You are hereKỶ NIỆM MÁI TRƯỜNG XƯA (Phần 2)

KỶ NIỆM MÁI TRƯỜNG XƯA (Phần 2)


By admin - Posted on 16 March 2011

PHẦN 2
CÁC GIÁO SƯ

MỤC SƯ GIÁO SƯ PHẠM XUÂN TÍN

Trong bài thơ Kỷ Niệm ở trên, tôi gọi Mục sư Giáo sư Phạm Xuân Tín là Vị Thầy Yếu Nhất, vì ông có dáng người ốm yếu, chiếc áo veston của ông mặc đi dạy lúc nào cũng rộng thùng thình. Có lẽ những năm dài lặn lội trong rừng cao nguyên để truyền giáo cho các sắc tộc khi tuổi trẻ đã vắt kiệt sức của ông.

Mục sư Giáo sư Tín dạy Thần học cho các lớp, Ngũ Kinh, Giải Nghĩa Tiên tri Ê-sai, là những môn rất ‘khố. Đặc biệt là môn Truyền giáo Thiếu nhi. Thật khó tưởng tượng một người lớn tuổi, ốm, cao, có vẻ khô khan lại đứng ra vừa dạy vừa lúc nào cũng cổ xúy cho việc truyền và dạy đạo cho thiếu nhi. Những tập Thiếu nhi Tin Lành Ca được sử dụng trong các lớp Thiếu nhi đa số lời bài hát đơn sơ thích hợp giọng thiếu nhi đều do Mục sư Tín đặt hoặc dịch.

Mục sư Giáo sư Phạm Xuân Tín cũng được Chúa ban cho ân tứ viết sách. Phải nói trong làng văn phẩm Cơ-Đốc Tin Lành Việt Nam, hầu như chỉ có Mục sư Tín là người duy nhất viết sách đúng nghĩa (Mục sư Lê Văn Thái cũng có viết, nhưng là những sách từ việc cá nhân học Kinh thánh, nên sách mang tánh cách là bài học Kinh thánh). Các sách của Mục sư Tín viết có đặc điểm là chứa rất nhiều tài liệu tham khảo chứng tỏ ông là người đọc sách rất nhiều. Mục sư Tín có viết những quyển sách thuộc loại hiếm như:  ĐỜI TẬN TỤY, ghi lại công khó của những người hầu việc Chúa gồm cả tín hữu ít người biết đến; 'Tạp chí Truyền giáo' ghi thuật công việc truyền giáo giữa những người sắc tộc; Lượm Lặt là những câu chuyện ngắn sưu tầm liên quan đến chức vụ người hầu việc Chúa, như: c'hiếc xe của ông' (Mục sư) sạch thì bảo ông tối ngày chỉ lau chùi rửa xe; chiếc xe ông dơ thì bảo có chiếc xe mà cũng không giữ được sạch...; Thánh Kinh Nhập Môn có rất nhiều tài liệu về thời gian giữa Hai Ước ít có Mục sư Việt Nam nào biết; Tìm Hiểu Các Giáo Phái là một tóm tắt về các hệ phái Tin Lành chánh giáo lẫn tà giáo khá đầy đủ; Thần học Căn Bản là những giáo khoa được ông dạy cho lớp Cán sự và các Cô trong Viện. Người viết lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam không thể quên tập Lược sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam của Mục sư Tín, dù ngắn nhưng chi tiết từ buổi đầu Hội thánh được Chúa cho có mặt tại Việt Nam.

Tôi thật cảm phục tinh thần chăm học của Mục sư Tín. Một hôm có việc cần, tôi lên văn phòng của Giáo sư để gặp ông, bất ngờ trước mắt tôi là một vị Giáo sư lớn tuổi đang cặm cụi dùng chiếc thước kẻ dò từng hàng trên quyển sách để học tiếng Hebrew. Ông nói với tôi: "Phải học thầy ạ, học để hầu việc Chúa. Nhưng lớn tuổi rồi học khó quá, nhất là con mắt nhìn không còn rõ". Cảm phục lắm thay!

Tôi để ý là Giáo sư thường cho điểm bài làm nào viết ‘dài, nên từ đó khi làm bài cho Giáo sư, tôi viết dài dài hơn. Có một lần viết tiểu luận Thần học, tôi chọn đề tài: SỰ SÁNG TẠO, trong bài tôi trình bày ý kiến về hai kỳ sáng tạo: Tiền A-đam và Hậu A-đam, thuyết ‘Lục địa trôí, về vợ của Ca-in. Khi nhận lại bài đã được Giáo sư chấm, ông ghi: Tôi không tin như vậy, nhưng ông lại cho tôi 98 điểm - một điểm tối đa cho môn Thần học, mà Giáosư Tín nổi tiếng cho điểm rất gắt.

Năm tôi tốt nghiệp, một lần bà Giáo sư Tín bị bịnh rất nặng, ai nấy đều nghĩ bà sắp về với Chúa. Bịnh kéo dài khá lâu trên cả tháng, chúng tôi thấy Giáo sư Tín hầu như kiệt sức, nhất là về tinh thần. Cảm ơn Chúa đã nhậm lời cầu nguyện của cả Viện, Chúa đã chữa lành cho bà, thật là một phép lạ và Chúa đã yên ủi Giáo sư Tín. Tôi vẫn nhớ lời làm chứng của Giáo sư Tín thuật rằng ngày ông còn đi truyền giáo cho người sắc tộc, khi rời nhà thì một người con của Giáo sư bị bịnh nặng nhưng vì công việc phải để Bà ở nhà lo cho con, ông đi một mình vào rừng sâu. Nửa đêm, đang ngủ trong rừng, Giáo sư nghe như tiếng gió thổi ào ào trên ngọn cây, giật mình tỉnh giấc, ngẫm nghĩ, Giáo sư biết rằng Chúa đã cho thiên sứ bảo vệ con của Giáo sư như Chúa Jêsus phán trong Mathiơ 18:10 báo tin cho Giáo sư biết con của ông đã qua đời. Sáng hôm sau tin tức đến quả đúng như vậy.

Mục sư Giáo sư Tín đã du học ở Úc và lấy Cao học về Cơ-Đốc Giáo Dục, nhưng dường như mộng của ông là tiếp tục du học, rất tiếc Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp đã không chú ý đến việc đào tạo những Mục sư có học vị cao cho tương lai, ngoài người duy nhất được du học là Mục sư Lê Hoàng Phu, nên không giúp gì được cho Giáo sư Tín. Dù vậy, Chúa đã ngăn không cho Giáo sư Tín đi có lẽ để dùng ông trong chức vụ Giám học cho Thần Học Viện trong khi chưa có ai thay thế. Thôi thì "Ý Chúa Được Nên".

Kỳ diệu thay, dù cả Ông và Bà đều ốm yếu nhưng Chúa cho Giáo sư và Bà sống trên 90 tuổi cùng về với Chúa trong một tuần. Kỳ diệu thật!

MỤC SƯ GIÁO SƯ VŨ VĂN CƯ

Trong các Giáo sư thì Mục sư Giáo sư Vũ Văn Cư là người khỏe mạnh nhất, tướng người rắn chắc, rất thích thể thao, nên thường mỗi buổi chiều, sau giờ học, Giáo sư thường xuống sân đánh bóng chuyền cùng với các sinh viên với tinh thần rất thể thao.

Tên tuổi của Mục sư Giáo sư Vũ Văn Cư đã gắn liền với quyển Thánh ca của Hội thánh Tin Lành Việt Nam, ông là người điều hành thực hiện quyển Thánh ca nầy. Chúng ta phải cảm ơn Chúa khi đọc lời của những bài Thánh ca đi vào lịch sử của Hội thánh Tin Lành Việt Nam, từ những bài thơ thánh không có dấu nhạc đến những bài đã được nhuận chánh, với những cảm xúc dịch chân thành, văn chương gãy gọn, ý tưởng đi vào lòng người hát, dù tiếng Việt có những dấu khó hợp với âm điệu đã có sẵn nhưng với 509 bài Thánh ca hiện có thật là một tài sản quý báu mà các thế hệ sau phải biết ơn, trong đó có công khó của Mục sư Giáo sư Cư. Rất tiếc, Giáo sư Cư còn một số bài Thánh ca do ông dịch (không rõ), hoặc cải biên, được các sinh viên trong Viện tập để hát cho các kỳ Lễ hoặc các nơi, không biết tại sao không được phổ biến. Tôi xin ghi lại vài bài còn nhớ như sau:

LÚC VUI LÚC BUỒN
Lúc vui lúc buồn, ngày ngày luân thứ,
Có Cha ái từ săn sóc tôi hoài.
Bất câu chỗ nào, hằng được chăn giữ,
Vì biết luôn đây là ý của Ngài.

Là ý của Chúa thỏa mãn lòng tôi luôn luôn
Thật do thánh Ỷ khiến tôi vững an khắp nơi.

CÀNG GẦN CHÚA HƠN (Thánh ca HTTLVN số 240). Giáo sư đã chuyển thành nhịp 4/4, đến câu thứ 5 nhịp điệu nhanh hơn để diễn tả cảnh được bay lên Thiên cung, với những lời:

Khi tôi bay lên Thiên cung, ôi thật vinh quý,
Không trung trăng sao tôi đều lướt qua.
Tôi luôn luôn hân hoan ca. Xin Chúa cho tôi được gần,
Chúa ôi cho tôi gần Ngài, càng gần Chúa hơn - Amen.

