh nặng chồng gánh nặng,
Nhân lực kể đã cùn,
Chỉ trông vào thiên lực,
Bước chặng cuối khỏi xiêu

Vị Thầy mạnh nhất (Mục sư Giáo sư Vũ Văn Cư)
Người vắng bóng buổi chiều[2]
Mái tóc đã hoa râm,
Đôi vai luôn nặng trĩu,
Tiếng hát đã khàn đi[3]
Nhưng tâm lực chưa già.

Vị Thầy vắng mặt (Mục sư Giáo sư Revelle)
Người đã về xứ xa,
Hứa rằng sẽ trở lại
Tiếp tục việc rầy la[4].
Việt quốc, Huê kỳ quốc,
Đệ lai, Sư bất lai[5].

Vị Thầy vui nhất (Mục sư Giáo sư Phạm Văn Năm)
Chức vụ đã đổi thay,
Người lo Truyền Sâu Rộng[6],
Từ giã ngôi Trường nầy.
Tôi bùi ngùi luyến nhớ
Hình bóng của Thầy tôi.

Vị Thầy cao nhất (Giáo sĩ Giáo sư Sutherland)
Năm nay đã mang soi,
Tuổi vừa tròn bốn chục.
Dạy thêm nhiều môn mới,
Chú nhất về Tiên trị
Có lúc lệ đoanh tròng.[7]

Vị Thầy quen nhất (Giáo sĩ Giáo sư David Douglas)
Tôi gặp tại Vĩnh Long,
Giọng nói thật ngọt ngào,
Như ướp mật bên trong,
Chứng đạo và giải nghĩa,
Lúc nào cũng vui cười.

Vị Thầy mới nhất (Mục sư Kiều Toản và Giáo sĩ Steinkemp)
Hai Thầy đều thật tươi,
Thầy vàng cầm kỷ luật,[8]
Thầy trắng dạy ít người[9].
Nhị Vị đều cấp tiến,
Sống thực với cuộc đời.[10]

Các Bạn thân nhất (các bạn Năm Thứ Năm Tốt Nghiệp)
Làm sao nói hết lời,
Cái buồn dang da diết.
Rồi đây trong cuộc đời,
Mỗi người về mỗi chỗ,
Biết có gặp nhau không!?

Các Bạn mới nhất (các sinh viên Năm Thứ Hai và Năm Thứ Nhất)
Tôi, Bạn, một lần trông,
Tám tháng tưởng đủ lắm,
Thoắt cái ngựa qua song,
Mặt trời về chỗ cũ,[11]
Muốn nắm lại cũng đành.

Ngôi Trường yêu nhất:
Hỡi trường vùng biển xanh[12]
Trường dạy tôi linh lực,
Năm năm thật mong manh.
Giờ tôi, Trường, từ giã,
Bút mực viết gởi Trường.

Mục sư Trần Thái Sơn
Ngày 8 tháng 2 năm 1971

Nói đến Thánh Kinh Thần Học Viện Nha-trang là phải nói đến Mục sư Viện trưởng Ông Văn Huyên. Cụ vốn là một Tú Tài Nho học, dâng mình hầu việc Chúa thì sớm vào Trường Kinh thánh làm Giáo sư và làm Đốc học (thập niên 20 thế kỷ 20 gọi Hiêu trưởng là Đốc học), nên tánh tình Cụ nghiêm (có vẻ nghiêm khắc). Do đó suốt chẳng dài lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam đến năm 1976, Hội thánh chung không ai dám cử Cụ làm Hội trưởng, một phần vì kính trọng Cụ là "thầy" của hầu hết các Mục sư Truyền đạo trong Hội thánh, một phần có lẽ vì Cụ không mềm dẽo trong lãnh đạo (Vốn quen làm "thầy")

Cụ Mục sư Ông Văn Huyên chuyên dạy về  môn "Bốn Sách Tin Lành Hiệp Tham", Văn IV tức là dạy viết văn cao cấp, về môn Văn nầy các sinh viên dự học rất sợ cách dùng từ của Cụ, vì Cụ chủ trương Hán là Hán, nôm là nôm, không được pha trộn (thí dụ: ‘'trường hiệp' không được viết ‘trường hợp’; ‘'đơn côí' không được nói 'cô đơn'.). Đặc biệt Cụ chuyên dạy môn Tuyên Đạo Pháp. Môn Tuyên Đạo nầy  các sinh viên năm thứ hai được bắt đầu học với loại bài giảng theo Đề tài, các sinh viên năm thứ năm (lớp tốt nghiệp) học loại Giải Kinh.