Tôi cũng rất thích bài KHEN CHÚA NGỢI CHÚA, mà sau nầy tôi tập cho Ban Hát của Hội thánh tại Túc trưng trong ngày Lễ Cung Hiến Đền thờ ngày 6 tháng 12 năm 1972

Nói chung, Mục sư Giáo sư Cư chuyên trách tất cả những chuyên mục có liên quan đến âm nhạc, từ các Lễ Khai giảng, Bế Giảng, Giáng Sinh, Phục Sinh. tại Thần Học Viện, đến việc dạy môn Âm nhạc trong Viện. Về môn Âm nhạc, Giáo sư Cư đã giúp các sinh viên chúng tôi ngoài căn bản về Âm nhạc, còn biết cách hướng dẫn hát một bài hát mới trong trường hợp không có đàn (chính nhờ cách nầy, khi tôi có dịp cộng tác với những Hội thánh người Hoa, có thể hát được những bài của họ với cách ghi nốt bằng số 1, 2, 3,.). Rất tiếc dù Âm nhạc là môn học bắt buộc, cũng không được các sinh viên chú tâm học. Đó là một sai lầm của các sinh viên. Đặc biệt Giáo sư Cư dạy môn GIÁO NHẠC SỬ, nhìn qua thì không quan trọng nhưng nếu một người nghiên cứu về Lịch sử Hội thánh ban đầu đến thời Trung Cổ chắc chắn rất cần biết. Tôi không còn thấy tài liệu nầy trong Giáo hội.

Học với Giáo sư Cư, nhất là môn Lịch sử Hội thánh, điều đòi hỏi khi muốn điểm cao là phải trả lời chính xác, ngắn gọn, 1 là 1, 2 là 2, Giáo sư Cư không muốn dài dòng. Vì vậy, Giáo sư Cư nổi tiếng trong Viện là vị Giáo sư cho điểm gắt nhất, do thói quen của các sinh viên thường ít thuộc bài, chỉ hay ‘đoán’ chừng để trả lời. Khóa của tôi có một thầy vì bịnh nên khi thi môn Lịch sử Hội thánh chỉ đạt 69,75 nghĩa là thiếu 0,25 điểm nên bị điểm ĐỎ. Qui định của Viện là môn bắt buộc bị điểm "đỏ" thì bị rớt toàn bộ. Thầy nầy xin Giáo sư Cư nâng 0,25 điểm, nhưng Giáo sư nhất định không chấp thuận, bắt buộc thầy phải thi lại môn Lịch sử Hội thánh.

Đến năm 1975, Mục sư Giáo sư Vũ Văn Cư đắc cử chức vụ Phó Hội trưởng Hội thánh Tin Lành Việt Nam, nhưng cũng là thời kỳ ông bị bịnh ung thư hàm phải vào Sàigòn chữa trị. Đến Hội Đồng Tổng Liên Hội năm 1976, vẫn còn đương chức Phó Hội trưởng, bịnh ung thư hàm đã nặng hơn khiến ông không nói được, phải nhờ người dìu lên giữa Hội Đồng - theo lời của người dìu ông nói lại là Mục sư Cư xin được từ chức vì bịnh quá nặng, Hội Đồng đã chấp thuận sự từ chức của ông và Mục sư Đoàn Văn Miêng vừa mãn nhiệm chức vụ Hội trưởng được bầu lên thay. Mục sư Giáo sư Vũ Văn Cư đã về nước Chúa vì căn bịnh ung thư hàm.

GIÁO SĨ A. H. REVELL

Nói đến Thánh Kinh Thần Học Viện là Hội thánh Tin Lành Việt Nam phải nhắc đến tấm lòng của Ông Bà Giáo sĩ Revell, vì ông bà đã dâng hết số tiền của Ông Bà có được từ phần gia tài được chia trong gia đình của ông bà để xây cất Thánh Kinh Thần Học Viện Nha-trang. Một tấm lòng mà người Tin Lành Việt Nam chẳng những không thể quên mà còn phải bắt chước.

Giáo sĩ Revell vốn là một Luật sư Hoa kỳ, nhưng ông đã dâng mình học Thần học và trở thành Giáo sĩ, rồi đến Việt Nam phục vụ Chúa, có lúc ông đã làm Hội trưởng Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Việt Nam. Ông Bà Giáo sĩ Revell nói tiếng Việt khá trôi chảy, và ông dạy môn Thi thiên, Thư tín Giám mục; Bà thì dạy đàn Harmonium (Phong cầm, lúc đó trong Viện chưa có đàn Piano).

Giáo sư Revell người cao to theo dáng người Mỹ, giọng nói hùng mạnh, thích cười, mỗi khi cười thì cười lớn biểu lộ tánh con người phóng khoáng. Tánh tình đó làm cho các sinh viên thấy dễ hòa đồng.

Một trong những kỷ niệm đáng nhớ của cả lớp chúng tôi là một lần để dạy Thi thiên 45, Giáo sư Revell ra đề cho chúng tôi tả lại một "đám cưới". Ai trong chúng tôi cũng nghĩ ý của Giáo sư là muốn chúng tôi căn cứ theo Thi thiên 45 để tả. Khi chúng tôi nhận lại bài làm thì cả lớp không ai được một điểm nào, Giáo sư cho biết là ông chỉ yêu cầu tả một đám cưới Việt Nam cho ông biết không phải là đám cưới trong Thi thiên 45. À, thì ra thế!

Biết Giáo sư có tánh tình cởi mở, có hai lần tôi được Giáo sư cho gặp riêng để hỏi điều cần. Lần thứ nhất tôi hỏi Giáo sư: "Làm sao để biết được ý Chúa?" Giáo sư đã dạy tôi rằng: Có 5 cách để biết được ý Chúa:

1. Biết ý Chúa qua một người yêu mến Chúa.
2. Biết ý Chúa qua cảm giác bình an hay không. Nếu mình làm việc gì mà lòng không cáo trách thì có thể đó là ý Chúa.
3. Biết ý Chúa qua một sự hiện thấy, như Giô-sép biết ý Chúa trong giấc chiêm bao
4. Biết ý Chúa qua một việc xin dấu hiệu, như Ghê-đê-ôn biết ý Chúa qua việc lốt chiên ướt hay khô.
5. Biết ý Chúa qua Kinh thánh.

Cả 4 cách đầu đều phải được Kinh thánh làm chuẩn, vì ý của một người dù người đó yêu mến Chúa nhưng có thể hoàn cảnh và điều kiện cũng như kinh nghiệm của người đó khác với mình; cảm giác thuộc linh cũng như thuộc thể tùy thuộc vào sức khỏe thuộc linh hay thuộc thể khỏe mạnh không, do đó nếu tình trạng sức khỏe không tốt, cảm giác có thể sai; đành rằng đôi khi Chúa cũng tỏ ý của Ngài qua chiêm bao nhưng không phải chiêm bao nào cũng là ý Chúa; dấu hiệu mình xin có đúng theo lời Chúa dạy không? Rốt lại, Kinh thánh là tiêu chuẩn tối hậu để biết ý Chúa.

Lần thứ hai tôi hỏi Giáo sư về cách giảng dạy tại Hoa Kỳ. Giáo sư nói rằng, tại Hoa kỳ, nếu giảng 15 phút thì tín đồ nghe; giảng 20 phút thì tín đồ sốt sắng nghe; giảng 25 phút thì thiên sứ nghe; giảng 30 phút thì tuần sau tín đồ đi nhà thờ khác. Tuy nhiên để có bài giảng súc tích, có ích người nghe thì như một nhà chính trị kia trả lời câu hỏi ông mất bao nhhiêu lâu để soạn một bài diễn văn 10 phút? Nhà chính trị đáp: Nếu cần bài diễn văn 10 phút thì tôi phải mất hai tuần lễ sửa soạn. Nhà báo hỏi tiếp: "Nếu soạn một bài diễn văn 2 tiếng đồng hồ thì ông mất bao nhiêu thời gian? Nhà chính trị đáp: "Tôi mất 10 phút". Thật là những lời dạy sâu sắc!

Bà Giáo sư Revell cũng để lại trong lòng tôi sự cảm phục với tinh thần dạy đàn cách nghiêm khắc. Mỗi học viên học đàn với bà đều được qui định mỗi ngày phải dành ít nhất 30 phút để tập đàn trong tuần trước khi gặp lại Giáo sư. Với con mắt tinh tường, bà Giáo sư dễ dàng nhận ra những người không chịu kỷ luật tập đàn và khi đến nửa khóa học 4 tháng thì học viên lớp đàn chỉ còn không quá 10 người người, nghĩa là mất 4/5 số học viên.

Bà Giáo sư cũng rất yêu mến công việc truyền và dạy đạo cho Thiếu nhi, chính bà trước khi về Mỹ đã cho tôi rất nhiều tài liệu dạy thiếu nhi, trong đó có những hình nỉ rất quý hiếm trong Hội thánh tại Việt Nam.

Điều đáng tiếc là không biết tại sao ông bà Giáo sư Revell đã không trở lại Việt Nam như lời đã hứa với chúng tôi, vì vậy tôi phải ghi trong bài thơ Kỷ niệm rằng:

Việt quốc, Huê kỳ quốc,
Đệ lai, Sư bất lai.
Và,
Rồi đây trên đường đời,
Không còn gặp lại nhau!

MỤC SƯ PHẠM VĂN NĂM

Tôi gọi Giáo sư Năm là Vị Thầy Vui Nhất, vì tánh tình của Mục sư Giáo sư Phạm Văn Năm rất hòa đồng với các sinh viên. Đặc biệt là các sinh viên thích chọc phá Giáo sư. Một buổi tối, Mục sư Giáo sư Năm đang họp với Ban Giáo sư trong phòng, vài sinh viên lén đẩy chiếc xe cổ lổ sỉ của Giáo sư giấu phía sau Viện. Khi tan họp, Giáo sư ra về phát hiện mất chiếc xe, ông biết ngay đã bị các sinh viên giấu, nhưng ông không hề tỏ ra tức giận ‘sự vô phép’ của đám học trò, mà cứ lắp bắp (vì Giáo sư bị cà-lăm nhẹ) hỏi trỏng: "Thầy nào giấu xe trả lại cho tôi về". Dĩ nhiên, một chốc sau Giáo sư tìm được xe và bình tĩnh lái về, tình thầy trò không sứt mẻ gì cả.

Mục sư Giáo sư Phạm Văn Năm dạy môn Thánh Kinh Thông Lãm tức là cho sinh viên lướt qua toàn bộ các sách trong Kinh thánh, môn Chứng Đạo Pháp. Vì dạy môn Chứng Đạo nên Giáo sư Năm cũng là Cố Vấn Ban Chứng Đạo của Thần Học Viện, đôn đốc các sinh viên tổ chức chứng Đạo vào ngày thứ bảy và chiều Chúa nhật mỗi tuần, trong đó có việc thay nhau giảng trong Trại Cải Huấn (Nhà tù) tại Nha-trang. Thêm nữa, Giáo sư Năm lại kiêm Giám Đốc Chẩn Y Viện Tin Lành Hòn Chồng, nên ông cũng phải lo việc giảng mỗi sáng thứ năm hằng tuần cho những bịnh nhân đang ngồi chờ khám bịnh. Đây là môi trường rất tốt cho việc truyền giảng Tin Lành bởi bịnh nhân ngồi chờ khám bịnh miễn phí không có gì đọc ngoài sách báo Tin Lành và nghe giảng Tin Lành. Do đó Giáo sư Năm cũng phân công các sinh viên năm Tốt nghiệp và đôi khi có sinh viên năm thứ hai thay nhau giảng, mỗi lần anh em nào giảng thì cả lờp thường kéo nhau cùng đi để ủng hộ tinh thần đồng thời thực hành việc cá nhân chứng Đạo.

Đặc biệt là Giáo sư Năm được Ban Giáo sư cử đặc trách về An Sinh trong Viện, tức là hướng dẫn các sinh viên lo việc vệ sinh và an ninh trong Viện (Vì lúc bấy giờ Viện chưa có Giám thị). Dù các sinh viên đã lớn, Giáo sư cũng chỉ dẫn rất tận tình từ chuyện giựt nước vệ sinh đến sử dụng nước vừa đủ để tiết kiệm vì nước phải bơm giếng sâu 25 mét từ chân núi lên bồn chứa trên các dãy phòng của Viện nên chi phí về điện rất cao. Chỉ dẫn thế nhưng những sai sót vẫn xảy ra, nay bị nghẹt, mai bị trật phao nước. Tất cả đều phải gọi Giáo sư Năm, làm cực lòng Giáo sư.

Tôi có nhắc đến chiếc xe hơi cà-tàng của Giáo sư Năm, thật sự chiếc xe đó quá cũ, có lần Giáo sư Năm đi giảng xa cho vài anh em sinh viên chúng tôi đi theo để hát, mỗi lần chạy ngang nơi có ổ gà, hoặc đường xấu, chiếc xe run lên dữ dội, Giáo sư vừa lái xe vừa nói: "Đó, mấy thầy thấy không.. mấy thầy thấy không." Cảm ơn Chúa vậy mà Chúa cho vẫn đến nơi bình an, tôi chưa bao giờ nghe chiếc xe nằm lại dọc đường gió bụi. Kỳ diệu thật!

Nói đến Mục sư Giáo sư Năm, cũng phải nói đến Bà Giáo sư, vì bà cũng là một Giáo sư phụ trách vài môn học cho các cô trong Viện. Thêm nữa bà đã từng du học tại Ấn Độ về Quản Lý Thư Viện. Nhớ khi du học tại Ấn Độ về, bà có làm chứng lại về những sinh hoạt tại Ấn Độ rất kỳ thú. Bà nói về việc được mời ăn cơm cà-ri Ấn Độ, khi dọn thì người Ấn Độ đựng cơm và cà-ri trong những chiếc lá to, mỗi người phải dùng tay bốc cơm nhúm lại chấm cà-ri rồi đập tay thảy vào miệng các dễ dàng, tự nhiên, còn đối với Bà thật là gian nan. Bà nói về sự mê tín của người theo Ấn Độ giáo tôn thờ con bò cái, mỗi khi con bò cái đi vào những khu chợ ghé vào ăn thứ gì, người bán hàng không dám đuổi mà lại xem là được thần chiếu cố; khi con bò cái đó phóng uế, thì mọi người chạy lại hứng đổ lên đầu họ, lấy phân bò thoa vào mình của họ. Chúng tôi nghe đã thấy lợm giọng huống chi bà Giáo sư chứng kiến. Thêm nữa, bà nói đến tình trạng phụ nữ Ấn Độ bị khinh khi trong xã hội Ấn Độ những bé gái mới sanh ra bị vứt vào những đống rác, bà có dịch lại một quyển sách của một nữ Cơ-Đốc nhân Ấn Độ dám đứng lên bảo vệ những phụ nữ bị ngược đãi tên là Pandita Ramabai, người phụ nữ Cơ-Đốc nầy lập những Trung tâm Phụ nữ để nuôi dưỡng và dạy nghề cho những phụ nữ Ấn Độ bị ruồng bỏ. Quyển sách kèm theo nhiều hình ảnh hoạt động của bà Pandita Ramabai rất cảm động.

Bà Giáo sư Năm phụ trách lo quản lý Thư Viện của Thần Học Viện. Cảm ơn Chúa cho tôi được Bà kêu giúp cho việc vẽ số hiệu cho sách, rồi lần lần Bà giao cho việc phân loại sách để Bà cho số hiệu, nhờ đó tôi có nhiều cơ hội đọc sách mà lại được Bà trả tiền công nhờ đó tôi có tiền chi phí cho những ngày học ở Viện.

Người Việt Nam có câu: "đồng vợ đồng chồng tát Biển Đông cũng cạn", ông bà Giáo sư Phạm Văn Năm đã đồng công hầu việc Chúa từ lúc còn Truyền Đạo Sinh đến khi lên cao nguyên Truyền giáo cho người Kơho, rồi về Thần Học Viện dạy Lời Chúa. Những ngày ở hải ngoại sau biến cố 1975, Chúa đã đem ông về với Chúa, bà vẫn còn thọ để góp phần công việc Chúa và viết cho ông quyển Hồi ký. Chắc chắn ông ở trong Nước Chúa vui lắm khi đọc những lời trong quyển Hồi ký mà bà đã viết về ông.

GIÁO SĨ GIÁO SƯ SUTHERLAND

Tôi nghe ai đó kể lại rằng bà Giáo sĩ đã đi hát ở các phòng trà lấy tiền nuôi ông học Trường Thần học để ngày nay ông bà có đủ điều kiện dâng mình hầu việc Chúa làm Giáo sĩ tại Việt Nam. Một sự hi sinh lớn lao của người vợ đối với chồng, chưa nói đến là đối với Chúa. Vì thế, những ngày học tại Thần Học Viện, chúng tôi thường nghe cặp song ca Sutherland thật xuất sắc - không biết là ông hát có hay không, dù không hay cũng nhờ giọng ca chuyên nghiệp của bà cũng thành hay.

Giáo sư Sutherland dạy môn Tiên tri Ê-xê-chi-ên cách say mê, dù tiếng Việt chưa giỏi, nhưng ông chịu khó nhờ sinh viên trong Viện sửa chữa văn Việt bài soạn của ông trước khi lên lớp. Giáo sư chấm bài rất chi tiết, sửa từng lỗi, mỗi bài của sinh viên đều được Giáo sư phê bình tất cả những nhận xét và ý kiến của Giáo sự đặc biệt là Giáo sư cho điểm rất thoáng và có lòng khuyến khích sinh viên tự nghiên cứu, có thể ý kiến của sinh viên trái với ý của Giáo sư, nhưng ông sẵn sàng cho điểm cao nếu bài làm đó lý luận chặt chẽ và trưng dẫn tài liệu rõ ràng. Giáo sư cũng dạy môn Hi-văn bằng tiếng Mỹ, dù lớp chỉ có 5 sinh viên (4 người Hoa, và tôi là người Việt), nhưng Giáo sư rất tận tình dạy.