Hầu như tất cả sinh viên học môn Tuyên Đạo đều rất sợ Cụ dạy, một phần vì tâm lý trước vẻ mặt dường như khó đăm đăm hầu như không cười của Cụ, một phần Cụ có tài mổ xẻ phân tích bài giảng, ai cũng bị Cụ mổ xẻ tận tình. Kỷ niệm mà tôi nhớ là có thầy được Cụ cho đề tài bài giảng thực tập trong lớp là: CHIẾC TÀU LẠ LÙNG. Khi thầy nầy giảng xong, Cụ bước lên và nói liền: "Thầy giảng đề tài CHIẾC TÀU LẠ LÙNG, mà tôi thầy thầy giảng cũng thiệt lạ lùng, không biết chiếc tàu lạ lùng ở chỗ nào. Rồi lại hát bài "Mau quăng dây cứu sanh" để kết luận cũng thiệt lạ lùng." Một thầy khác giảng đề tài: CON CHIÊN CỦA CHÚA, Cụ nói sau khi nghe thầy ấy giảng: "Từ đầu đến cuối tôi không biết thầy giảng con gì?"’ Một thầy giảng đề tài ĐẠO, tội nghiệp thầy quá sợ quá lo, suốt ngày đóng cửa phòng viết ra từng lời từng chữ bài giảng bằng quyển tập 100 trang dầy đặc chữ. Nhưng gần đến giờ lên giảng thực tập, thầy chạy lên tư thất của Cụ xin hoãn lại. Một lần, hai lần, lần thứ ba, Cụ dứt khoát không cho hoãn nữa. Ngày thầy nầy đứng lên giảng trong lớp, tóc rối, mặt bơ phờ (may là thầy mang kính nên khó thấy đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ), rủi thay khi thầy mới giảng độ mươi phút thì gió biển Nha-trang thổi vào làm bay những trang giấy quyển tập ghi bài giảng, thầy lính quýnh không còn biết đã giảng tới đâu, đành xin lỗi Cụ và anh em bước xuống.

Còn thêm chuyện các sinh viên những năm trước gom góp bài giảng đã giảng qua để lại thành một quyển tập được mệnh danh là ‘Bí Kíp Hóa  Giải Bài giảng của Cụ, các sinh viên đua nhau sao chép vừa để làm bài nào trúng tủ Cụ cho, vừa làm hành trang bài giảng ra Trường. Điều đáng buồn là vì tuổi cao, công việc đa đoan, Cụ thường bị bịnh lại phải đi nhiều nơi nầy nơi khác có khi do Hội thánh địa phương  mời, có khi vì công việc chung trong Giáo hội, nên giờ dạy của Cụ đa phần là nghỉ. Bởi đó mới có chuyện xảy ra vào buổi liên hoan giao thừa 70-71, thầy Nguyễn Thái Bình (bây giờ là Mục sư) đã ra câu hò: "Dạy mà không dạy, phê bình lung tung - hò lơ hó lơ lắng tai nghe hó lơ hò lờ", làm Mục sư Giám thị giật mình.

Thật ra phương pháp làm bài giảng của Cụ dạy chỉ gồm 4 câu hỏi: Có nghĩa gì? Lý cớ gì? Thế nào? Làm sao? Khi giảng ít nhất phải đạt ba tiêu chuẩn: công bố đề tài rõ ràng; bố cục rõ ràng người nghe ghi được; và thời gian qui định là 20 phút. Códạo, một vài vị đã ra Trường nhưng không làm Mục sư hiệp nhau phát hành tờ báo "Định Hướng" bán khắp nơi, trong đó châm biếm cách làm bài giảng của Cụ Mục sư Ông Văn Huyên là ba phần lớn sáu phần con. Nói thì nói, nhưng thành thật nhận rằng không ai qua được phương pháp làm bài giảng của Cụ, và người áp dụng nổi tiếng nhất phương pháp nầy là Mục sư Đoàn Văn Miêng.