Giáo sư thường dạy bằng cách cho chúng tôi tranh luận trong lớp. Đây là phương pháp học mà chúng tôi rất thích. Có lần Giáo sư cho chúng tôi tranh luận đề tài: Đức Chúa Trời hữu hình hay vô hình? Một lần khác trong môn học Thư Galati, Giáo sư cho tranh luận độc giả Thư Galati là người ở Bắc hay Nam Galati? Các tranh luận theo cách ở Mỹ, chúng tôi chia hai Nhóm: Nhóm Nam và Nhóm Bắc Galati và có 2 tuần để mỗi Nhóm họp riêng nghiên cứu và tìm tài liệu. Mở đầu sau lời giới thiệu của Giáo sư, mỗi bên có 5 phút để trình bày quan điểm của Nhóm mình, rồi nghỉ 5 phút để mỗi Nhóm họp riêng tìm cách bác quan điểm của Nhóm kia. 5 phút tiếp theo, mỗi Nhóm trình bày ý kiến bác Nhóm đối thủ. Lần nghỉ thứ hai, mỗi Nhóm họp riêng để giải thích những ý kiến mà Nhóm đối thủ đã bác. Sau cùng mỗi Nhóm có 5 phút để giải thích điều Nhóm kia đã bác. Dĩ nhiên phần kết luận là của Giáo sư, nhưng có khi Giáo sư mời một Giáo sư khác tham dự có lời kết luận. Buổi học sôi nổi và ích lợi.

Giáo sư rất tình cảm, một lần trong lớp, một sinh viên nữ không đồng ý với Giáo sư, cô nầy tranh cãi với giọng khá gay gắt (có lẽ tại giọng nói địa phương của cô làm cho nhiều người nghĩ cô thiếu lễ độ [?]). Cuộc tranh cãi khiến Giáo sư, có lẽ vì thiếu tiếng Việt, đã để những giọt nước mắt rơi trong lớp. Điều phải cảm phục là Giáo sư không hề nổi giận hay trách phạt gì cô sinh viên đó.

Trong môn Thanh niên, Giáo sư giới thiệu cho sinh viên những tài liệu của thanh niên tại Mỹ và cũng sẵn sàng lắng nghe những ý kiến của các sinh viên Việt Nam về sinh hoạt của các ban Thanh niên trong Hội thánh tại Việt Nam. Giáo sư được Ban Giáo sư cử làm Đặc trách Ban Thanh niên Thần Học viện, nên khi tôi làm Trưởng ban Thanh niên Thần Học viện đề ra những chương trình nhóm cũng như sinh hoạt thanh niên, Giáo sư luôn là người ủng hộ nhiệt tình. Thí dụ: khi chúng tôi tổ chức Ngày Thanh niên Tin Lành Việt Nam với chương trình thi đua đánh bóng chuyền giữa ba lớp, thi bơi lội, thi đi bộ đua cho các cô, thi đánh cờ tướng, cờ ca-rô, triển lãm tranh ảnh sinh hoạt thanh niên Viện, thực hiện Tập Kỷ Yếu cho Thần Học Viện năm 1970-1971, Giáo sư hoàn toàn đồng ý và tích cực ủng hộ. Đặc biệt ngày chúng tôi xin được Ban Giáo sư cho một phòng làm Câu Lạc Bộ Thanh niên Thần Học Viện thì bà Giáo sư đứng ra dạy các cô làm bánh bằng bột trộn sẵn của Mỹ để ăn mừng ngày mở cửa Phòng nầy (rất tiếc các cô Việt Nam chưa quen nên bánh bị khét)

Giáo sư Sutherland rất quan tâm tìm nguồn tiếp tế cho Thần Học Viện, ông thường liên lạc với các Mục sư Tuyên úy Hoa kỳ trong khu vực Nha-trang và Qui-nhơn, đưa Ban hát của sinh viên dự những buổi thờ phượng Chúa trong quân đội Hoa kỳ, có khi chúng tôi đi hát ngay sau giờ học buổi chiều, ra phi trường Nha-trang, lên máy bay quân sự Mỹ bay ra Qui Nhơn hát buổi tối, rồi bay trở về Viện thì đã khuya. Dù cực nhọc, nhưng nhờ vậy đã giới thiệu Thần Học Viện trong những buổi nhóm, có khi chính Giáo sư giới thiệu, có khi chúng tôi cử người làm chứng qua sự thông dịch của Giáo sư, Mục sư Tuyên úy Mỹ cho lạc quyên giúp Thần Học Viện, nhất là Ban hát chúng tôi luôn có được đãi ăn linh đình.

Một sáng Chúa nhật Lễ Phục sinh, Ban Hát chúng tôi được Tuyên Úy Hoa Kỳ mời hát cho  Lễ tại bờ biển Nha-trang, sau giờ Lễ, chúng tôi được đãi một bữa ăn bò beefsteak với những miếng thịt bò to hơn bàn tay, dày hơn hai phân. Thành thật nói là không ngon gì cả, vì họ làm vỉ nướng trên nửa thùng phuy, những miếng thịt to đông lạnh vừa đem ra được đặt lên vỉ, cứ thế mà nướng, lửa bốc cáo thì chế nước dập bớt lửa, và chỉ ăn với muối tiêu. Bên cạnh đó là những tảng bánh mì sandwich giống như một cái nệm cá nhân. Ăn xong còn dư lại quá nhiều thịt bò và những nệm bánh mì, Giáo sư Sutherland rất hiểu chúng tôi nên đã xin tất cả đem về Thần Học Viện. Khi về đến Viện, chúng tôi giao cho các bà nhà bếp, chiều lại chúng tôi có một bữa bò nướng ngon ôi là ngon với gia vị ướp thơm phưng phức.

Nhớ Tết Mậu Thân 1968, vì cuộc chiến xảy ra ngay trong thành phố, chợ không họp được, thực phẩm không có ai bán, nhất là với số lượng lớn nuôi gần 200 sinh viên (có một ít sinh viên đã về quê ăn Tết) Gạo thì Cụ Mục sư Viện trưởng Ông Văn Huyên cùng Cụ Mục sư Lê Văn Thái là Giám Đốc Cô Nhi Viện Tin Lành Nha-trang, xin được giấy phép mua gạo khẩn cấp cho Cô Nhi Viện và Thần Học Viện kèm theo giấy phép được đi lại trong giờ giới nghiêm của Tổng trấn Nha-trang là Tướng Đoàn Văn Quảng cấp, nên không lo về gạo, nhưng về thức ăn thì rất bối rối, nhà bếp không thể nào mua. Đang lúc ấy, sáng Mùng Bốn Tết, một xe kéo container dài do một quân nhân Mỹ lái chạy vào Thần Học Viện và cho biết vị Mục sư Tuyên Úy Hoa Kỳ tại Nha-trang nhận được tin rằng có một số đông tín đồ Tin Lành bị nạn chiến tranh cần lương thực nên đã xin đơn vị quân đội Mỹ một container thịt xúc-xích và thịt ba-chỉ (bacon) giúp. Người lái xe nói đã ghé nhà thờ Tin Lành Nha-trang, nhưng Mục sư tại đó cho biết chỉ có 1 gia đình tín đồ bị nạn nên không có xin; xe chạy qua nhà thờ Vĩnh Phước thì không có ai bị nạn, cuối cùng người đó lái vào Thần Học Viện vì quen biết Giáo sư Sutherland. Cảm ơn Chúa, sau khi Giáo sư Sutherland giải thích là Viện có 200 sinh viên và các gia đình Giáo sư rất cần lương thực, nhưng thực sự là chưa xin, nếu họ cho thì xin, khi nào có tín đồ bị nạn cần thì sẽ giúp. Người lái xe cho biết như vậy thì ông ấy cảm ơn, vì đã xuất kho rồi không thể chở về đơn vị, nếu đem về cũng đổ bỏ thôi. Kỳ diệu quá, chúng tôi đã có một container thịt để ăn dù chưa đến nỗi trào lỗ mũi nhưng cũng ngán quá chừng. Chúa đã ban cho Giáo sư Sutherland ân tứ ngoại giao và sống thực tế với các sinh viên Thần học Việt Nam.

Giáo sư cũng có kỷ niệm buồn với vài sinh viên. Tết Mậu Thân năm ấy, vào một buổi sáng sớm, không biết vì vô tình hay cố ý, những người lính đang canh gác từ dưới biển trước nhà của Giáo sư Sutherland đã bắn chết con chó berger của Giáo sư Sutherland đang đi qua lại trong sân nhà của Giáo sư. Sau đó, một sĩ quan trong đội lính lên gặp Giáo sư và xin lỗi. Xin lỗi xong, vị sĩ quan đó mở lời xin Giáo sư cho họ xác con chó. Giáo sư không cho và nhờ Giáo sư Cư kêu vài sinh viên trong Viện đem đi chôn. Đến 10 giờ sáng, mấy sinh viên đó lén ra đào xác con chó lên đem về Viện để làm thịt. Không biết ai báo tin cho Giáo sư Sutherland, ông liền nhờ Giáo sư Cư yêu cầu các sinh viên đem chôn không được làm thịt. Thế là các sinh viên đó lại đem chôn dù đã thui xong. Một điểm hổ thẹn cho các sinh viên đó nói riêng, và cho tập thể chúng tôi nói chung.

Theo thông lệ mỗi cuối Khóa, các Giáo sư người Mỹ sẽ mời các sinh viên Tốt Nghiệp ăn chung buổi sáng, rồi mỗi vị Giáo sư sẽ mời một sinh viên tốt nghiệp nào tùy ý để trò chuyện. Tôi hân hạnh được Giáo sư Sutherland mời trò chuyện nơi chiếc ghế xích đu trước nhà của Giáo sư. Câu hỏi Giáo sư đưa ra cho tôi là: "Hội thánh Tin Lành Việt Nam có cần giáo sĩ nữa không?". Tôi thưa với Giáo sư rằng: "Theo tôi, Hội thánh Tin Lành Việt Nam vẫn cần giáo sĩ, nhưng cần những giáo sĩ đến giảng Tin Lành như các vị giáo sĩ đầu tiên, không cần những giáo sĩ du lịch". Giáo sư Sutherland tâm sự rằng thật sự khi ông được chấp thuận làm giáo sĩ tại Việt Nam, ông được Hội Truyền giáo cho xem hình những căn nhà tranh vách đất giữa đồng ruộng hoang vắng, và được nói trước qua Việt Nam sẽ ở trong những căn nhà như vậy, không có máy lạnh, tủ lạnh, không có xe hơi. Nhưng khi đặt chân đến Việt Nam thì ông bà được đưa đến trụ sở của Hội Truyền giáo tại góc Nguyễn Trãi và Nguyễn Cư Trinh, có máy lạnh, tủ lạnh, đi xe hơi, hưởng những tiện nghi mà tại Mỹ ông bà cũng không có. Giáo sư nhìn nhận hoàn toàn trái với những gì ông bà đã nghe tại Mỹ về Việt Nam.

Tôi xin ghi lại vài kỷ niệm về bà Giáo sư Sutherland. Ngoài giọng ca đặc sắc, bà cũng giúp dạy các lớp tiếng Anh trong Viện, từ thấp đến cao. Trong lớp cao, bà Giáo sư thường cho chúng tôi học tại phòng khách nhà của ông bà, tại đây chúng tôi được đọc báo Mỹ rồi chia sẻ nhau trong lớp, cuối giờ bao giờ cũng có bánh ngọt do tự tay bà làm đãi chúng tôi.

Sau 1975, ông bà trở về Mỹ, vẫn tham gia công việc Chúa giữa vòng Hội thánh của người Việt Nam tại Hoa kỳ, nhất là vẫn tiếp tục làm Giáo sư dạy Lời Chúa cho Trường Thần học Tin Lành Việt Nam tại Mỹ. Dịp kỷ niệm 30 thành lập Giáo Hạt Tin Lành Việt Nam tại Hoa Kỳ, trong phần diễu hành cầm cờ các quốc gia mà Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp Hoa Kỳ có gởi giáo sĩ đến truyền giáo, Giáo sư sẵn sàng nhận lời đi đầu đoàn diễu hành tay cầm bản đồ Việt Nam. Lòng tôi thật xúc động khi nhìn vị Giáo sư nay đã già nhưng vẫn yêu mến công việc Chúa giữa người Việt Nam và đặc biệt không hề e ngại đứng vào hàng các sinh viên diễu hành tay cầm bản đồ một đất nước mà không biết bao giờ ông bà được trở lại thăm viếng nữa. Tôi nghĩ rằng Giáo sư chắc đã khẳng khái nói: "Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu...!

GIÁO SĨ GIÁO SƯ DAVID DOUGLAS

Những ngày tôi dự học Thánh Kinh Tiểu Học Đường tại Vĩnh Long vào tháng 6 năm 1966, tôi đã được gặp và học với cả ông và bà Giáo sư David Douglas, lúc bấy giờ ông bà là Giáo sĩ được Hội Truyền giáo cử Đặc trách bên cạnh Hội thánh tại Vĩnh Long. Đặc biệt là bà dạy môn Truyền giáo Thiếu nhi rất hấp dẫn học sinh chúng tôi bằng những hình nỉ, con rối, những bài hát thiều nhi rất vui nhộn. Tôi vẫn còn nhớ những bài hát mà bà đã dạy chúng tôi:

ĐI VỀ THIÊN CUNG
(Đây là bài hát bắt chước xe lửa - tàu hỏa chạy)

Huýt.u u u, chúng ta đang đi về Thiên cung
Xe đưa ta đi an ninh lắm
Chúng ta đang đi về Thiên cung
Trên con tàu của Vua Jêsus.

Bài hát về Đa-vít cũng rất được chúng tôi thích thú:

Kia em trai tên Đa-vít, trông em vui vẻ hoài.
Trên tay em luôn mang ná, em luôn vâng theo ý cha...

Khi hát bài Đa-vít chúng tôi cũng được bà Giáo sư dạy làm thị cụ là chiếc ná vừa hát vừa quay vèo vèo. Khi trở về Hội thánh nhà, chúng tôi ai cũng áp dụng dạy cho thiếu nhi được các em hoan nghinh vô cùng.

Điều cảm động là câu chuyện tình yêu của Giáo sĩ Douglas. Tôi được nghe kể rằng trước khi được kêu gọi dâng mình làm giáo sĩ tại Việt Nam, Giáo sĩ có một người yêu. Nhưng khi cô người yêu nầy biết được Giáo sĩ dâng mình truyền giáo tại Việt Nam, cô yêu cầu Giáo sĩ không đi Việt Nam; nếu Giáo sĩ đi Việt Nam thì cô sẽ từ bỏ Giáo sĩ. Cảm ơn Chúa, Giáo sĩ Douglas đã chọn đi Việt Nam, nên Chúa đã chọn cho Giáo sĩ một người vợ hiện có hết lòng cùng hầu việc Chúa.

Giáo sĩ được bổ nhiệm làm Giáo sư tại Thần Học Viện phụ trách chứng Đạo thay Giáo sư Phạm Văn Năm, đồng thời ông cũng dạy môn Đa-ni-ên. Về tiếng Việt, Giáo sư Douglas và bà nói rất tốt, nên việc dạy không gặp khó khăn. Bà Giáo sư phụ trách môn truyền giáo Thiếu nhi cho các cô trong Viện.

Đặc biệt ông có một giọng nói thật ngọt ngào, dễ cảm lòng người, nhất là khi ông cười thì giọng rền vang nghe đầy cảm khái.

Đang khi học môn Đa-ni-ên, đến đoạn 5, tôi có hỏi Giáo sư một câu: Thưa Giáo sư, tôi tin rằng các bác sĩ Canh Đê cũng đọc được những chữ viết trên tường như Đa-ni-ên, nhưng tại sao các bác sĩ lại không hiểu? Giáo sư suy nghĩ một chút rồi trả lời giữa lớp: "Tôi chưa suy nghĩ điều đó, nên không thể giải thích được". Ra trường, đến năm 1983, tôi được Hội thánh người Hoa tại đường Nguyễn Trãi mời dạy sách Đa-ni-ên trong giờ hiệp nguyện mỗi sáng thứ năm hằng tuần, khi dạy đến đoạn 5, một ý nghĩ chợt lóe lên trong tôi: "Có lẽ sẽ có người dự học hỏi tôi y như tôi đã hỏi Giáo sư Douglas" (người Việt Nam chưa tin Chúa gọi là "Trời trả báo"). Ý nghĩ làm tôi vội vàng tìm tài liệu giải thích. Cảm ơn Chúa, tình cờ đến phòng sách của Mục sư Đoàn Văn Miêng, tôi nhìn thấy quyển sách trong đó có phần giải nghĩa sách Đa-ni-ên đoạn 5 rất rõ ràng đúng như điều tôi cần biết. Tôi xin ghi lại như sau:

Án lịnh gồm 3 từ:  * mn’ nghĩa là đếm; * tql nghĩa là cân; * prs nghĩa là chia.

Vì đây là tiếng A-ram, một ngôn ngữ thông dụng của người Sy-ri và vùng Mê-sô-bô-ta-mi, loại tiếng không có phụ âm. Ba từ nầy được giải thích theo hai phương diện:

1. Theo nghĩa đen:

a. Mene là một đồng mina (đơn vị tiền tệ thời đó)
b. Tekel là một đồng Shekel bằng 1/60 mina
c. Peres bằng 1/2 mina.

Như vậy, chúng ta có: 1 mina, 1 shekel và 2 cái 1/2 mina.

2. Theo nghĩa bóng được giải thích hai cách:

a. Theo giá trị, có hai cách tính giá trị:

-   Mene (thứ nhất) chỉ về Evil-Merodach (562-559 TC); mene thứ nhì chỉ về Nerriglissar (559-555 TC), mỗi người đáng 1 đồng mina.

-    Tekel chỉ về con trai của Nerriglissar là Labashi-Marduk cai trị Ba-by-lôn có 4 tháng thì bị giết, nên chỉ đáng 1 shekel.

-    Parsin chỉ về Nabonidus đang dẫn quân chận địch bên ngoài thành và Belshazzar (con trai của Nabonidus đang cai trị trong thành - 555-538 TC) đáng mỗi người 1/2 mina.

Hoặc:

-   Mene (chỉ một chữ, chữ thứ nhì là để nhấn mạnh) chỉ về vua Nê-bu-cát-nết-sa đáng 1 đồng mina.