Nói đến Mục sư Đoàn Văn Miêng, năm 1970 đương chức Hội trưởng Hội thánh Tin Lành Việt Nam, ra Nha-trang giảng dạy. Câu chuyện chúng tôi là các sinh viên tình cờ chứng kiến là lúc ấy hơn ba giờ chiều, Mục sư Phan Sĩ Kiểm chủ tọa Hội thánh tại Nha-trang, dùng xe Land Rover chở Mục sư Hội trưởng Miêng đến tư thất của Mục sư Viện trưởng, nhưng Cụ không có ở nhà, thế nên Mục sư Hội trưởng phải ngồi ngoài sân chờ. Lát sau Cụ lái xe của Cụ về, Cụ bẻ ngoặt tay lái đạp thắng lết bánh vào sân nhà, thắng lại, bước xuống, đến trước Mục sư Hội trưởng Miêng và nói (lúc ấy Mục sư Hội trưởng đã đứng lên chào Cụ): "Sao ông nói là 3 giờ và tôi ra phi trường chờ đến 3:15 chưa thấy? Ông ngồi đó chờ tôi lo công việc một chút". Nói xong, không đợi Mục sư Hội trưởng nói lời nào, Cụ quay ra xe nổ máy và chạy đi đâu đó, không buồn mời Mục sư Hội trưởng vào nhà. Tánh Cụ là thế!

Tuy nhiên, trong Viện, Cụ dường như khó lắm, nhưng có đi xa với Cụ sẽ thấy Cụ rất vui tính và bình dân. Có lúc anh em sinh viên đi cùng Cụ ra Vạn Giả, nửa đường Cụ bảo ngừng lại quán dọc đường uống nước dừa. Đang lúc ai cũng ngồi đợi nhà quán chặt dừa, Cụ tự lột dừa rồi đập lấy nước uống cách thành thạo trước sự ngạc nhiên thán phục của các sinh viên. Một lần đi ngang cầu Xóm Bóng, một người đàn bà đội nón lá đi bộ trước xe Land Rover Cụ đang lái, bà nầy không biết vô tình hay cố ý không chịu nhường đường. Khi xe của Cụ qua được, Cụ vói tay ra vỗ trên nón của bà ấy một cái và nói: "Tại sao không chịu tránh vào lề?", rồi tiếp tục chạy như không có gì xảy ra. Trong Hôn Lễ của Truyền Đạo Phan Minh Nghĩa (bây giờ là Mục sư), trong đôi mắt mù lòa nhờ người dắt lên bục giảng, Cụ kể câu chuyện vui của chính Cụ để mừng Thầy Cô Nghĩa. Cụ kể: Chuyện Cụ thuật đây có tựa đề là "‘Cơm nguội Cũng Ngon". Khi Cụ hầu việc Chúa tại Vĩnh Long, một buổi sáng vợ chồng Cụ có việc giận nhau, Cụ tức mình đạp xe chạy vòng vòng ngoài chợ Vĩnh Long. Đến trưa thì đói bụng, nhưng không muốn về nhà. Cụ định ý ghé vào quán hũ tíu ăn. Dừng xe lại, bước vào đến cửa quán, nhưng Cụ chợt nghĩ lát nữa trước khi ăn hũ tíu làm sao cầu nguyện khi trong lòng không vui? Cụ lại trở ra chạy vòng vòng, cuối cùng Cụ quay về nhà. Vào đến nhà Cụ thấy Cụ bà ngồi bên mâm cơm chờ mặc dù tất cả đã nguội lạnh, lòng cảm động, Cụ ngồi vào bàn và cầu nguyện ăn với Cụ bà. Cụ nói: Cơm Nguội Vẫn Ngon!

Một buồi chiều, tôi bị Cụ kêu lên văn phòng của Cụ, sau khi ngồi xong, Cụ cầm một bức thư có dán tem và hỏi tôi: "Thầy có quen ai tên Hương không?" Quá bất ngờ tôi không nhớ có ai quen tên Hương, nên trả lời: "Thưa Cụ, không có ai quen tên Hương"., nhưng ngay lúc ấy tôi chợt nhớ ra vội nói tiếp: "Thưa Cụ, chắc là Hường không phải Hương". Cụ hỏi: "Hường là ai?" Tôi đáp: "Dạ, là chị ruột của con". Cụ ngần ngừ một chút rồi đưa thư cho tôi, đúng là chị của tôi từ quê nhà gởi cho tôi. Cầm thư về phòng, tôi thắc mắc tại sao Cụ hỏi như vậy? Nhờ mấy anh bạn đồng khóa tôi mới biết là vì Cụ nghi tôi quen với cô "Hương" đang học trong Viện. Thì ra là vậy!