-    Tekel chỉ về Belshazzar đáng 1 shekel (1/60 mina).

-    Parsin chỉ về nước Medes và nước Persians mỗi nước đáng 1/2 mina.

Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào ba từ " mene tekel u parsin" thì chỉ thấy giá trị tiền tệ, nhưng Đa-ni-ên đã giải thích theo nghĩa bóng văn chương.

a. Ý nghĩa theo văn chương:

-    Động từ ‘'mene' nghĩa là ‘đếm’, Đức Chúa Trời đã đếm những ngày vương quốc của vua.

-    Động từ ‘'tekel’' nghĩa là ‘cân’, Đức Chúa Trời đã cân vua và thấy thiếu.

-   'u' là ‘và

-    Động từ ‘'peres'’ nghĩa là chia ra, Đức Chúa Trời đã chia vương quốc ra. Vì từ ngữ Peres cũng có nghĩa là Persians nên Đa-ni-ên giải thích là Đức Chúa Trời chia vương quốc cho người Persians.

Cảm ơn Chúa, dù không ai hỏi, nhưng mỗi lần đọc sách Đa-ni-ên là tôi lại nhớ đến Giáo sư Douglas

MỤC SƯ KIỀU TOẢN

Khi tôi về học tốt nghiệp thì Mục sư Kiều Toản được bổ nhiệm về Thần Học Viện làm Giám thị, phụ trách công việc an sinh thay Giáo sư Phạm Văn Năm trước đây, đồng thời Mục sư cũng là Đặc trách Ban Thanh niên Thần Học Viện cùng với Giáo sư Sutherland, như vậy Ban Thanh niên Thần Học Viện có hai vị Đặc trách: một Mỹ một Việt.

Tôi chỉ biết Mục sư Kiều Toản qua những chương trình truyền giáo của Thần Học Viện, trước đây Mục sư là truyền giáo cho người Katu tận ngoài Khe sanh Quảng Trị. Vì chiến tranh, vùng Khe sanh nên việc truyền giáo phải ngưng, do đó, Mục sư Kiều Toản được điều về Thần Học Viện.

Tánh tình của Mục sư Kiều Toản rất vui vẻ, tiếng nói to, có ân tứ vẽ và trang trí, rất hợp với các hoạt động thanh niên trong Viện. Có lẽ vì mới tham dự công việc trong Viện nên Mục sư cũng e dè các Giáo sư lâu năm nhất là với Cụ Mục sư Viện trưởng (Vì là thầy), nhưng Mục sư cũng sẵn sàng ủng hộ các sinh hoạt trẻ mà chúng tôi đề nghị, như tổ chức Ngày Thanh niên Tin Lành với việc thi đua thể thao bóng chuyền, bơi lội, đi bộ đua, đánh cờ tướng cờ carô, liên hoan Tất niên,...

Kỷ niệm thứ nhất với Mục sư Kiều Toản là một đêm khoảng 11 giờ, Mục sư gọi cửa phòng tôi kêu đi bắt "một đôi tình nhân đang hò hẹn mà chàng là thư ký Ban Thanh niên Thần Học Viện do tôi làm Trưởng ban, còn nàng là nữ sinh viên trong Viện. Cả hai đương hò hẹn trong ngôi nhà vắng chủ gần Viện. Tôi xin phép không tham gia, vì buồn ngủ quá. Mục sư đi cùng một số sinh viên. Sáng hôm sau, Mục sư thuật lại cho tôi nghe là Mục sư và các sinh viên đã bao vây ngôi nhà, từ bên ngoài nghe tiếng nước dội ào ào dường như ai đang tắm. Khi nghe tiếng động của những người bao vây, trong nhà tắt đèn và không biết làm cách nào ‘đôi tình nhân’ đó trốn mất, nhưng không về Viện. Giáo sư vừa thuật lại vừa cười to vui vẻ không chút giận chàng và nàng sinh viên phạm kỷ luật.

Kỷ niệm thứ hai là một hôm tôi cùng Ban Hát của Viện đi hát cho buổi thờ phượng Chúa do Tuyên Úy Mỹ mời. Vừa về đến Viện, thì Mục sư Kiều Toản đứng trên lầu vừa cười vừa nói lớn: "Thầy Sơn, Thầy không vô phòng của Thầy được đâu". Tôi không hiểu nhưng cũng cười hỏi lại: Thưa Mục sư, sao không vô được?" "Ừ, thầy thử vô rồi sẽ biết". Số là phòng của tôi còn có một người bạn đồng khóa ở chung, vì thầy và tôi đều không đem vợ ra học được. Tôi vừa mở cửa lập tức quay ra liền trong lúc Mục sư Kiều Toản cười vang dội cả Viện. Trong phòng có một phụ nữ đang nằm ngủ trên giường của người bạn chung phòng. Ngay lúc đó, người bạn cũng từ phía phòng vệ sinh trở lại thấy tôi đang sững sờ, bạn vội vàng lên tiếng xin lỗi đã không báo trước vợ của bạn vừa từ trong Nam ra tới mệt nên ngủ. Mục sư Kiều Toản đã ưu ái cho tôi chọn bất cứ phòng nào mà tôi thích để dọn qua.

Sau năm 1975, tôi có dịp gặp lại Mục sư Kiều Toàn một lần tại tư thất của ông trong khu Dưỡng lão của Hội thánh chung, ông vẫn vui vẻ như ngày nào, thích sưu tầm những đồng xu cổ, thích tắm biển sáng sớm. Nhưng thật bất ngờ, Chúa đã đem Mục sư về với Ngài trong một lần tắm biển sáng. Dù vậy, Chúa cũng cho các con của Mục sư trai có gái có dâng mình hầu việc Chúa.

GIÁO SĨ GIÁO SƯ STEINKEMP

Cả hai ông bà mới qua đến Việt Nam nên tiếng Việt chưa có bao nhiêu, nhất là bà. Ông dạy những môn khó và kén người học. Khó do một phần của môn học, như tiếng Hebrew, Khảo Cổ học, Lịch sử Phấn Hưng; một phần khó nữa là Giáo phải sử dụng tiếng Mỹ để dạy do còn bị hạn chế tiếng Việt. Do đó, môn học của Giáo sư chỉ là môn nhiệm ý, lớp của Giáo sư là lớp đạt kỷ lục ít người, chỉ những sinh viên khá tiếng Mỹ mới có thế dự học.

Tôi được dịp dự học lớp đàn Piano với bà Giáo sư. Đây là lần đầu tiên Viện được ân nhân tặng nhiều đàn Piano cũ, nên Giáo sư Cư cho phép các sinh viên học, và tôi xin ghi tên. Bà Giáo sư dạy đàn rất nghiêm túc, chú ý từ cách chúng tôi ngồi đàn, để bàn tay đánh đàn, kỷ luật thì giờ tập đàn tối thiểu, không được đàn bài nào khác ngoài những bài do Giáo sư chỉ định. Bà nói với tôi là bà đã đàn cho nhà thờ từ lúc 8 tuổi và lúc tuổi đó bà đã đàn bài Rapsodise dễ dàng trong khi tôi phải tập hơn 2 tháng. Nửa Khóa học, thì bà cho tổ chức mời các Hội thánh lân cận đến nhà thờ Thần Học Viện để các học viên lớp đàn Piano biểu diễn từ những bài vở lòng đến những bài khó hơn. Chương trình khích lệ chúng tôi nhiều.

CÁC PHỤ GIÁO

MỤC SƯ LÊ VĂN THÁI

Cụ Mục sư đã hưu trí lui về làm Giám Đốc Cô Nhi Viện, môt nơi nuôi trẻ mồ côi của Hội thánh mà Cụ đã cưu mang từ những năm tháng còn làm Hội trưởng Hội thánh Tin Lành Việt Nam. Vì Cô Nhi Viện tọa lạc ở khu vực gần Thần Học Viện, nên Cụ Mục sư Thái được Viện mời làm phụ giáo dạy môn Người Truyền Đạo của Đức Chúa Trời.

Tài liệu Người Truyền Đạo của Đức Chúa Trời do chính Cụ Mục sư soạn rất rõ ràng với mục đích giúp Người Truyền Đạo của Đức Chúa Trời xác định thiên chức được Chúa kêu gọi, hướng dẫn Người Truyền Đạo tránh những hiểm họa rình rập chức vụ, biết các công việc tại trong văn phòng, trên tòa giảng, giữa gia đình tín hữu và đồng bào, những đề nghị giúp nâng đỡ chức vụ Người Truyền Đạo của Đức Chúa Trời. Đây là tài liệu rất cần cho người thi hành chức vụ Chúa kêu gọi.

Cách dạy của Cụ Mục sư Thái mang dáng vấp tâm tình chức vụ, chia sẻ kinh nghiệm hơn là làm một Giáo sư. Ngoài tài liệu đã phân phát, đang khi dạy, Cụ Mục sư Thái thêm vào những câu chuyện vui, những câu chuyện xảy ra trong đời sống chức vụ cá nhân Cụ, nhất là Cụ Mục sư Thái rất thích kể câu chuyện nội dung tiểu thuyết "Những Kẻ Khốn Khổ" của Văn hào Victor Hugo.