Nói thì nói thế, Cụ thật vất vả vì công việc Chúa, dù là Viện trưởng điều hành cả Viện, còn phải dạy, tuổi cao, Cụ còn phải đi giảng khi có Hội thánh mời, còn phải cáng đáng giải quyết những chuyện trong Hội thánh chung - mà đó là những chuyện rối lớn đến nỗi cấp Tổng Liên Hội cũng hầu như không giải quyết được phải cầu viện đến uy tín của Cụ. Thí dụ một lần vấn đề Nha Tuyên Úy Tin Lành. Theo luật của Bộ Quốc Phòng thì quân nhân chỉ được giải ngũ khi đến tuổi hưu, nhưng Điều lệ của Hội thánh chung thì qui định mỗi nhiệm kỳ bất cứ chức vụ nào cũng ‘hai Hội Đồng’ mà thôi, chủ tọa là hai năm. Mục sư Hội trưởng liền xin Bộ Quốc Phòng đặc cách cho các Mục sư Tuyên úy được giải ngũ theo Điều lệ của Hội thánh chung, Bộ Quốc Phòng chấp thuận, trong khi đó các vị Mục sư Tuyên úy kể cả Mục sư Tống là Giám Đốc Nha Tuyên úy không chịu, ngoài những lý do đưa ra có một lý do là Mục sư Giám Đốc đương mang cấp bậc Trung Tá do thâm niên giải ngũ, người mới vào thay sẽ lại chỉ mang cấp bậc Thiếu Tá đồng hóa sẽ thiệt hại quyền lợi. Vấn đề tạo nên một tranh chấp trầm trọng trong Giáo hội hầu như không giải quyết được, cuối cùng phải họp Ban Trị Tổng Liên Hội tại Thần Học Viện để có mặt Cụ Viện trưởng, nhờ Cụ nên các vị Mục sư Tuyên úy dù ép lòng cũng phải giải ngũ cho thay người mới.

Đến năm 1976, trong Hội Đồng Tổng Liên Hội, trước sức ép bên ngoài buộc Mục sư Đoàn Văn Miêng không được tái ứng cử chức vụ Hội trưởng, bên trong hậu trường Tổng Liên Hội bối rối không biết cách nào, thì giải pháp được đưa ra là mời Cụ Mục sư Ông Văn Huyên ra ứng cử - một điều chưa từng xảy ra trong lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam - lúc ấy Cụ đã 74 tuổi rồi. Khi được đắc cử chức vu. Hội trưởng, Cụ bước lên nhận lãnh với bài diễn văn ngắn kỷ lục: "TÔI XIN LÀM NGƯỜI GÁC CỬA QUA ĐÊM CHỜ BAN MAI ĐẾN! Chúng ta tiếp tục bầu cử". Mãi đến mười năm sau hơn Hội thánh chung chưa được tổ chức Hội Đồng chung để bầu người thay thế, một lần Cụ thốt lên: "Chúa ơi, sao đêm dài quá!".

Cuộc đời của Hai Cụ không có người con ruột nào, nhưng hóa ra lại hay, vì Cụ để lại biết bao nhiêu người con thuộc linh hầu việc Chúa. Dĩ nhiên, Cụ không phải là Vạn Thế Sư Biểu, nhưng Cụ xứng đáng để được tôn làm "Hội thánh Sư Biểu", từ đạo đức đến tinh thần phục vu. Chúa.

Ngày 29 tháng 7 năm 1999, Cụ đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin, Chúa đem Cụ về với Chúa. Tôi làm một Điếu văn kính viếng Cụ:

ĐIẾU VĂN
KÍNH VIẾNG CỤ HỘI TRƯỞNG
HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM
(Nguyên Viện trưởng Thánh Kinh Thần Học Viện Nha-trang)
Mục sư Ông văn Huyên

Theo Chúa chịu khổ, giá thập tự
Làm tôi trung tín, mão triều thiên

(Câu đối Lễ Tốt Nghiệp Trường Kinh thánh và Thánh Kinh Thần Học Viện)

Thương tiếc,
Đời người ngắn ngủi, ví thể hoa rơi.
Đã bảo rằng: Thất thập cổ lai hi, Môi-se bảo: Tám mươi là bất quá.

Cụ Hội trưởng, Mục sư tộc Ông văn, húy Huyên lại đã gần tròn thế kỷ, chín mươi tám, đường trời vui bước.

Sinh là ký, tử là qui. Trung với Chúa, nay Cụ qui về Thiên quốc. Mệnh đã thọ mà danh cũng thọ.

Tưởng nhớ:
Chí nam nhi, người quân tử, chữ trung làm trọng, nghe Chúa gọi một phen buổi Tin Lành sơ khai, Cụ dâng mình gánh vác.
Một lòng khao khát, dự học Thánh Kinh, thỏa chí tôi trung, dẫu thế mấy thân cũng còn hỷ lạc.
Hết dạ ước mơ, dạy Người Truyền Đạo, trọn niềm tớ thánh, cảnh ngộ nào hồn cũng anh linh.

Trải chức vụ Chúa ban Trung-Nam chủ tọa, Đốc học, Viện Trưởng, lại họp bàn lo công việc Chúa chung. Qua mấy Hội, Thánh Kinh Trường, Thần học Viện, một đời sản sinh người hầu việc. Những ước Ơn Trời đền đáp, trong ngày thử thách, tuổi bảy mươi tư, lại phải đứng lên làm người gác cửa qua đêm, chờ ban mai đến.

Nào hay đêm chưa tàn, một phần tư thế kỷ vầng thái dương chưa mọc, mà tuổi đã đầy, đau một trận Sứ Trời đón rước.

Hỡi ôi, tội lỗi hại thay, đất hoàn tro bụi.

Chúng tôi:
Tiếc người trung tín, xót nghĩa Thầy Trò,
Một Thân Đấng Christ, cùng chịu cùng vinh.
Tâm đã vui, xác tỏ dạ bùi ngùi quyết noi gương Người Thầy-Tớ thánh

Nhớ lời Thánh Kinh dạy bảo: Vui mừng mãi mãi, cầu nguyện không thôi, phàm việc gì cũng tạ ơn Chúa, ngâm một khúc thay lời tiễn biệt.

Bởi yêu Chúa, đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, giữ được niềm tin. Cụ chết vẫn còn, nơi Thiên quốc vui mừng, xác tạm gởi chờ ngày Chúa đến.

PHƯỚC THAY! PHƯỚC THAY!

Nhớ Thầy - Kính Viếng
Mục sư Trần Thái Sơn
Ngày 29-7-1999

[1] Bà Mục sư Tín đau nặng tưởng đã về với Chúa.
[2] Mục sư Cư rất thích thể thao, thường tham gia đánh bóng chuyền cùng các sinh viên. Năm nầy không còn thường xuyên nữa và cũng chỉ chơi vài phút cho vui.
[3] Mục sư Cư phụ trách việc tập hát cho Ban Hát của Viện, năm nầy vì lớn tuổi nên gịọng của Giáo sư không còn cao, mạnh.
[4] Mục sư Giáo sư Revelle dạy môn Thi thiên và Giám mục thư tín.
[5] Mục sư Giáo sư Revelle không trở lại dạy.
[6] Mục sư Giáo sư Phạm Văn Năm năm nầy phụ trách chức vụ Tổng Thư Ký Ủy ban Truyền Đạo Sâu Rộng Trung Ương.
[7] Trong lớp học Tiên tri, một học viên nữ tranh cãi nhiều quá khiến Giáo sư đổ lệ.
[8] Mục sư Kiều Toản mới về phụ trách Giám thị Viện.
[9] Giáo sĩ Steinkemp dạy môn Hebrew và Tân Ước Khảo Cổ, vì mới đến Việt Nam tiếng Việt chưa thông thạo, các môn học nầy thường sử dụng tiếng Anh, nên chỉ có 4 hoặc 5 học viên.
[10] Hai Vị thường chấp thuận những chương trình như tranh giải thể thao nhân Ngày Thanh Niên, ủng hộ tổ chức Câu Lạc Bộ bán Cà-phê, vài thức ăn gọn nhẹ buổi tối, tập và bút cần cho sinh viên. Tuy nhiên Ban Giáo sư không chấp thuận dù Hai Vị đã cố gắng yêu cầu.
[11] Khi khai giảng, thì mặt trời mọc ở một điểm hướng Đông, cứ thế chuyển dịch từ từ suốt 8 tháng, khi trở về vị trí lúc khai giảng thì đó là lúc mãn khóa.
[12] Thần Học Viện Nha-trang tọa lạc ven biển, ngay thắng cảnh Hòn Chồng.

Tags

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 1 guest online.

Hosting by