Khi nói đến Người Truyền Đạo trên tòa giảng, Cụ Mục sư Thái nói với chúng tôi rằng kinh nghiệm của Cụ có 4 loại bài giảng:

1. Loại bài giảng đầy đủ thức là loài bài giảng đúng phương pháp, có nghiên cứu.
2. Loại bài giảng hay tức là loại bài giảng được diễn giả có tài hùng biện.
3. Loại bài giảng cảm động tức là có những câu chuyện làm người nghe khóc được.
4. Loại bài giảng có thần quyền tức là có quyền năng của Chúa.

Cụ Mục sư Thái có tài kể truyện. Khi thuật lại những năm hầu việc Chúa tại Mỹ tho, Cụ Mục sư làm chúng tôi đứng tim khi cụ nói có tín đồ đêm khuya nằm bên Cụ thì thầm hỏi Cụ lúc bấy giờ là Truyền Đạo trẻ: "Thầy ơi Thầy, Thầy có thương em không Thầy?" Các sinh viên chúng tôi vừa tức cười vừa hồi hộp vì Cụ không nói người tín đồ đó là nam hay nữ. Cụ trả lời: "Thương chứ". Người tín đồ đó nói tiếp: "Thầy thương em sao Thầy không cho em biết chừng nào Chúa tái lâm?" À, hóa ra chuyện Chúa tái lâm!

Vì Cụ là Giám Đốc Cô Nhi Viện, nên Cụ giúp chúng tôi cơ hội tập giảng bằng cách phân công cho chúng tôi đến giảng tại nhà thờ Cô Nhi Viện sáng Chúa nhật, thường có mặt Cụ lúc đó. Tôi chưa hề nghe Cụ chê một sinh viên nào giảng tại đó, thế nào Cụ cũng có một chỗ để khen, thay vì thế nào cũng có một chỗ để chê trách của Cụ Mục sư Viện trưởng Ông Văn Huyên.

Cụ Mục sư Thái đã hướng dẫn con thuyền của Hội thánh Tin Lành Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn nhất trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, thời kỳ Thế chiến thứ hai. Chúa đã dùng Cụ Mục sư đem lại cuộc tỉnh thức tự lực tự truyền giáo cho Hội thánh chung, thay vì cứ dựa vào sự cung cấp tài chánh từ Hội Truyền giáo Mỹ, nhờ đó Hội thánh đã tiếp tục phát triển do chính từ dự dâng hiến của tín hữu Việt Nam, ngay cả những Hội thánh nghèo nhất, nhất là Cụ đã nhờ ơn Chúa lèo lái Hội thánh chung trong thời kỳ chia đôi đất nước sau Hiệp dịnh Geneva, làn sóng di cư ồ ạt từ Bắc vào Nam và một số từ Nam ra Bắc, Hội thánh chung xáo trộn chưa từng thấy, để lại trong lòng người Tin Lành Việt Nam những lời chia tay thống thiết đầy nước mắt được ghi trong Thánh ca Việt Nam số 503 như lời Cụ kể:

Anh em ta chia tay mong sẽ gặp nhau,
Yêu thương không phai, tâm linh giao cảm;
Xin Cha chăn nuôi anh em ta cả!
Nguyện nguồn phước thiêng đượm nhuần linh hồn hoài!

Nơi Chân Chúa sẽ thấy nhau! Thấy nhau luôn cho thỏa lòng nầy.
Nơi Chân Chúa sẽ thấy nhau! Dẫu ta chia tay tạm biệt nhưng lại gặp.

Điều làm tôi cảm động là khi đọc quyển Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam của Mục sư Lê Hoàng Phu, ghi lại câu nói của Cụ Mục sư Lê Văn Thái trong Hội Đồng Tổng Liên Hội năm 1960, Cụ cương quyết từ chối tái ứng cử chức vụ Hội trưởng, Cụ nói: "Đã đến lúc thế hệ đồng vắng phải nhường lại cho thế hệ Đất Hứa", và Cụ xin được bước ra khỏi Hội Đồng để tránh được đề cử. Người xưa dạy: Danh vị lớn không nên mang lấy mãi. Công việc lớn không nên gánh mãi. Quyền thế lớn không nên giữ mãi. Uy thế lớn không nên bám mãi. Cái khó của người có quyền thế lớn là lên rồi không chịu bước xuống, nhưng Cụ Mục sư Thái đã làm được điều đó để Hội thánh qua trang.

Cụ Mục sư Thái đã viết quyển Hồi ký 46 Năm Chức Vụ, là một tài liệu quý cho người viết sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam từ những ngày đầu tiên. Điều tôi thật cảm động là thấy được tấm lòng bao dung, luôn nâng đỡ của các bậc lãnh đạo Hội thánh. Điển hình là khi Cụ Mục sư Thái là Hội trưởng cùng với Mục sư Lê Văn Long là Chủ Nhiệm Trung Hạt đến thành phố Vinh muốn gặp Truyền Đạo Trần Như Tuân lúc ấy là chủ tọa Hội thánh tại Vinh, để khuyên Truyền Đạo Tuân từ bỏ chủ trương định ngày giờ Chúa Jêsus tái lâm mà ông Tuân đang cố xúy. Dù là lãnh đạo cao cấp của Giáo hội, Hai vị cũng không được Truyền Đạo Tuân tiếp, đến nỗi không có chỗ ngủ, nếu Chúa không kịp thời cho người tín đồ làm hỏa xa tình cờ gặp Hai vị trong quá ăn mời lên xe lửa ngủ. Vậy mà Hai vị lãnh đạo vẫn luôn kêu gọi người có lỗi ăn năn, khuyên lơn, thay vì quở phạt.

Nói đến đây tôi nhớ đến tâm tình của các vị lãnh đạo Hội thánh chung ngày xưa, ngoài Hai vị đã nói, tôi cũng nghe Cụ Mục sư Trần Văn Đệ thuật lại trong giờ dạy môn Kinh nghiệm Truyền Đạo. Lúc ấy Cụ Mục sư Đệ là Chủ Nhiệm Trung Hạt, Cụ đến thăm một Hội thánh vùng quê, được Thầy Truyền Đạo tại đó tiếp trong một tư thất nghèo. Sau bữa cơm chiều, Thầy Truyền Đạo chủ tọa thành thật nói với Cụ Mục sư Đệ là Chủ Nhiệm Địa Hạt rằng có một Mục sư làm Thầy giận lắm, Thầy đã viết một thư gởi cho vị Mục sư đó với nội dung chứa những lời cay độc để phản ứng lại, Thầy sẵn sàng từ chức sau khi gởi thư. Cụ Mục sư Đệ bảo Thầy cho Cụ coi thư. Xem xong, Cụ Mục sư Đệ trả lại và nói: "Theo thư Thầy viết cũng có lý. Tuy nhiên, tôi (Cụ Mục sư Đệ) đề nghị Thầy khoan gởi, hãy để vài ngày nữa hẳn gởi. Thầy nhận lời tôi nhé. Nhưng để Thầy không quên gởi, tôi khuyên Thầy để bức thư chỗ nào dễ thấy để nhớ". Thầy Truyền Đạo nhận lời hoãn lại việc gởi thư và thầy để bức thư với lời lẽ mạt sát nặng nề nơi bàn viết của thầy. Cảm ơn Chúa, tuần sau Cụ Mục sư Đệ được thầy báo tin là thầy đã hủy bỏ bức thư rồi sau ba ngày cứ đọc đi đọc lại do thấy nó nơi bàn viết. Điều cảm động là với tư cách người lãnh đạo cao cấp của Thầy Truyền Đạo và vị Mục sư kia, Cụ Mục sư Đệ không hề trù dập hay quở trách gì, trái lại đã trung gian hòa giải hai người. Đáng cảm phục thay! Đáng học thay!

Tôi cũng nhớ đến Cụ Mục sư Phan Văn Tranh lúc bấy giờ là Chủ nhiệm Địa hạt Nam Phần. Nhơn một cơ hội đến Văn phòng Địa hạt có việc cần, bất ngờ tôi được chứng kiến cảnh một Truyền Đạo đang trình bày với Cụ Mục sư Chủ nhiệm về sự tức giận của thầy đối với một Mục sư mà thầy đang làm phụ tá. Theo cách trình bày cho thấy thầy đang giận dữ, trong khi đó Cụ Mục sư Tranh điềm tĩnh ngồi nghe vừa gật gật dầu chú ý nhưng không hề nói gì. Sau khi Thầy Truyền Đạo nói xong, thầy như trút được cơn giận, bấy giờ Cụ Mục sư Tranh êm dịu nói: "Thầy nói cũng phải. Thôi thì nhờ ơn Chúa đừng buồn nữa về tiếp tục lo công việc Chúa giao. Tôi sẽ cầu nguyện cho thầy". Chuyện đáng nói là tôi không hề nghe Cụ Mục sư lãnh đạo quở trách hoặc làm khó dễ chức vụ của Thầy Truyền Đạo, cũng không nghe vị Mục sư bị tố đó có biết hay không. Cảm phục thay! Đáng học thay!

MỤC SƯ TRẦN VĂN ĐỆ

So về thân thể ốm yếu, tôi nghĩ rằng Mục sư Trần Văn Đệ ốm và yếu hơn các vi. Giáo sư khác. Mục sư Đệ là Giám Đốc Ban Phát thanh Tin Lành có cơ sở dưới chân Thần Học Viện, và Cụ được mời dạy một môn gọi là Kinh nghiệm Truyền Đạo.

Về môn Kinh nghiệm Truyền Đạo, chắc chắn cần có ít nhất hai điều kiện: Gương mẫu và kinh nghiệm, cả hai điều kiện đó Mục sư Trần Văn Đệ đều có.

Nói về ‘'gương mẫu' thì Mục sư Đệ luôn luôn đi dạy đúng giờ, ngồi thẳng lưng, hai tay để trên bàn phía trước, giọng nói khoan thai không nhanh lắm và cũng không chậm đến nỗi làm buồn ngủ. Khi dạy, Mục sư Đệ không đi tới đi lui, cũng không đứng không chuyển động cơ thể. Vào lớp Mục sư đứng cầu nguyện xong thì ngồi xuống; hết giờ đứng lên cầu nguyện xong thì ra về. Phương tiện di chuyển của Mục sư Đệ là chiếc Mobylette cũ.

Khác với các Giáo sư khác, Mục sư Đệ đến lớp bao giờ cũng mặc veston, thắt cà-vạt nút đôi ngay ngắn. Vì ông ốm nên chiếc áo veston nhìn có vẻ rộng so với thân thể của ông. Mục sư Đệ khuyên chúng tôi may áo veston với ve áo 7 phân vừa không lỗi thời vừa tránh không chạy theo mốt. Mục sư cũng khuyên chúng tôi nên dành riêng bộ quần áo nào mặc cho ngày thờ phượng Chúa, giữ sạch sẽ và nếu được nên ủi (là) thẳng nếp trước vào thứ bảy. Mặc giảng xong, nên giặt phơi sạch sẽ vì khí hậu ẩm ướt nếu để lại dễ gây ẩm mốc. Giày nên lau chùi sạch sẽ cẩn thận. Mục sư dạy chúng tôi từng chút một.

Về kinh nghiệm, thì Mục sư Đệ thật là người đầy kinh nghiệm vì đã trải qua nhiều tình huống vui buồn trong chức vụ

Mục sư Đệ kể lại rằng khi chưa đi hầu việc Chúa, ông sống trong gia đình là con một, nên tất cả vật dụng cá nhân đều được để riêng, từ cái khăn mặt, cái chén ăn cơm, đôi đũa. Đến khi ra hầu việc Chúa về Hội thánh tại Hà-nội. Một ngày, Mục sư đạp xe đi thăm viếng một tín đồ ở vùng quê. Đạp xe đến nơi, nắng làm mồ hôi nhuễ nhại, ông tín đồ đang đứng dưới ruộng nhìn thấy Mục sư Đệ ông ấy vui mừng chào: "Chào Thầy ạ!". Ông tín đồ lật đật phác nước dưới ruộng rửa vội gương mặt, tay chân, vừa vội bước lên vừa rút chiếc khăn đang quấn trên đầu xuống lau mặt, lau tay rồi vắt lên vai, miệng cứ xuýt xoa mừng thầy vào chơi. Khi  vào đến nhà, ngồi an vị xong, ông tín đồ với tay lên kệ nhỏ phía sau lưng lấy xuống bộ tách trà có lẽ lâu ngày không dùng đến bám đầy bụi, ông dùng chiếc khăn lúc rồi lau mặt lau tay, bây giờ dùng lau bộ ấm trà đầy bụi. Sau đó ông tín đồ bước ra dùng chiếc gáo phác phác nước ao trước nhà múc một ít nước cho vào ấm trà nấu lên pha trà mời thầy xơi nước ạ! Khi cầm tách trà đưa lên miệng uống, Mục sư Đệ nói ông thấy chung quanh miệng tách đóng một vòng cổ trầu đỏ mà người miền quê ở Bắc thường ăn trầu, dù vậy, vì cớ Chúa, ông vẫn điềm tĩnh uống. Vì đường xa, Mục sư Đệ phải ngủ lại một đêm, sáng hôm sau vừa thức dậy, ông tín đồ đã vội vàng lấy chậu múc nước nơi ao trước nhà mời thầy rửa mặt ạ! Mục sư Đệ nói ông nhớ chiều hôm qua, cả nhà đã tắm giặt, rửa rau cá cũng tại chiếc ao đó. Cảm ơn Chúa, vì cớ Chúa, Mục sư Đệ vẫn điềm tĩnh rửa mặt. Nghe đến đây, tự nhiên dòng nước mắt của tôi chảy xuống, tôi biết Chúa dùng kinh nghiệm của Mục sư Để dạy tôi trước khi bước chân vào chức vụ. Bắt đầu từ hôm ấy, tôi đã tập ăn những thức ăn từ nhỏ tới lớn tôi và gia đình chưa từng ăn đang được nhà bếp Thần Học Viện nấu hằng ngày từ món cá biển như cá ngừ kho nước mắm trong với ớt dường như còn chảy nhớt cá, canh cá đuối, cá mực để nguyên lớp da đen cùng với ruột kho thành một thứ nước màu đen dậy mùi tanh.

Mục sư Đệ thuật rằng khi ông hầu việc Chúa tại Hà-nội, tình hình đầy khó khăn, quân đội Pháp thường ruồng bố bắt người nào họ nghi ngờ, cũng có thể bắn chết không cần xét xử. Một hôm toán lính Pháp cầm súng đập cửa nhà thờ, Mục sư Đệ nói nếu ông không mở cửa thì họ sẽ bắn vào trong lúc đó khá đông tín đồ lẫn người ngoại đang trú tạm trong nhà thờ; nếu Mục sư mở cửa thì họ thấy đông người cũng sẽ bắn. Dù sao cũng phải mở cửa. Khi Mục sư Đệ mở cửa, sĩ quan Pháp và toán lính thấy số người đông trong nhà thờ đang sợ hãi, viên sĩ quan quát lớn trong khi mũi súng đang chỉa vào người Mục sư Đệ: "Chinois ou Annammite?" (Trung quốc hay người Việt Nam?). Mục sư biết nếu ông trả lời "Chinois" thì họ sẽ không bắn nhưng đó là lời nói dối; nếu trả lời "Annamite" thì tiếng súng sẽ nổ liền vào ông và sẽ có nhiều người trong nhà thờ chết. Ngay lúc thập tử nhất sinh, Chúa cho Mục sư Đệ bình tĩnh trả lời: Je suis Pasteur! (Tôi là Mục sư). Viên sĩ quan vội hạ súng xuống và hỏi Mục sư Đệ những người trong nhà thờ là tín đồ phải không? Mục sư Đệ trả lời: "Trong đó có tín đồ". Thế là lính Pháp rút đi (đây là câu chuyện do chính Mục sư Đệ thuật trong giờ dạy cho chúng tôi, không biết tại sao trong quyển Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam, Mục sư Lê Hoàng Phu lại viết là chuyện xảy ra cho Mục sư Lê Văn Thái?).

Mục sư Đệ nói rằng lúc bấy giờ trong Hội thánh tại Hà-nội có mấy cô thanh niên xin Mục sư dạy đàn phong cầm (Harmonium). Mục sư phải nhận lời, nhưng để tránh tiếng dị nghị không tốt, Mục sư Đệ đã dời chiếc đàn xuống nhà bếp dạy khi bà Mục sư Đệ đang nấu ăn bên cạnh.

Một lần khi Mục sư Đệ khuyên các sinh viên ra hầu việc Chúa đừng chở người nào kể cả con gái lớn của mình, trừ ra vợ mình. Mục sư dạy rằng nếu đang khi đi đường có tín đồ nữ nhờ chở, thì một là bảo người nữ tín đồ đó đứng chờ, mình sẽ đi kêu xe đến chở, hoặc cho người đó mượn xe, mình đi bộ. Một sinh viên năm tốt nghiệp của chúng tôi hỏi: "Thưa Giáo sư, cho mượn xe, rủi mất xe thì sao?" Mục sư Đệ không hề thay đổi sắc mặt trả lời: "Thầy ơi, thà mất xe hơn là mất hạnh phúc gia đình!" Thật là một vị Thầy đáng phục!

Tôi viết lại những kỷ niệm nầy để tri ân những vị Thầy đã dạy tôi hầu việc Chúa giữa người Việt Nam yêu dấu. Tất cả Giáo sư người Việt Nam đã về với Chúa, còn chăng chỉ còn Giáo sư Sutherland, Giáo sư Steinkemp. Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ra trường (1971-2011), tôi xin mượn lời trong Thánh ca số 233 (Thánh ca Tin Lành Việt Nam) gởi đến các Giáo sư thân yêu:

Đường nầy ngày xưa thánh dân không lùi,
Trên trời hiện nay sướng vui;
Đang nếm hương vị ái tâm tinh thần,
Sạch lệ, thơ thái, vui mừng.

Mục sư Trần Thái Sơn
Những ngày nhớ Thầy, nhớ Bạn, nhớ Trường xưa
Hè 2011, North Carolina (Hoa kỳ)

Tags

Tìm Kiếm

Tin Nhắn Mới Nhất

Thành Viên Đang Online

There are currently 0 users and 3 guests online.

Hosting by